• Thứ Ba, 11/04/2006 09:36 (GMT+7)

    Tham vọng “nội địa hóa” máy tính có nên?

    Trong chùm chuyên đề về CNpPC kỳ này, chúng tôi không thể không quay trở lại vấn đề SX máy tính VN (MTVN). Đây là mục tiêu mà hầu như các công ty MT có thương hiệu hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục trăn trở.

    Trong chùm chuyên đề về CNpPC kỳ này, chúng tôi không thể không quay trở lại vấn đề SX máy tính VN (MTVN). Đây là mục tiêu mà hầu như các công ty MT có thương hiệu hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục trăn trở.
    MTVN được "nội địa hóa" thế nào?

    Ông Nguyễn Kiên Cường, chủ tịch HĐQT công ty IDC VN, nhà SX MTVN MekongGreen, tâm sự: "Việc đưa ra SP xuất phát từ cái tâm muốn SX. Tuy nhiên, đến thời điểm này, rất buồn mà nói chúng tôi vẫn chỉ dừng ở lắp ráp". Cũng theo ông Cường thì DN MT nào cũng muốn nhận mình là nhà SX chứ không muốn gọi là lắp ráp.

     

    Không riêng gì MekongGreen, 100% các DN MTVN hiện nay chỉ dừng ở công đoạn lắp ráp. Tỷ lệ nội địa hóa được đưa ra thực chất chỉ là bài toán tính giá trị gia tăng dựa trên PM và các dịch vụ hỗ trợ. Tất cả linh kiện lắp ráp trong MT hầu hết được đặt hàng và nhập khẩu từ nước ngoài. Ông Nguyễn Hải Nam, phó giám đốc FPT Elead, thừa nhận: "Cũng như tất cả các thương hiệu MTVN khác, FPT Elead chủ yếu lắp ráp và đóng gói SP. Việc SX các linh kiện bên trong máy là không có." Ông Nguyễn Phước Hải, giám đốc CMS giải thích thêm: "Theo cách tính của VCCI, CMS hiện có tỷ lệ nội địa hoá 20%, dựa trên các giá trị gia tăng về đầu tư lắp ráp, kiểm chuẩn, PM và dịch vụ. Nguồn cung cấp linh kiện chủ yếu từ các nước quanh khu vực và từ nhà máy của các hãng hàng đầu thế giới".

    Mặc dù vậy, cũng phải ghi nhận nỗ lực của một số công ty MTVN trong việc đầu tư cho các dây chuyền lắp ráp chất lượng, xây dựng hệ thống quản lý SX theo tiêu chuẩn ISO như CMS, Elead... Không đơn thuần mua sẵn linh kiện về ráp, bằng cách này hoặc cách khác, nhiều công ty MTVN đã rất cố gắng đầu tư hàm lượng chất xám của mình vào SP. Một số công ty như MekongGreen, CMS... với mong muốn xây dựng thương hiệu cho riêng mình đã cầu kỳ đặt SX monitor (màn hình), vỏ MT (case) từ nước ngoài để có thể in được tên thương hiệu của mình trên mỗi SP. Ông Ngô Đức Sinh, giám đốc SingPC, cho biết: "Dù các linh kiện đều được SX ở nước ngoài nhưng toàn bộ mẫu mã, yêu cầu chất lượng kỹ thuật của các linh kiện chính như nguồn, main board... đều do SingPC đặt hàng nhà SX".

    Như vậy cũng có thể hiểu, mặc dù không trực tiếp SX nhưng các DN MTVN đã chủ động tìm tòi, sáng tạo và đầu tư công sức, chất xám để xây dựng thương hiệu MTVN.

    Tại sao chỉ dừng ở lắp ráp?

     

    Ông Cường khẳng định: "Tôi dám chắc đến giờ còn rất nhiều người tâm niệm với vấn đề phải SX". Tuy nhiên, vì sao các công ty MTVN vẫn chỉ dừng ở lắp ráp? Theo ông Cường thì có rất nhiều lí do mà ai cũng biết như: chính sách nhà nước chưa tập trung (cả vấn đề nguồn vốn và người tài). "DN ai cũng muốn SX nhưng vấn đề là thị trường nhỏ nên khó có thể đưa ra mức giá cạnh tranh. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến chuyện DN thà lắp ráp thuê để bán còn hơn là tự SX."

    Ở góc độ khác, ông Nam nhận định: "Thực tế là công nghệ phần cứng của người VN, tôi nhấn mạnh đến cụm từ "của người VN", hầu như chưa có gì. Tôi cho rằng nhà nước rất ủng hộ CNpPC cho MT. Tuy nhiên, vì chưa có lộ trình rõ ràng cho ngành này nên các cơ chế hỗ trợ và ưu đãi chưa được cụ thể hóa".

    Trở lại với thực tế SX linh kiện MT trong nước, cho đến thời điểm này, VN đã có một số linh kiện được SX như màn hình, vỏ MT. Tuy nhiên, theo như cả ba "đại gia" MTVN là CMS, MekongGreen và FPT thì họ đều không đặt mua cả 2 loại linh kiện này từ các nhà SX trong nước. Được biết, CMS từng chung thủy với một loại màn hình sản xuất trong nước, nhưng đến nay đã chuyển sang đặt hàng từ nước ngoài vì chất lượng và giá cả của màn hình này không còn phù hợp. Trường hợp tương tự với SingPC: "Trước đây chúng tôi từng đặt hàng một doanh nghiệp SX vỏ MT nhưng không đạt yêu cầu do trình độ công nghệ cũng như nguyên liệu", ông Sinh cho biết.

    Như vậy vấn đề của các DN MTVN không phải là thiếu nhà SX linh kiện trong nước nên không thể tăng tỷ lệ nội địa hóa trong mỗi chiếc MT, mà ở chỗ, linh kiện được SX trong nước chưa đảm bảo yếu tố cạnh tranh. Trong khi với mỗi đơn vị kinh doanh, chất lượng SP và giá của nguồn cung cấp là vấn đề cần được cân nhắc.

    Tham vọng nội địa hóa MT, có nên?

    Mặc dù các DN MTVN rất quan tâm đến sự phát triển của CNpPC, nhưng quan điểm về việc đầu tư SX linh kiện MT cũng như bài toán tăng tỷ lệ nội địa hóa trong MTVN lại rất trái ngược.

    Ông Sinh nói: "VN phù hợp với SX phần cứng MT. Lao động VN trình độ thấp và dư thừa nhiều. Hơn thế nữa, người VN sức vóc yếu nhưng có thể làm những việc khéo léo, tỉ mỉ. Một kỹ sư giỏi có thể tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động".

    Theo quan điểm của SingPC thì "SX bắt đầu từ ý tưởng và khả năng thiết kế. Nếu trước mắt chúng ta chưa có nhà máy vẫn có thể thuê SX. Thực ra, ngành CNp SX linh kiện không đòi hỏi chi phí SX quá lớn. Ở Đài Loan, có DN chỉ SX mắt điện tử hoặc chuyên SX thanh ram, cáp mạng. VN có thể bắt đầu từ những thứ đơn giản như tấm rê chuột, bàn phím".

    Ông Hải lại cho rằng SX linh kiện là bài toán không khả thi, cả thế giới hiện cũng chỉ còn một vài nước tập trung cho SX. "Theo tôi, với công ty VN, nâng cao chất lượng SP và uy tín dịch vụ mới là yếu tố quyết định thành công". Ông Hải phân tích: "Phát triển CNpPC không nhất thiết phải đồng hành với nội địa hóa. CNpPC phát triển có nghĩa là có nhiều thương hiệu MTVN mạnh chiếm lĩnh được thị trường nội địa. Không nên đặt vấn đề quyết tâm SX vài linh kiện nào đó của MT. Tỷ lệ "nội địa hóa" của một thương hiệu MT Mỹ bán ở VN có thể là 0% (do SX toàn bộ ở nước ngoài) nhưng Mỹ vẫn là quốc gia có nền CNp MT phát triển nhất bởi ở đó có tên tuổi các hãng MT hàng đầu thế giới".

    Theo thống kê của công ty GFK năm 2005, cả nước tiêu thụ khoảng 450.000 MT. Với bài toán thị trường cho SX thì đây là một con số quá nhỏ. Tuy nhiên, nếu căn cứ trên dân số hơn 80 triệu người và tỷ lệ sở hữu MT trên đầu người còn thấp thì VN lại là một thị trường tiềm năng.

    Trở lại với câu hỏi có nên nuôi tham vọng "nội địa hóa MT"? Thực tế, "nội địa hóa" không là bài toán với riêng DN MTVN nào mà là vấn đề của Chính Phủ. Muốn thúc đẩy phát triển CNp SX linh kiện để tăng tỷ lệ nội địa hóa cần một bài toán tổng thể và chính sách rõ ràng. Cũng như ông Cường nói "Doanh nghiệp nào cũng muốn SX được chi tiết nào đó ở VN nhưng vấn đề là chưa có cơ chế hỗ trợ cụ thể của Chính Phủ”. Ông Vũ Quang Vinh, giám đốc công ty Vĩnh Trinh cho biết: "Sở dĩ Trung Quốc có thể phát triển được CNp SX linh kiện vì họ làm tốt vấn đề xã hội hóa. Ở đó, bạn có thể gặp cả một làng với những người nông dân ngày đi làm nông nghiệp, tối về quây quần cuốn dây cáp MT". Bên cạnh đó, yếu tố thị trường cũng là điều cốt tử. Chúng ta có thể làm được, có thể SX, nhưng nếu thiếu đầu ra sẽ thất bại".

     

    Ông Nguyễn Phước Hải, giám đốc CMS

    Bài toán xuất khẩu MT của VN mang tính "vui vẻ” hơn là những chiến lược kinh doanh nghiêm túc. Có chăng là bán theo đường tiểu ngạch qua Lào và Campuchia với số lượng nhỏ. MT CMS cũng đã từng xuất ngoại thông qua nhiều con đường khác nhau, tuy nhiên, chúng tôi không gọi đó là xuất khẩu hay chiến lược của DN.

    Ông Vũ Quang Vinh, giám đốc công ty Vĩnh Trinh, thương hiệu MT SuperPower

     

    Cả năm 2005, số lượng MT bán ra của cả VN đạt dưới 500.000 chiếc, trong khi trung bình một nhà máy SX vỏ máy ở Trung Quốc, sản lượng mỗi tháng đạt tới hơn 300.000 chiếc. Vấn đề là quy mô thị trường MT của VN còn nhỏ. Chỉ nhìn vào thị trường trong nước thì các nhà đầu tư không thể phát triển SX. Muốn phát triển SX trong nước, nhà nước cần tổ chức các cuộc xúc tiến thương mại, tìm đầu ra cho DN trong nước, mở thị trường mới trước khi có chiến lược mở nhà máy SX linh kiện".

    Ông Ngô Đức Sinh, giám đốc SingPC

     

    Tôi nhấn mạnh rằng CNpPC sẽ tạo thêm công ăn việc làm. Hơn nữa, đây là ngành CNp sạch, không tốn nhiều diện tích, tiêu thụ trên toàn thế giới. Để phát triển SX, trước mắt, nên có chính sách thưởng cho DN lôi kéo được đầu tư vào VN. Tạo ra nguồn nhân lực cho thiết kế SP (VD: Xây dựng chợ ý tưởng). Chúng ta nên khuyếch trương thành công của Canon, Intel, Samsung, LG. Xây dựng ngành CNp địa phương theo hướng CNp phụ trợ rồi hướng đến hoàn thiện.

    Ông Nguyễn Hải Nam, phó giám đốc FPT Elead

     

    Chúng tôi thực sự quan tâm đến việc phát triển CN phần cứng ở VN. Tuy nhiên, chúng ta còn cả một con đường dài phía trước mà để vượt qua cần sự nỗ lực của nhiều phía (nhà SX, Chính Phủ)... Hãy xem ngành SX xe máy, sau hàng chục năm phát triển chúng ta chỉ nội địa hóa được những chi tiết đơn giản, còn những phần quan trọng nhất thì vẫn phải nhập khẩu.

    Ông Nguyễn Kiên Cường, chủ tịch HĐQT IDC

     

    SX là nền tảng của phát triển. Theo tôi, các công ty MTVN khác cũng như chúng tôi, muốn SX cái gì đó của chính người Việt. Tuy nhiên, phát triển SX cần sự hợp lực của các DN, bên cạnh đó cần sự hỗ trợ đặc biệt của Chính Phủ về tài chính, chính sách. Như sự kiện Lenovo mua bộ phận SX MT để bàn của IBM, ai cũng biết đó là sự hỗ trợ đặc biệt của Chính Phủ Trung Quốc.

    Đặt hiệu quả lên hàng đầu

    Ông Bùi Quang Độ chủ tịch Hiệp Hội DN Điện Tử VN

     

    Có đến 80% DN SX phần cứng MT nằm trong hiệp hội, tiêu biểu là CMS, FPT Elead, VTB... Người ta hay nói CNpPC VN chỉ là lắp ráp, nhưng vấn đề quan trọng không phải là SX linh kiện hay lắp ráp. Quan trọng là khâu lắp ráp ấy có bảo đảm chất lượng hay không. Ngay cả nước lớn như Trung Quốc cũng chỉ SX với một tỉ lệ nào đấy thôi. Đừng quan niệm lắp ráp là không có kỹ thuật, vì lắp ráp phải theo nhiều cấu hình khác nhau và khá phức tạp, phải có một đội ngũ thành thạo mới làm tốt. Không chỉ riêng VN, rất nhiều nước cũng đang lắp ráp. Các nước lắp ráp mà được trang bị kỹ thuật thì chất lượng cũng rất tốt.

    Muốn SX linh phụ kiện thì phải với số lượng lớn mới bảo đảm đầu ra và giá thành, mà như thế rất khó. Trên thế giới hiện nay, việc SX linh kiện cũng được phân công, chuyên môn hoá rồi. Ví dụ con chip, bo mạch chủ, hay ổ cứng... chỉ do một vài hãng SX. Thế giới người ta làm tốt hơn, rẻ hơn thì không việc gì ta cứ phải làm. Vấn đề đối với kinh doanh phải là hiệu quả. Bài toán hiệu quả đặt lên hàng đầu. Cho nên cần tính xem nên SX cái gì và SX thế nào?

    Cách đây 5-10 năm, thị trường MT trong nước phần lớn do các hãng nước ngoài chiếm lĩnh, nhưng nay các nhãn hiệu trong nước đã dần dần chiếm thị phần. Nhiều SP đã có thể cạnh tranh cả về chất lượng lẫn giá cả so với các hãng tên tuổi. Và tôi nghĩ đấy là xu thế của CNpPC VN.

    Trong cơ chế thị trường thì phải phụ thuộc thị trường. Cái gì bán được thì SX. Do đó, các nhà SX cần có năng lực cạnh tranh và nắm vững nhu cầu của thị trường. 

    ID: B0604_32