• Thứ Sáu, 10/11/2006 06:51 (GMT+7)

    Triển khai

    VẤN ĐỀ 1: TÀI CHÍNH - SẼ RÀ SOÁT LẠI NGÂN SÁCH

    Ngày 30/7/2001, Bộ GDĐT đã ban hành chỉ thị 29/2001/CT-BGDĐT về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong ngành giáo dục. Đây là bước đi sớm của Bộ GDĐT so với các bộ ngành khác trong việc thể hiện quyết tâm ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, đến nay, ngành GDĐT vẫn chưa có một kế hoạch tổng thể nào cho vấn đề này. Xác lập cơ chế và nguồn tài chính cho chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT là 1 trong 7 giải pháp mà ngành GDĐT tập trung thực hiện trong thời gian tới.

    Trong giai đoạn 2001 – 2005, mỗi năm, hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách nhà nước đã được huy động để đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT trong ngành GDĐT: kinh phí sự nghiệp giáo dục, kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) và kinh phí từ các dự án vốn vay quốc tế...

    Tuy nhiên, nguồn tài chính để thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT còn hạn chế. Theo báo cáo của vụ KHCN tại hội thảo quốc gia về CNTT - TT lần thứ IV (tại Thừa Thiên Huế hai ngày 21 - 22/9/2006), hiện vẫn chưa có cơ chế để đưa chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT vào kế hoạch tài chính năm 2006.

    Mặt khác, hầu hết các dự án vay vốn quốc tế cho GDĐT đều có thành phần CNTT nhưng chưa có biện pháp để phối hợp hoạt động. Nhìn chung, hầu hết các dự án hiện nay đều thiên về trang bị phần cứng (máy tính, máy chiếu...). Các dự án có nguồn kinh phí nước ngoài chỉ tập trung vào các mục tiêu về hiện đại hóa cơ sở vật chất, quản lý chứ không quan tâm đến đào tạo CNTT. Chỉ một số ít các trường được đầu tư ở mức C (đầu tư máy tính phục vụ học tập và giảng dạy) nhưng cũng chỉ là phần cứng. Trong khi đó, đào tạo CNTT còn cần những yếu tố khác như chương trình, kiện toàn đội ngũ giáo viên, sử dụng các phần mềm ứng dụng...

    Phải kể đến nhiều nguồn tài trợ khác của các nước, các chương trình dành cho đào tạo và phát triển CNTT như của Nhật Bản, Ấn Độ, thu hẹp khoảng cách số trong khối ASEAN, APEC... Việc tiếp cận các nguồn vốn này còn gặp rất nhiều khó khăn do thiếu thông tin. TS.Chử Đức Nhã, chuyên viên vụ KHCN, Bộ GDĐT nhận định, việc đào tạo nhân lực CNTT hiện còn một số hạn chế: do điều kiện cơ sở vật chất không đủ đáp ứng yêu cầu đào tạo nên nhiều trường không mở được mã ngành mới; yếu trong đào tạo ứng dụng CNTT do thiếu phần mềm ứng dụng...

    TS.Thái Bá Cần, hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Khoa Học Kỹ Thuật (SPKHKT) TP.HCM, chia sẻ: "Cơ sở vật chất và suất đầu tư cho mỗi sinh viên hàng năm có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng đào tạo nói chung và đối với ngành CNTT nói riêng. Trong khả năng của mình, ĐH SPKHKT TP.HCM đã giành những ưu tiên đặc biệt cho việc phát triển các kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực CNTT của trường.

    Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là đội ngũ giảng viên, theo ông Cần. Việc giữ chân một giảng viên giỏi có trình độ để làm việc lâu dài, thường xuyên tại khoa không dễ khi luôn có rất nhiều những lời chào mời hấp dẫn đối với họ từ các công ty tin học lớn.

    Mục tiêu của ngành GDĐT là: sinh viên tất cả các ngành đều có điều kiện sử dụng máy tính, Internet và phần mềm chuyên ngành. Để làm được điều đó, rất cần sự đầu tư lớn của Nhà Nước bởi chỉ riêng việc mua sắm thiết bị CNTT đã phải cần đến một số tiền khổng lồ. Ông Nhã cho biết, dự kiến, thời gian tới, Bộ GDĐT sẽ đẩy mạnh việc xã hội hóa: nhiều trường đã cho phụ huynh đóng góp để trang bị máy tính cho con em; liên kết đào tạo với các trường nước ngoài để trao đổi giáo án, trao đổi chương trình, phấn đấu đạt chuẩn khá trong khu vực, sánh ngang với Thái Lan, Indonesia. Bộ cũng đang xác định lại các dự án liên quan đến đào tạo nhân lực CNTT, xem đã đủ chưa, còn thiếu những gì và sẽ cân đối lại nguồn ngân sách dành cho đào tạo, phát triển và ứng dụng CNTT. Đồng thời, làm việc với Bộ KHĐT, Bộ TC để triển khai các kế hoạch với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước.

    Ở cấp trường, đơn cử như ĐH SPKHKT TP.HCM, các cơ sở sẽ chủ động tìm kiếm các giải pháp như tăng nguồn thu từ công tác đào tạo theo các hợp đồng cho các doanh nghiệp, đào tạo các chương trình ngắn hạn cho địa phương, đào tạo theo chương trình quốc tế. TS.Cần cho biết thêm: "Một trong những giải pháp mà khoa CNTT hướng tới là tăng nguồn thu từ chuyển giao công nghệ và sản xuất: thành lập những nhóm gồm giảng viên và sinh viên gia công phần mềm theo đặt hàng của các doanh nghiệp, hoặc tham gia thực hiện triển khai mảng CNTT trong các dự án công nghệ của trường".

    VẤN ĐỀ 2: CHUẨN HÓA

    Theo lộ trình thực hiện đổi mới phát triển và ứng dụng CNTT trong ngành GDĐT, cuối năm 2006, đầu 2007 Bộ GDĐT sẽ khảo sát quy hoạch mạng lưới đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ); công tác đào tạo (ĐT) CNTT các cấp; tổ chức hội thảo quốc gia về chuẩn hóa chương trình (CT) ĐT - văn bằng chứng chỉ (VBCC); hoàn chỉnh các quy định dự thảo về VBCC, dự kiến sẽ ban hành vào tháng 3/2007.

    TS Hoàng Kiếm, hiệu trưởng ĐH CNTT TPHCM
    "Đổi mới đào tạo, chỉ chờ hiệu lệnh!"                    


    Bắt cập CTĐT-VBCC

     
      TS Hoàng Kiếm
    Hiệu trưởng ĐH CNTT TPHCM"
    Đây là thời điểm chín muồi để cải tổ ĐT CNTT ! Dư luận xã hội, bản thân SV đang cảm thấy bức bối. Tất cả chỉ cần chờ hiệu lệnh châm ngòi đổi mới của lãnh đạo".

    CTĐT-VBCC hiện nay chưa hoàn chỉnh, thiếu tính hệ thống ở nhiều bậc học từ CTĐT tin học cơ bản A,B,C (cấp 1: học từ 2,3 tháng đến dưới một năm thi lấy chứng chỉ) cho đến các bậc của hệ ĐT chính quy. Cấp độ 2- cấp trung cấp (Diploma) từ 1,5 đến 2 năm, hiện đang nhập nhằng: Có nơi cấp chứng chỉ, nơi cấp bằng. Bộ cũng đang lúng túng. Theo quan niệm của Bộ, CT trung cấp phải nằm trong hệ thống ĐT trung học chuyên nghiệp, tuy nhiên cũng chưa đủ điều kiện để cấp bằng trung cấp. (Quy định của Luật Giáo Dục: Từ "bằng"chỉ sử dụng ở bậc học phổ thông, trung học, trung cấp, đại học và sau đại học).

    Nhưng thực tế, nhiều ĐH ở nước ta vẫn tổ chức ĐT trung cấp tin học, dạy tin học thuần túy và cấp văn bằng, tuy nhiên nơi thì gọi chứng chỉ, nơi gọi là bằng trung cấp. Luật GD vẫn chưa xem xét thật kỹ càng vấn đề này để công nhận đó là một loại văn bằng chuyên nghiệp. Đây không chỉ là vấn đề thuật ngữ mà nó ảnh hưởng đến ĐT chuyên nghiệp. Nếu không giải quyết được sẽ gây khó khăn, rào cản, gây thiệt thòi cho học viên. Tại sao lại không mạnh dạn gọi Diploma là bằng chuyên nghiệp. Ở nước ngoài, tỉ lệ sử dụng nhân lực lao động có Diploma khá cao, khoảng 70 – 80%.

    Chúng ta không nên so đo về thuật ngữ. Trước đây chúng ta gọi "phó tiến sĩ" nhưng sau đó đã bỏ và chỉ dùng "tiến sĩ" để chuẩn với thế giới. Theo tôi, thường "chứng chỉ" chỉ liên quan đến một môn học hoặc một nhóm môn học. Nhưng hoàn tất một CT hai năm thì phải cấp "bằng". Điều này tạo tâm lý ổn định cho học sinh, tạo điều kiện tìm việc, xã hội dễ thừa nhận hơn. Giải quyết được vấn đề Diploma sẽ giải quyết tốt hướng nghiệp và sẽ phát triển ĐT nghề.

    Ở bậc phổ thông, Bộ đang triển khai đưa tin học vào CT giảng dạy nhưng không nên có một CT chung cho toàn quốc. Nên có hai, ba CT để các địa phương tự lựa chọn giảng dạy theo khả năng: CT cơ bản chung, nâng cao, tài năng (dùng cho thế hệ chuyên để các em đặc biệt xuất sắc có thể phát huy, tham gia các cuộc thi khu vực, quốc tế). Với CTĐT bậc chuyên nghiệp, có thể dựa trên CT A, B, C của Bộ và nên cải tiến lại thành chứng chỉ tin học văn phòng, chứng chỉ kỹ năng trong tin học, tác nghiệp cơ bản phục vụ xã hội. Chứ chữ "A, B, C" không nói lên được điều gì cả! Có nơi A chỉ vài chục tiết nhưng nơi khác, A lại cả trăm tiết. ĐT chính quy cũng có nhiều bất cập. Chúng ta chưa có CTĐT đúng nghĩa trung cấp tin học. CT trung cấp tin học lại đưa vào nhiều môn học theo yêu cầu của Bộ nên hàm lượng tin học của bậc học này ít hơn cả CT kỹ thuật viên của một số cơ sở ĐT. Đối với bậc CĐ (một số nước gọi là kỹ sư thực hành), thực chất đây là CT cử nhân bị "cắt cụt" một năm. Từ "CĐ" lại không đảm bảo tiêu chí của nó mà giống như một anh cử nhân bị thiếu nợ, thực hành tác nghiệp thì chưa thạo lắm nên phải "cạy cục" hoàn chỉnh ĐH. CTĐT bậc ĐH ở phần lớn ở các trường đều "na ná" nhau, không mang tính hướng nghiệp, không có "bản sắc" của từng trường. Sinh viên (SV) tốt nghiệp nhưng không chuyên sâu.

    CTĐT phải gắn thực tế

     

    Ở bậc ĐH chính quy, CT phải thiết kế theo hai hướng. Thứ nhất là CT phải gắn với những lĩnh vực chuyên ngành của từng ĐH, ĐT chuyên sâu CNTT và am hiểu những kiến thức chuyên ngành đáp ứng nhu cầu ứng dụng cho xã hội. Ví dụ: Khoa CNTT trong ĐH ngành nông lâm thì phải thể hiện bản sắc ứng dụng CNTT vào ngành nông lâm. Thứ hai là phục vụ cho ngành công nghiệp CNTT... Tôi không ngạc nhiên khi thấy các công ty than "khó" khi tuyển dụng. Thậm chí rất đáng buồn: SV tốt nghiệp ngành CNTT nhưng đi thi lấy chứng chỉ kỹ sư cơ bản của Nhật chỉ đạt khoảng 70-80% (chứng chỉ này chỉ học hai năm). Ngoài ra, theo tôi, CTĐT phải chú trọng khả năng ngoại ngữ, không chỉ là tiếng Anh mà cả tiếng Nhật, Hàn, Pháp...

    Là ĐH đầu tiên được Nhà Nước cho phép ĐT theo đúng chuyên ngành sâu từ đầu, hiện nay, ĐH CNTT TP.HCM đang thiết kế CT đi sâu vào năm lĩnh vực: khoa học máy tính (đáp ứng lĩnh vực giảng dạy, nghiện cứu, tư vấn), mạng và truyền thông (quản trị mạng, thiết kế giải pháp hê thống mạng), kỹ thuật máy tính (thiết kế, sữa chữa máy tính), hệ thống thông tin (xây dựng hệ thống thông tin, thương mại điện tử), kỹ thuật phần mềm (xây dựng, quản lý hệ thống phần mềm, dự án).

    Về công tác tuyển sinh, để đúng ngành nghề cần cải tiến hơn. Bên cạnh kỳ thi chung, nên có phần sát hạch nhỏ để tuyển SV có nguyện vọng và năng lực phù hợp với ngành ĐT. Ví dụ ở ĐH CNTT TP.HCM, đề thi sẽ có một vài câu trắc nghiệm về kiến thức tin học, tiếng Anh. Lâu nay tuyển sinh, CNTT không có trắc nghiệm về tin học nên khi vào năm thứ nhất, trình độ SV rất không đồng đều. Nhiều em không biết tin học là gì cả nhưng toán, lý lại học tốt. Có thể với kiến thức cơ bản tốt thì các em sẽ đuổi kịp nhưng như thế rất vất vả. Nếu chọn từ đầu, những em sàn sàn nhau cho học CT nâng cao ngay thì sẽ tiết kiệm thời gian ĐT. Anh văn, nếu có điều kiện cũng nên sát hạch để có sự phân lọai.

    Chúng ta phải chấp nhận ĐT CNTT ở trường A, trường B có sự khác nhau. Sau này, ngoài bằng kỹ sư CNTT, người ta sẽ hỏi học ở trường nào. Việc điểm chuẩn cao ở một trường nào đó là đương nhiên. Việc phân tầng là xu thế tự nhiên. Trường nào có thương hiệu mạnh dứt khoát điểm vào phải cao.

    Sao lại quản lý phôi bằng?

    Một vấn đề bất cập nữa là việc quản lý và cấp phát "phôi bằng". Hiện nay phôi bằng do Bộ GDĐT quản lý, nhưng thực tế Bộ không quản lý được chất lượng giảng dạy, tạo ra "thương hiệu ảo" cho các cơ sở lợi dụng. Thật vô lý khi các cơ sở ĐT cứ phải "chầu chực" ở văn phòng bộ để xin mua được phôi bằng. Không thể vì lý do quản lý tình trạng "loạn bằng cấp" mà Bộ phải "ôm". Những gì liên quan đến ĐT nâng cao dân trí, chứng chỉ tin học cơ bản, Bộ không nên quản lý mà nên cho các đơn vị có khả năng tổ chức ĐT tự chịu trách nhiệm về chứng chỉ, văn bằng ĐT của mình. Bộ chỉ giữ vai trò kiểm tra số lượng, chất lượng CTĐT, thanh tra, phạt thật nặng những cơ sở vi phạm và hàng năm công bố số lượng ĐT và số học viên của các cơ sở tìm được việc làm. Khi đó, các cơ sở ĐT sẽ phải cạnh tranh chất lượng, thương hiệu sẽ được xã hội thẩm định, tránh tình trạng xin – cho không cần thiết.

    Chẳng hạn, vừa qua, công ty Nguyễn Hoàng tổ chức ĐT cấp chứng chỉ bác sĩ máy tính, thu hút rất đông người học. Đó là do công ty đã tạo thương hiệu sửa chữa máy tính uy tín. Cơ quan quản lý nên thừa nhận tư cách ĐT cho các cơ sở sau khi thẩm định năng lực ĐT và có quy chế buộc họ tự chịu trách nhiệm về chất lượng. Như thế sẽ xóa bỏ tính bằng cấp, đưa chứng chỉ thành chuyện bình thường. Học ở đâu, ở đó cấp chứng chỉ và chịu trách nhiệm về chất lượng. Xã hội sẽ sàng lọc.

    NẶNG LÝ THUYẾT

    CTĐT CNTT tại các ĐH hiện vẫn nặng về lý thuyết. Tỷ lệ các môn khoa học xã hội nhân văn còn cao và nội dung xa với thực tiễn. SV chưa rèn luyện được nhiều kỹ năng làm việc (sáng tạo, trình bày, làm việc theo nhóm, viết...), chưa được làm quen với môi trường làm việc chuyên nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là bậc ĐH dạy cách học, nghiên cứu, làm việc, giải quyết vấn đề chứ không phải dạy một nghề cụ thể.

    Ông Thái Bá Cần - hiệu trưởng ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM

     

    Việc dạy nghề hiện được thực hiện bởi các trường CĐ, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc các trung tâm "phi chính qui" ĐT theo các chứng chỉ của đơn vị, của quốc gia (chứng chỉ A,B,C...) và quốc tế (Cisco, Microsoft, Oracle, Sun...).

    Nhưng, tỷ lệ SV tốt nghiệp ĐH làm việc không theo đúng chuyên ngành còn khá lớn, trong khi các cơ sở ĐT chưa cung ứng đủ nhu cầu về lượng và chất.

    Có hai hướng giải quyết: Một là, công ty tin học lớn tự thành lập trường như FPT đã có ĐH FPT tại Hà Nội, TMA chuẩn bị thành lập ĐH CNTT tại TP.HCM; hoặc CTĐT riêng như Cisco, Microsoft, Oracle, Sun... Hai là, các công ty phải gắn chặt ĐH với doanh nghiệp trong ĐT để được cập nhật công nghệ mới, huấn luyện giảng viên, tạo điều kiện cho SV thực tập.

    Nên cấu trúc, chuẩn hóa lại CTĐT CNTT. Vòng đời CNTT ngày càng ngắn thì chương tình ĐT CNTT cũng cần mềm dẻo và cập nhật thường xuyên. Nên tăng cường rèn luyện kỹ năng (nói, làm việc nhóm, phương pháp luận sáng tạo...). Khối kiến thức chuyên ngành cũng cần tỷ lệ hợp lý giữa các môn cơ sở ngành có tính ổn định cao với các môn chuyên ngành theo hướng công nghệ cần cập nhật thường xuyên.

    Cần có cơ chế để có thể mời các kỹ sư công nghệ tại các công ty lớn tham gia giảng dạy tại ĐH. SV CNTT trước khi tốt nghiệp cần được thực tập một thời gian tại các công ty tin học.

    ĐH SPKT TP.HCM trong 3 năm vừa qua, CTĐT CNTT và các ngành ĐT khác của trường đã được xây dựng lại và chuẩn hoá theo chương trình khung của khối ngành công nghệ, đồng thời bám sát yêu cầu thực tế của DN. Đó là một thay đổi lớn và quan trọng. Trường cũng chú trọng tăng cường giảng viên, cơ sở vật chất cho khoa CNTT. Khuyến khích và hỗ trợ khoa trong việc tạo quan hệ với DN, ĐH khác và đối tác nước ngoài.

    Công tác tuyển sinh của chúng ta hiện chỉ đạt mục tiêu là chọn người có kiến thức văn hóa phổ thông vào ĐH chứ chưa phải là chọn người có năng khiếu nghề nghiệp (trừ một số ngành đặc thù: âm nhạc, TDTT, nghệ thuật...). Trong tương lai, nếu các trường có ĐT CNTT thống nhất được với nhau, có lẽ nên đề xuất một khối thi thích ứng hoặc áp dụng hệ số thích hợp cho các môn thi. Căn cơ hơn, có thể đưa vào môn thi năng khiếu (như "Tư duy logic chẳng hạn"). Đó là các kiến thức cần thiết cho việc học tốt ngành CNTT ở bậc ĐH.

    DN CHỈ CẦN NGƯỜI BIẾT LÀM VIÊC

     

    Ông Phạm Thiện Nghệ - chủ tịch HĐQT, tổng giám đốc công ty Khai Trí

    Hiện nay, theo thống kê, cả nước có hơn 60 ĐH và hơn 70 CĐ có đào tạo CNTT, TP.HCM chiếm gần một nữa. DN chúng tôi thời gian qua, hầu như không tuyển và sử dụng được sinh viên ở các trường không chuyên về CNTT, trừ các ĐH Bách Khoa, ĐH Khoa Học Tự Nhiên và học viên có chứng chỉ đào tạo Microsoft, Cisco... DN không coi trọng văn bằng, chỉ cần những người biết làm việc. Tôi hy vọng quan hệ thị trường sẽ làm thay đổi quan điểm đào tạo ở ĐH,CĐ.

    Tôi không biết CTĐT của đa số trường dạy CNTT có học phần bắt buộc sinh viên thực tập không? Qua nhiều lần tuyển dụng, tôi thấy nhiều sinh viên ĐH rất ngỡ ngàng trong công việc, đôi lúc làm lấy có, chiếu lệ. Tôi thấy nên theo mô hình tổ chức thực tập ở ĐH Bách Khoa TP.HCM hay ĐH bán công Hoa Sen. Họ gửi sinh viên đi thực tập và theo dõi kỹ. Kết quả là sinh viên ra trường đa số kiếm được việc làm. Hiện nay, Khai Trí cũng nhận SV thực tập nhưng một năm chỉ khoảng 10 người. Tôi nghĩ, nhiều đơn vị nên quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện cho SV thực tập.

    Ngoài ra, đề nghị Bộ suy nghĩ về văn bằng hai, đào tạo thêm những kỹ năng, kiến thức chuyên ngành chứ không chỉ chuyên về CNTT.

    KHÔNG HÀN LÂM THÌ KHÔNG PHẢI ĐẠI HỌC

    Thời gian học tập tại ĐH thì có hạn, trong khi kiến thức và kỹ năng là vô hạn và cũng không ngừng phát triển, đặc biệt đối với những ngành như CNTT. Người làm CTĐT phải giải một bài toán tối ưu quá sức mình.

    Ông Nguyễn Thúc Hải - giảng viên khoa CNTT ĐH Bách Khoa Hà Nội

     

    CTĐT ĐH mà không còn tính "hàn lâm" thì chẳng còn là chương trình ĐH nữa. Mục tiêu của ĐH không phải là ĐT ra một lớp người thụ động, Tuy nhiên, tính hàn lâm cũng là một khái niệm động, cần được điều chỉnh thường xuyên theo trình độ phát triển của xã hội để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc điều chỉnh tính hàn lâm như thế nào chính là bản sắc, là "màu cờ, sắc áo" của mỗi ĐH.

    Về CTĐT CNTT bậc ĐH, quan điểm nhất quán của tôi vẫn là : không nên xây dựng chương trình khung cứng nhắc và bắt các trường phải theo mà chỉ xây dựng chuẩn kiến thức tối thiểu (có thời hạn) cho nhóm ngành CNTT mà bất cứ cơ sở ĐT nào muốn cấp bằng ĐH về CNTT cũng phải tuân thủ. Chuẩn kiến thức này sẽ là căn cứ để Bộ GDĐT kiểm tra đánh giá và phân loại ĐH. Chuẩn kiến thức cho chuyên ngành ĐT CNTT chỉ có thời hạn, chẳng hạn 3-5 năm. ĐH tùy theo cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên mà xây dựng chương trình cụ thể, phù hợp. Sự phân hoá chất lượng sẽ bắt đầu từ đây.

    Không nên vì đặc thù mà đòi chuyên ngành ĐT CNTT phải có quy chế thi tuyển sinh riêng. Ngay cả khi các trường được trao quyền tự chủ tuyệt đối, dù là đa ngành, đa lĩnh vực thì vẫn cần quy chế tuyển sinh chung. Qua nhiều năm dạy ĐH về CNTT, tôi vẫn không thể đánh giá được thế nào là một thí sinh (vừa học xong bậc phổ thông) "có năng khiếu", "giỏi" CNTT". Cái gọi là "năng khiếu", "giỏi" tin học ở bậc phổ thông đôi khi lại là cái hạn chế cho việc tiếp thu bài bản các kiến thức chuyên ngành bậc cao thì sao?

    THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC ĐANG CẦN AI?

     

    Ông Vương Mạnh Sơn - giám đốc trung tâm nghiên cứu công nghệ kỹ thuật Sài Gòn - SaigonCTT

    Với CNTT, nhiều kỹ năng tối cần thiết chỉ cần học qua các khoá ĐT phi chính quy là có. Xã hội đang rất cần đến những kỹ năng đó!

    Chính vì vậy, CTĐT phi chính quy, phổ biến là trong CNTT, thường không cung cấp cho người học kiến thức hàn lâm, học một lần dùng cả đời, mà là những kỹ năng. Chẳng hạn với hệ thống mạng thì cần vận hành, duy tu, bảo dưỡng đến phát triển các hệ thống mạng lớn hơn và máy chủ mạnh hơn. Chúng là xương sống của tòan bộ họat động của công ty, xí nghiệp...

    Đáng lẽ, mô hình trung học chuyên nghiệp (trung cấp) phải phát triển tốt, nhất là với CNTT. Theo tôi, xã hội chưa tôn trọng mô hình đó nên không nuôi nó... 70% lực lượng tạo ra của cải ở Thụy Sĩ là các kỹ thuật viên. ĐT chuyên nghiệp với Việt Nam là vấn đề bức thiết, nhất là với CNTT – lĩnh vực biến đổi rất nhanh. Thực tế ở SaigonCTT, chúng tôi cũng chỉ tuyển được 30-40% học viên chưa vào ĐH cho các khoá ĐT của mình.

    Những CTĐT của chúng tôi như eN2P cung cấp những kỹ năng thực hành, cho phép người sử dụng công nghệ trả lời câu hỏi "thế nào?" mà không cần biết đến tận cùng "tại sao?". Các kỹ sư chính quy thường biết "tại sao?" nhưng vụng về khi phải đối phó với những trường hợp cần trả lời câu hỏi "thế nào?". Hơn nữa, kiến thức CNTT thay đổi rất nhanh, thiết bị CNTT cũng vậy. Làm việc trong môi trường này, cần cập nhật liên tục từ kiến thức đến kỹ năng. Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng thực hành...

    VẤN ĐỀ 3: DOANH NGHIỆP CHUNG TAY

    Ông Nguyễn Hữu Lệ, chủ tịch HĐQT công ty TMA

     

    Mỗi năm, TMA nhận hàng nghìn hồ sơ ứng tuyển. Tỷ lệ trúng tuyển trung bình khoảng 10 – 15%. Tuy nhiên tỷ lệ này khác biệt lớn giữa SV các trường. SV các trường lớn có kiến thức cơ bản tốt nên tỷ lệ trúng tuyển cao hơn.

    Theo tôi, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tuyển dụng, các ĐH cần: ĐT chuyên gia cho những chuyên ngành cụ thể, tránh chung chung; yêu cầu SV rèn luyện kỹ năng thực hành trong phần lớn các môn học; tạo điều kiện để SV rèn luyện kỹ năng giao tiếp (đặc biệt là tiếng Anh) và làm việc nhóm; phối hợp với DN tổ chức các chương trình ngoại khoá, hội thảo chuyên đề; có bộ phận chuyên trách giới thiệu việc làm cho SV và tìm hiểu nhu cầu của các DN.

    TMA đã hợp tác với nhiều ĐH khu vực phía Nam và miền Trung, gồm trao học bổng, nhận SV thực tập, SV tham quan công ty, hội thảo chuyên đề, mời giảng viên các trường ĐT nhân viên công ty, tài trợ hoạt động (của SV), giúp SV có thêm thông tin về yêu cầu của các DN để có định hướng tốt hơn trong học tập.

    Theo tôi, Chính Phủ phải nhanh chóng đưa ra các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà Nước vào cuộc sống. Trong GDĐT, TMA tâm đắc với Nghị Quyết 14-2005/NQ-CP "Đổi mới cơ bản và toàn diện GD ĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020" với 6 mục tiêu cụ thể và 7 nhóm giải pháp đồng bộ. Một trong 6 mục tiêu này là hoàn thiện chính sách phát triển theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GD ĐH, sự quản lý của Nhà Nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với GD ĐH.

    Ông Nguyễn Quốc Toàn, chủ tịch HĐQT công ty cổ phần BSC, công ty phát triển bộ giải pháp quản lý nhà trường BSC EMIS

     

    Chúng tôi đã có trên 6 năm phát triển PM trong lĩnh vực nhà trường với trên 100 đơn vị sử dụng PM BSC EMIS. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ có BSC tại TP.HCM còn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp này. BSC Hà Nội đã chuyển sang mảng PM cho DN. Lý do: kinh doanh PM GDĐT có rủi ro rất cao và đầu tư dàn trải. Các dự án đầu tư luôn nằm trong tình trạng chờ đợi phê duyệt hoặc kéo dài thời gian triển khai gây thiệt hại nặng cho DN. Trong khi đó, ngân sách và thời gian các trường dành cho dự án CNTT thường chỉ bằng 1/3 so với thực tế.

    Trong việc đưa giải pháp BSC EMIS vào các trường, rào cản đầu tiên là nhận thức của người sử dụng. Thông thường người đứng đầu dự án hoặc lãnh đạo nhà trường có khoảng cách nhận thức rất xa với những người trực tiếp sử dụng chuơng trình. Trong khi, các hệ thống ứng dụng CNTT quản lý nhà trường thường là những hệ thống lớn, phức tạp liên quan tới nhiều người, nếu không quyết tâm triển khai thì rất khó thành công.

    Để khắc phục tình trạng yếu kém và trì trệ ứng dụng CNTT trong hệ thống GDĐT hiện nay, Bộ GDĐT cần thiết lập các cơ chế, quy định bắt buộc. Ví dụ, bắt buộc áp dụng các phương tiện CNTT - TT (máy tính, máy chiếu, Internet, PM hỗ trợ GD...) vào các bài giảng trên lớp; cải tiến chế độ báo cáo trong các nhà trường theo yêu cầu nhanh chóng, đầy đủ và chính xác tương tự như hệ thống báo cáo tài chính DN. Bộ GDĐT (rồi cả tổng cục Dạy Nghề thuộc Bộ LĐTBXH) nên thiết lập hệ thống hỗ trợ hoặc cung cấp nguồn nhân lực CNTT cho DN và tổ chức trước, trong và sau quá trình ĐT.

    Ông Hoàng Quốc Việt, tổng giám đốc Nguyễn Hoàng Informatics

     

    Thứ nhất, cần phải xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo trình, giáo án hiện nay cho ngành CNTT và GDĐT; đặt hàng các công ty chuyên về giải pháp CNTT để đưa sản phẩm ĐT từ xa (E-Learning) có giá trị vào giáo trình; chính thức công nhận các chương trình E-Learning này trong chương trình chính khóa và các khóa thi. Thứ hai, tôi cũng kiến nghị Chính Phủ có nhiều biện pháp hỗ trợ DN CNTT (kể cả DN sản xuất phần cứng), trong đó có ưu đãi về thuế TNDN và mua các sản phẩm của họ; thành lập bộ phận kiểm tra để đánh giá công việc đấu thầu và các báo cáo hàng quý về việc ứng dụng các sản phẩm này...

    Cụ thể: về giáo trình, hiện tại, đa phần giáo án được in thành sách (SGK), cập nhật chậm cả về các kiến thức phần cứng - PM lẫn giải pháp mạng và bảo mật, SV chép bài vào vở khi học nên việc cập nhật kiến thức chậm và tốn kém. Ở Singapore, từ lớp chồi đến cấp 1, cấp 2 và cả cấp ĐH, người dân đang chuyển sang học đa phương tiện (multimedia) và học trực tuyến. Học sinh đến trường chỉ cần mang theo một cuốn sổ ghi chép và ghi nhớ password. Họ có thể học bất cứ đâu, luôn có thể lên mạng ôn bài - trả bài. Về phần cứng, hiện rất nhiều trường Việt Nam vẫn còn sử dụng máy tính chạy CPU Celeron đời đầu, Pentium 586... Pentium III đã được coi là tốt. Trong khi đó, nhiều PM hiện nay chỉ chạy được trên máy từ Pentium 4 trở lên. Nhiều SV tốt nghiệp lúc mới vào Nguyễn Hoàng công tác chưa một lần được thao tác trên Pentium 4 chứ chưa nói đến Centrino, HyperTrading hoặc Duo 2 Core như hiện nay.

    TS Lê Trường Tùng - Hiệu trưởng ĐH FPT
    Căn cứ trên chất lượng


    Tháng 9/2006, ĐH FPT đã chính thức đón nhận quyết định thành lập của Thủ Tướng Chính Phủ. Tuy nhiên, việc chiêu sinh năm học 2006 – 2007 của trường diễn ra không hoàn toàn suôn sẻ và FPT đang kiên trì theo đuổi mục tiêu tự chủ và tự chịu trách nhiệm của mình. Mô hình tổ chức và cách thức ĐT của ĐH FPT sẽ được tiến hành ra sao? TS Lê Trường Tùng - Hiệu trưởng ĐH FPT đã có đôi lời tâm sự với TGVT - PC World Việt Nam, Series B.

    Là một ĐH tư thục đầu tiên tại Việt Nam do DN thành lập, trong một chừng mực nào đó, đây cũng là hoạt động kinh doanh của FPT. Đề nghị ông cho biết quan điểm của FPT về kinh tế GD.

     

    Trước hết, đáng mừng là Luật GD 2005 đã hợp pháp hoá thể chế tài chính của loại hình trường tư thục, qua đó GD có thể được xem như một ngành dịch vụ, được phép có lợi nhuận, và đó cũng là điều thuận lợi để DN chủ động thành lập trường ĐH. Tuy nhiên, ít người hy vọng vào khả năng sinh lợi của trường ĐH trong những năm hoạt động ban đầu khi mong muốn xây dựng được một trường ĐH chất lượng cao, vì đầu tư khá lớn, thu học phí cao không dễ và cần có thời gian để khẳng định vị trí, thương hiệu của trường. Với FPT cũng như rất nhiều DN khác thì chi phí cho tuyển dụng và ĐT nhân viên hàng năm đằng nào cũng phải thực hiện. Do vậy, chúng tôi nhận nhiệm vụ trong hoạt động của trường những năm đầu tiên cố gắng thu bù chi, còn trong trường hợp thu không đủ bù chi thì xem như đó là chi phí cho công tác nhân sự của FPT.

    DN thành lập ĐH có cái lợi là biết khá rõ về những kiến thức và kỹ năng mà SV tốt nghiệp cần phải có, có điều kiện hơn các trường khác trong việc gắn kết môi trường ĐT với hoạt động DN và khắc phục khoảng cách giữa ĐT và nhu cầu DN còn khá lớn hiện nay.

    Theo chúng tôi, ĐH tư thục chỉ có thể tồn tại và phát triển được trên quan điểm chất lượng. Để ĐT chất lượng cao mà chỉ thu học phí thấp như các trường ĐH hiện nay là điều phi thực tế. Còn nếu thu học phí cao thì lại là rào cản với khá nhiều học sinh nghèo muốn học. Chúng tôi đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn này. Lời giải của ĐH FPT là học bổng cho các em tài năng (kèm theo cam kết làm việc tại FPT một thời gian sau khi tốt nghiệp), tín dụng cho học sinh nghèo hiếu học (ngân hàng sẽ cho SV vay tiền nộp học phí với lãi suất ưu đãi nhất, FPT bảo lãnh và gánh chịu rủi ro trong trường hợp ngân hàng không đòi đuợc), và học phí cao (ở mức ½ so với quốc tế) cho các đối tượng khác. Với rủi ro tài chính khá lớn, chúng tôi cần lựa chọn đầu vào từ các em học sinh thực sự có năng lực về CNTT, có chí hướng và thường xuyên xem xét trong quá trình ĐT. Đây là một trong các nguyên nhân để trường mong muốn được thử nghiệm tự chủ trong việc tuyển sinh để mở cửa cho đúng đối tượng.

    Với mô hình ĐT của mình, ngoài sự khác biệt về ĐT công nghệ so với các ĐH khác, ông có thể cho biết ĐH FPT còn ĐT những kiến thức và kỹ năng gì cho SV?
    CTĐT của chúng tôi bao gồm 5 module lớn:

    Module thứ nhất là ngoại ngữ, và ngoại ngữ phải được nâng lên một tầm cao là học chuyên môn bằng ngoại ngữ. Điều này vừa giống lại vừa không giống với các trường khác vì tại các trường ĐH của ta đều có ĐT ngoại ngữ nhưng chỉ là một môn học.

    Module chuyên môn tiếp theo của ĐH FPT gần giống như các kiến thức chuyên ngành của các trường khác, nhưng dựa trên các chuẩn quốc tế, vừa kết hợp yêu cầu cho trình độ cử nhân, vừa cập nhật phản ánh được sự phát triển của CNTT, lại vừa thể hiện được cơ cấu ngành nghề của ngành này.

    Module thứ 3 là kiến thức về xã hội (triết học, lịch sử, văn hoá...), nhằm tạo nhân sinh quan, thế giới quan... cho SV.

    Module thứ 4 là về thực hành trong môi trường công nghiệp, thực hành một cách đúng nghĩa chứ không phải là làm các bài tập được ra trong giờ lý thuyết. Thực hành ở đây là có giáo viên hướng dẫn trong môi trường thực tế. Nội dung thực hành là những việc liên quan đến các dự án thật. Những người hướng dẫn chính là những người đỡ đầu về chuyên môn và nghề nghiệp cho SV để khi tốt nghiệp thì chính họ cũng có thể là người chỉ đạo SV đó trong công việc.

    Module thứ 5 là các kỹ năng mềm (Soft Skill) - về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, tinh thần đồng đội, kỷ luật công nghiệp, kỹ năng tự học, quản lý thời gian... Mặc dù CNTT là ngành học có hàm lượng chất xám cao nhưng ở trong môi trường công nghiệp, liên tục thay đổi thì mỗi con người buộc phải có đủ những kỹ năng đó.

    Các mô hình ĐH dân lập và tư thục thực chất là GD trong cơ chế thị trường và có nghĩa là phải tuân thủ quy luật của cung - cầu và mua – bán. Vậy theo ông, mối quan hệ giữa thầy và trò trong môi trường này cần phải như thế nào cho hợp lý.

    Thực chất, mối quan hệ của thầy và trò trong môi trường ĐH ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với trước đây. Thầy là người hướng dẫn trò học (trainer) chứ không phải là người dạy (teacher). Một môn học cũng có thể có nhiều thầy dạy và sự phát triển, trưởng thành của SV là kết quả của cả một tổng thể chung chứ không phải là của riêng một ông thầy nào. Điều đó cũng giống như sản phẩm của một nền sản xuất công nghiệp thì không phải là của riêng một anh công nhân, kỹ sư nào cả.

    Quan hệ thầy trò ngày nay không thể giống với cách học kiểu thầy đồ xưa kia "nhất tự vi sư, bán tự vi sư” để thầy nói thì đừng có cãi, mà SV phải biết "cãi", biết phản biện lại thầy. Và chính đó mới là điều mà người thầy rất cần. Thầy đứng lớp là công việc, trò đi học cũng là công việc và ai cũng phải làm tốt việc của mình trong cả một quy trình chung - thứ mà chúng ta có thể tạm gọi là "công nghiệp GD"...

    ID: B0611_35