• Thứ Ba, 08/08/2006 09:09 (GMT+7)

    CNTT doanh nghiệp: Cần thay đổi nhận thức

    Các cuộc khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp (DN) cho thấy không DN nào phủ nhận vai trò của CNTT, nhưng nhận thức về ích lợi của ứng dụng CNTT đến mức độ nào, vai trò của CNTT trong chu trình sản xuất kinh doanh đến đâu thì hầu hết các DN còn rất mơ hồ.

    Các cuộc khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp (DN) cho thấy không DN nào phủ nhận vai trò của CNTT, nhưng nhận thức về ích lợi của ứng dụng CNTT đến mức độ nào, vai trò của CNTT trong chu trình sản xuất kinh doanh đến đâu thì hầu hết các DN còn rất mơ hồ.

    Đầu tư chưa hợp lý

    Phần lớn DN vẫn chưa thực sự xem CNTT-TT là tác nhân chủ chốt trong hoạt động kinh doanh. Theo kết quả khảo sát của "Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam" (VNCI), hầu hết DN Việt Nam vẫn đang sử dụng phương thức sản xuất thủ công, nếu có ứng dụng thì cũng chỉ dừng lại ở Word, Excel; một số rất ít DN sử dụng phần mềm (PM) kế toán, quản lý nhân sự. Các giải pháp quản trị DN chưa thấy sử dụng, mặc dù nhiều DN lẽ ra cần phải áp dụng như một số công ty xuất khẩu kiêm thu mua, chế biến.

    Một ví dụ điển hình: Một nhà đầu tư khi xây dựng khách sạn chỉ quan tâm đến phòng ốc, trang thiết bị, nội thất thật hiện đại nhưng lại không đầu tư vào quản lý, trong đó cần ứng dụng CNTT. CNTT vì thế không được đưa vào kế hoạch như là một hạng mục đầu tư. Trường hợp khác: Một nữ DN ở Đà Nẵng có hệ thống 3 nhà hàng đã rất thích thú khi biết thông tin về một PM có thể hỗ trợ kiểm soát hoạt động của cả 3 nhà hàng ngay tại nhà và bất kỳ lúc nào. Chị cho biết sẵn sàng trả... 10 triệu đồng mua PM này. Nhưng thực tế PM này giá thấp nhất trên thị trường đã là 20-30 triệu đồng.

    Những trường hợp trên cho thấy nhiều DN chỉ xem việc đầu tư cho CNTT như là khoản đầu tư thêm chứ chưa đưa vào kế hoạch. DN chưa xem đây là khoản đầu tư sinh lời nên thường ít nghĩ đến việc mua giải pháp trọn gói mà tìm một DN làm PM và yêu cầu viết sản phẩm "may đo" theo nhu cầu. DN nghĩ rằng đầu tư càng rẻ, càng ít tiền càng tốt vì đó chỉ là đầu tư thêm. Thực tế, nhiều chủ DN không hề biết rằng giải pháp PM có thể giải quyết được nhiều vấn đề hơn những gì họ nghĩ tới.

     

     

     

     

    Có ý kiến cho rằng Nhà Nước nên có chính sách khuyến khích DN ứng dụng CNTT, chẳng hạn giảm thuế hay cho vay vốn để đầu tư cho CNTT... như một số quốc gia đang làm. Nhưng xét về lâu dài, đây không phải là một biện pháp khả thi bởi không thể triển khai trên diện rộng do ngân sách Nhà Nước có hạn. Chính sách này nếu triển khai không chặt sẽ không có tác động tích cực. Nhất là khi VN chuẩn bị gia nhập WTO, đối tác nước ngoài yêu cầu hạn chế tối đa trợ cấp của CP đối với DN. Vấn đề mấu chốt vẫn là giúp DN nâng cao nhận thức. Nếu thấy lợi họ sẽ đầu tư mà không cần một sự hỗ trợ nào về mặt tài chính.

     

     

     

    Trở lại với trường hợp của DN ở Đà Nẵng nói trên, nếu chủ DN trả lương cho 1 nhân viên quản lý tại 1 nhà hàng 5 triệu/tháng, tổng cộng sẽ mất 15 triệu đồng/tháng chi phí quản lý cho 3 nhà hàng. Tuy nhiên nếu DN đó thuê 1 nhân viên quản lý và đầu tư khoảng 30 triệu đồng vào PM, chỉ sau 3 tháng là đã khấu hao hết giá trị PM. Từ tháng thứ tư trở đi, DN có thể tiết kiệm 10 triệu đồng/ tháng. Đó là chưa kể những lợi ích vô hình khó định lượng như tiết kiệm thời gian, tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý.

    Trong hàng loạt các nguyên nhân được đưa ra như: thiếu vốn, tuyên truyền kém, hạ tầng CNTT còn nghèo nàn, dịch vụ CNTT kém, tâm lý tự thỏa mãn, thiếu chính sách khuyến khích, VNCI chỉ ra rằng yếu tố nhận thức vẫn là quan trọng nhất. DN kinh doanh vì lợi nhuận. Nên nếu họ xem đầu tư cho CNTT là một khoản đầu tư sinh lời, có khấu hao thì sẽ nghĩ khác. Còn hiện tại, DN mới chỉ hiểu được ích lợi của ứng dụng CNT-TT nhưng chưa nhìn nhận đó là chi phí bắt buộc nên họ cố gắng giảm càng nhiều càng tốt. Điều này đã dẫn DN đến sự đầu tư nửa vời, đôi khi còn gây phiền toái thêm cho nhân viên do hệ thống không tương thích.
    Sản phẩm, dịch vụ, tư vấn kém

    Hiệu quả ứng dụng CNTT còn bị chi phối bởi sản phẩm PM thiếu tính ổn định; các dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng của các nhà cung cấp PM còn kém. Đây là điểm yếu của các nhà cung cấp VN so với nhà cung cấp nước ngoài. Thông thường, khi hạch toán chi phí, các công ty PM trong nước thường chỉ cho biết chi phí phát triển và triển khai. Còn phần sau bán hàng họ để riêng và ít quan tâm. DN ứng dụng sau khi mua PM về sử dụng, khi gặp sự cố và không được hỗ trợ ngay hoặc hỗ trợ không tới nơi tới chốn mới biết rằng cần có thêm khoản chi phí bảo trì. Nhiều lần như vậy DN có ấn tượng không tốt, cho rằng ứng dụng CNTT là "buộc thêm việc vào người". Hiện nay, chỉ với các giải pháp ERP, nhà cung cấp mới đưa ra chi phí tư vấn và bảo trì hàng năm.

    Tư vấn đầu tư CNTT hiện nay cũng rất cần được lưu ý. Bởi tuy ai cũng biết ứng dụng CNTT có lợi, nhưng lợi như thế nào thì lại rất khó để định lượng. Nếu không giúp DN hình dung một cách rõ ràng, DN sẽ rơi vào tình trạng đầu tư thừa, từ đó hiệu quả cũng không cao. Công tác tư vấn phải giúp DN nhận thấy sau khi ứng dụng, họ sẽ tiết giảm chi phí nhân công bao nhiêu, quy trình giải quyết công việc được tinh giản ra sao, việc quản lý được sát sao và kịp thời như thế nào, chi phí giao dịch trong nội bộ và ra ngoài được tiết kiệm thế nào? Tất nhiên, việc tiết kiệm thời gian và tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động rất khó để lượng hóa nhưng cần chỉ cho DN nhận thấy. Những điều này phần nào cho biết giá trị của PM (định giá PM) và số tiền mà DN cần đầu tư.

    Đầu tư CNTT trong DN hiện nay vẫn nặng về phần cứng (máy tính, máy in...) nhưng thiếu đầu tư cho PM. Trong khi đó, hiệu quả mang lại thực sự cho DN lại nằm ở PM, giải pháp của hệ thống CNTT. Sự đầu tư bất hợp lý dẫn đến hiệu quả thấp chính là yếu tố làm DN chưa "mặn mà" với CNTT. Tư vấn giúp DN nhìn thấy ứng dụng nào có thể sử dụng để giúp tăng năng suất, tăng hiệu quả là điều các nhà cung cấp giải pháp cần thực hiện

    Giải pháp?

    Trong vài năm trở lại đây, các tổ chức, ban ngành đã thực hiện nhiều chương trình dự án nhằm hỗ trợ DN nâng cao nhận thức, đẩy mạnh ứng dụng CNTT.

    Một trong những giải pháp đã thực hiện là đề án "Hỗ trợ DN ứng dụng CNTT phục vụ hội nhập và phát triển giai đoạn 2005 – 2010" do VCCI chủ trì nhằm hỗ trợ DN VN, chủ yếu là DN vừa và nhỏ, nâng cao nhận thức về CNTT; đào tạo nguồn nhân lực; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế; khuyến khích, thúc đẩy DN ứng dụng CNTT để tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. VCCI phối hợp với các cơ quan chức năng khảo sát, nghiên cứu thực trạng, nhu cầu ứng dụng CNTT trong DN và kiến nghị Chính Phủ ban hành chính sách, chế độ, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển ứng dụng CNTT. Đề án triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, sản xuất, kinh doanh trong DN; hỗ trợ, tư vấn DN lựa chọn giải pháp, triển khai ứng dụng phù hợp để quảng bá và phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng. Ngoài ra, một trung tâm hỗ trợ DN từ xa cũng được xây dựng để cung cấp thông tin kinh tế, tạo diễn đàn cho DN trao đổi kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, kết nối DN VN với thị trường quốc tế... Đề án mới "chạy" được 1 năm (7/2005 - 7/2006), tác dụng mang lại vẫn còn ở phía trước, nhưng trước mắt đây là bằng chứng thể hiện sự quan tâm đến ứng dụng CNTT trong DN của Chính Phủ và VCCI.

    Sở Thương Mại TP.HCM trong năm 2005 cũng đã triển khai một số chương trình hoạt động phát triển TMĐT trên địa bàn thành phố nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT: Khảo sát điều tra thực trạng và nhu cầu sử dụng TMĐT, hỗ trợ DN giới thiệu và quảng bá công ty, hỗ trợ DN nghiên cứu phân tích thị trường, xây dựng tài liệu giảng dạy và cẩm nang hướng dẫn DN thực hiện TMĐT. Năm 2005, đã có trên 250 DN gửi thông tin và hình ảnh để được giới thiệu trên trang web của Sở (www.trade.hochiminhcity.gov.vn). Hiện cơ sở dữ liệu của Sở đang lưu trữ thông tin của gần 1.900 DN và trên 2.500 văn phòng đại diện nước ngoài. Tiếp tục chương trình phát triển TMĐT hỗ trợ DN, trong năm 2006, Sở Thương Mại triển khai các hoạt động: tổ chức bồi dưỡng kiến thức TMĐT cho 1000 DN; hỗ trợ DN giới thiệu sản phẩm, website và đăng thông tin giao thương miễn phí trên mạng của Sở; nghiên cứu phương thức xây dựng và phát hành chuyên san hoặc bản tin TMĐT và nghiên cứu thị trường; tổ chức hoạt động giải trí trên website...

    Áp lực cạnh tranh khi VN gia nhập WTO đã cận kề, tuy nhiên, đa số DN chưa thực sự sẵn sàng cho ứng dụng CNTT. Đối với một số ngành, khi gia nhập WTO, DN muốn xuất hàng hóa sang châu Âu, Mỹ, Nhật cần phải cung cấp đầy đủ thông tin về xuất xứ hàng hóa. Muốn vậy, phải hình thành hệ thống thông tin từ nơi cung cấp nguyên liệu đến đơn vị thu mua, đơn vị chế biến, đóng gói và xuất khẩu. Những yêu cầu như thế cần có sự hỗ trợ của CNTT-TT. Nếu không đầu tư cho công nghệ từ bây giờ, có thể DN sẽ bị bỏ lỡ nhiều cơ hội làm ăn.

    Mơ hồ trong hiểu biết TMĐT

    Trong một khảo sát khác trên 375 DN (có đăng ký tại Sở Thương Mại và là hội viên của VCCI chi nhánh TP.HCM) được Sở Thương Mại TP.HCM thực hiện cuối năm 2005, có 74% DN đã sử dụng email; 88% sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, DN cho biết họ gặp khó khăn trong ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT) vào hoạt động xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về kỹ thuật trình bày thông tin sản phẩm, biên tập nội dung, tổ chức điều hành website và quản lý hệ thống hậu tuyến như máy chủ, băng thông...

    40% DN nhỏ VN chưa sử dụng máy tính

    Đó là kết quả thu được từ nghiên cứu của AMI- Partners về thực trạng và nhu cầu của các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam.

    Theo đánh giá của Access Markets International (AIM) Partners thì các DN nhỏ Việt Nam đang trong giai đoạn đầu ứng dụng CNTT. Chỉ 11% DN có sử dụng máy tính trong kinh doanh. Hơn 40% trong số các DN chưa sử dụng máy tính cho biết đang có kế hoạch mua máy tính trong vòng 12 tháng tới. Con số này tương đương với 263,3 triệu USD mà các DN nhỏ này sẽ chi để đầu tư cho cơ sở hạ tầng CNTT của mình.

    Theo AMI-Partners, các DN nhỏ trên thế giới thường ứng dụng CNTT theo 3 giai đoạn: từ xây dựng hạ tầng cơ sở; tới triển khai các giải pháp kết nối và sau đó ứng dụng các giải pháp CNTT tiên tiến để mở rộng phạm vi kinh doanh. Trong giai đoạn đầu, các DN nhỏ sẽ chú trọng vào việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo hướng trang bị máy tính, máy in và các bộ sản phẩm nâng cao hiệu suất kinh doanh.

    Ông Raju Chellem, phó chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương của AMI – Parners cho rằng: "Trong thời gian tới, các DN nhỏ Việt Nam sẽ có xu hướng thay thế phần cứng đã lỗi thời bằng những phần cứng mới đồng thời trang bị thêm cơ sở hạ tầng phần cứng. Do vậy, gần 3/4 trong số những máy tính xuất xưởng theo kế hoạch từ các công ty máy tính là nhằm phục vụ nhu cầu trang bị thêm của DN, chỉ 18% là để thay thế các máy tính đã lỗi thời".

    Theo ông Raju Chellem, kết quả khảo sát trên được thực hiện thông qua hình thức phỏng vấn và gửi phiếu câu hỏi tới các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam. Được biết bảng câu hỏi của AMI gồm hơn 180 câu hỏi bao hàm một phạm vi rộng các vấn đề liên quan tới ngân sách, hành vi mua sắm, những người ảnh hưởng tới việc ra quyết định, các tham vấn tại hệ thống đại lý...

    Ông Trần Du Lịch, viện trưởng viện Kinh Tế TP.HCM: Vốn đầu tư không phải là trở ngại lớn!

    Một vấn đề không còn bàn cãi là lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong quản lý kinh tế, đặc biệt là quản trị DN. Thực tế cho thấy, những DN khai thác công cụ CNTT hiệu quả đều có năng suất cao. Tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, DN có quy mô tương đối vừa và lớn, đã thành công nhất định trên thương trường đều ứng dụng CNTT rất mạnh. Với những DN này, việc trang bị phần mềm quản lý tài chính kế toán được thực hiện rất sớm, từ đó giúp họ quản lý và xem xét tính hình tài chính dễ dàng, minh bạch, xử lý nhiều vấn đề mà trước đây bộ phận tài vụ làm rất khó khăn. Hiện nay, phần lớn các DN thuộc diện khai thuế DN (khai thuế, quản lý thuế theo luật) đều ứng dụng phần mềm này. Còn những DN thực hiện theo quy trình khoán thuế thì có áp dụng nhưng chưa phổ biến, chủ yếu áp dụng như nhật ký để ghi.

    Khâu thiết kế mẫu mã cũng được những DN quy mô lớn lưu tâm, chẳng hạn Bitis. Một mảng khác là ứng dụng vào công đoạn phân phối bán hàng, tổ chức tiếp thị, tổ chức thị trường. Phần lớn các đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng khá quan tâm đến ứng dụng này.

    Tuy nhiên, còn nhiều lĩnh vực chưa được DN chú ý ứng dụng CNTT như: Nối kết thông tin giữa các bộ phận trong DN để chia sẻ thông tin với nhau; dùng CNTT giám sát quá trình hoạt động. Ví dụ, chương trình ứng dụng giúp giám đốc kiểm soát các bộ phận, các quy trình trên một tổng thể cũng chưa phổ biến. Cao hơn là ứng dụng CNTT trong toàn bộ DN (giải pháp hoạch định nguồn lực ERP) thì chỉ một số DN lớn triển khai.

       

    "Việc ứng dụng CNTT tùy thuộc vào tính chính quy hóa của DN, khi quản lý ngày càng chính quy hóa thì ứng dụng CNTT ngày càng hiệu quả. Nếu quản lý DN theo kiểu "du kích" thì không có đất cho ứng dụng CNTT. Với DN , đầu tư CNTT theo thời trang, đua đòi chỉ lãng phí. Vì CNTT là công cụ để phục vụ cho nội dung quản lý chứ không thể thay việc quản lý. Nó không phải là "đũa thần" để thay con người quản lý mà chỉ là công cụ hỗ trợ" - Ông Trần Du Lịch

     

    Tại sao DN chưa ứng dụng CNTT? Theo tôi có hai lý do: Một là do trình độ sử dụng CNTT của nhân viên trong DN chưa đồng đều, bộ phận này dùng CNTT, bộ phận kia lại làm thủ công; hai là do nhận thức của người quản lý cao nhất hoặc chủ DN. Bản thân họ không sử dụng CNTT nên không thấy được sự "kỳ diệu" của CNTT. Qua nghiên cứu, tôi cho rằng không phải DN không có tiền. Thậm chí có những DN sử dụng những thiết bị CNTT rất hiện đại, mang tính trang trí, rất lãng phí mà không có hiệu quả. Mặt khác, thời gian khấu hao vô hình thiết bị CNTT quá nhanh trong khi ứng dụng chưa thấy mang lại hiệu quả nên người ta cảm thấy đầu tư không hiệu quả.

    Mặt khác, các công ty sản xuất phần mềm ứng dụng CNTT cần có trách nhiệm tư vấn DN sửa đổi nội dung, phương thức quản lý, tức là phải gắn sản xuất phần mềm với tư vấn quản trị DN. DN nhận thức được sự cần thiết tái cấu trúc, tổ chức lại, chính quy hóa thì CNTT mới đi theo.

    Hiện nay, Viện Kinh Tế chỉ làm những vấn đề vĩ mô, cụ thể là hỗ trợ DN tái cấu trúc dạng chiến lược, chủ yếu là các công ty nhà nước, công ty lớn. Hiện Viện đang tập trung xây dựng Trung Tâm Thông Tin Kinh Tế Thành Phố, sẽ hoạt động trên cơ sở ứng dụng CNTT. DN nào sử dụng CNTT tốt sẽ được hưởng lợi ích từ trung tâm này.

    Kết quả khảo sát hơn 2000 DN tại 5 thành phố lớn của VCCI năm 2005

    Tỷ trọng đầu tư phần cứng chiếm đến 60% tổng giá trị đầu tư cho CNTT, trong khi đó, đầu tư cho phầm mềm chỉ 11%.

    Tỷ lệ ứng dụng phần mềm thấp: 79,2% sử dụng phần mềm chuyên dùng; 19,7% sử dụng các phần mềm tin học văn phòng; 1,1% ứng dụng giải pháp ERP.

    Tỷ lệ kết nối Internet: 9% DN không kết nối; 54,9% sử dụng ADSL; 33,9% sử dụng dial-up; 1,7% thuê đường truyền.

    Nhận thức về sử dụng dịch vụ CNTT: chỉ 31,3% sử dụng các dịch vụ chuyên nghiệp; 21,4% có đội ngũ nội bộ; 37,4% sử dụng dịch vụ của các cửa hàng máy tính

    Về thương mại điện tử

    Nhận thức hạn chế: 97,3% nói KHÔNG

    Tỷ lệ kết nối Internet cao (91%) nhưng tỷ lệ có website thấp (71,1%)

    Kỹ năng ứng dụng CNTT thấp, chi tiêu cho đào tạo kỹ năng CNTT quá thấp (4,8%) so với đầu tư phần cứng (60%)

    Ông Hồ Quang Khánh, chuyên gia tư vấn Mekong Capital: Cần nhìn trước giai đoạn tiếp theo

    DN tư nhân trong nước hiện có thể chia thành hai nhóm. Nhóm 1 là những DN trẻ, được thành lập trong ba năm trở lại đây, do những người đã từng làm việc ở các công ty nước ngoài làm chủ. Các chủ DN này phần lớn biết ứng dụng kinh nghiệm, chính sách quản lý tiên tiến vào môi trường DN mình.

    Nhóm còn lại là các cơ sở kinh doanh theo dạng gia đình, theo sự phát triển của thị trường nâng cấp thành công ty. Phương thức quản lý của những DN này thường không theo một quy trình chuẩn về kế hoạch, quản lý, chính sách nhân sự, lương bổng... Việc ứng dụng CNTT vào nhóm DN này rất khó khăn do DN đang thành công nhờ trước đây chọn đúng ngành nghề đặc thù, đáp ứng đúng nhu cầu người tiêu dùng hoặc chưa chịu áp lực khốc liệt của cạnh tranh thị trường do kinh doanh theo quan hệ làm ăn sẵn có, sản phẩm và thị trường ổn định, bộ máy công ty đơn giản... Tuy nhiên, yếu tố kinh doanh ổn định, quản lý tốt chưa phải là quyết định của sự thành công trong giai đoạn tiếp theo. Trong tương lai, với tốc độ cạnh tranh khốc liệt, những người chủ DN này phải nhìn nhận đúng về lợi ích của CNTT: Một công cụ hỗ trợ đắc lực trong hoạt động của DN. Bên cạnh đó, những DN này cũng cần thay đổi quy trình quản lý, con người để phù hợp với việc khai thác hết hiệu quả khi ứng dụng CNTT. Không cần đầu tư một hệ thống quá "xịn". Vấn đề là lựa chọn hệ thống phù hợp với nhu cầu DN.

    Ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc công ty Tư Vấn PA: Chính phủ điện tử và ứng dụng trong doanh nghiệp
    Quan hệ tương hỗ


    Vì nếu như công dân và DN được Nhà Nước phục vụ hiệu quả, họ sẽ đạt được hiệu quả cao hơn về mặt kinh doanh hay văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, so với khu vực tư nhân, khu vực nhà nước thường đi chậm hơn trong ứng dụng CNTT từ 5-7 năm. Vì bộ máy Nhà Nước cồng kềnh. Chính khu vực DN năng động ứng dụng CNTT-TT đã thúc đẩy sự phát triển của chính phủ điện tử.

    Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những biến chuyển đáng kể về ứng dụng CNTT trong khối nhà nước. Chẳng hạn, dự án "Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc" (TABMIS) của Bộ Tài Chính, dự án ứng dụng ERP của Điện Lực Việt Nam (EVN), dự án Phát Triển CNTT-TT Việt Nam trị giá 100 triệu USD với sự tham gia của Bộ BCVT, Tổng Cục Thống Kê, UBND Hà Nội, UBND Đà Nẵng và UBND TP.HCM. Tổng Cục Hải Quan cũng đang có những ứng dụng đáng chú ý. Gần đây, vào cuối tháng 6/2006, Ngân Hàng Thế Giới (WB) đã duyệt cho Việt Nam vay 100 triệu USD để xóa đói giảm nghèo, trong đó có nội dung "hiện đại hóa" Ngân Hàng Trung Ương Việt Nam".

    Để thành công trong ứng dụng CNTT-TT, xây dựng thành công CPĐT, Việt Nam không chỉ cần ý chí mà còn cần rất nhiều nguồn lực, nhất là tài chính và con người. Và hãy nhớ rằng, tất cả những đồng vốn Việt Nam vay được đều phải trả lại!

    Intel hỗ trợ SMB

    Hoạt động hỗ trợ này thông qua chương trình Intel SMB Essentials (chương trình Thiết thực dành cho DN vừa và nhỏ) do Intel chủ trì tại nhiều quốc gia, bắt đầu từ 2005. Gần 30 nhà cung cấp giải pháp phần mềm dành cho SMB trong lĩnh vực kế toán DN, quản lý hàng tồn kho, hệ thống bán lẻ, bảo mật – sao lưu và phục hồi dữ liệu, quản lý văn bản, quản lý quan hệ khách hàng và phân tích kinh doanh; 5 ngân hàng và 6 nhà cung cấp dịch vụ trong nước đã cam kết tham gia chương trình trên toàn khu vực châu Á Thái Bình Dương. Thời gian tới, Intel sẽ tiếp tục hợp tác với các đối tác khác tạo ra những giá trị kinh doanh và công nghệ lớn hơn cho SMB tại khu vực và Việt Nam.

    Thực hiện: Đại Nguyên - Thu Nga - Phi Quân - Thu Hiền

    ID: B0607_30