• Thứ Ba, 05/12/2006 16:08 (GMT+7)

    Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm

    Nhìn đơn giản từ góc độ pháp lý, tiến trình phát triển một PM có thể xem như bao gồm 5 công đoạn.

    Năm công đoạn phát triển PM

    Thứ nhất, khởi phát ý tưởng về PM: qua phán đoán hoặc nắm bắt nhu cầu thị trường, DN hoặc chuyên gia CNTT có thể nảy sinh ý định phát triển một PM đảm nhiệm các chức năng hoặc giải quyết các nhiệm vụ nào đó. Ý tưởng này và các ý tưởng phát triển tiếp theo về nguyên tắc cần được bảo vệ như một bí mật kinh doanh (trade secret).

    Thứ hai, thiết kế cấu trúc hệ thống: là công đoạn xác định các mô-đun cần thiết và mối quan hệ giữa các mô-đun đó, bao gồm việc lồng ghép các mô-đun, thiết kế dòng điều khiển chảy trong hệ thống (trình tự tham gia giải quyết công việc của các mô-đun) và xác định dòng dữ liệu tương ứng (dòng thông tin trao đổi giữa các mô-đun). Bản thân việc thiết kế một nhóm mô-đun có quan hệ hữu cơ với nhau để đảm nhiệm được một (hoặc một số) chức năng cụ thể có thể coi như tương đương với một giải pháp kỹ thuật dạng thiết kế cơ cấu, còn việc thiết kế các dòng điều khiển và dòng dữ liệu để xử lý được một nhiệm vụ cụ thể lại có thể tương đương với một giải pháp kỹ thuật dạng thiết kế quy trình.

    Các giải pháp mới có thể đăng ký để được cấp bằng độc quyền sáng chế (patent). Ngoài ra, hàng loạt ý tưởng, thông tin nảy sinh trong giai đoạn này cũng có thể là các bí mật kinh doanh. Riêng các thông tin đã được định hình dưới dạng tài liệu, lưu đồ, tập tin..., nếu do chính các chuyên gia phân tích hệ thống, các lập trình viên... thiết lập, thì còn là các tác phẩm có thể được bảo hộ quyền tác giả (copyright).

    Thứ ba, thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng: mỗi nhiệm vụ/chức năng mà một mô-đun phải giải quyết sẽ được phân chi tiết hơn thành các phép toán hoặc tác vụ cần thực hiện, cùng kiểu dữ liệu tương ứng mà mỗi phép toán/tác vụ sẽ vận dụng. Mỗi phép toán/tác vụ có thể là một dấu hiệu chi tiết của các sáng chế được hình thành trong bước thiết kế cấu trúc hệ thống, và một tập các phép toán/tác vụ cũng có thể cấu thành một sáng chế dạng quy trình. Nhiều thông tin bí mật cũng có thể hình thành trong công đoạn này.

    Thứ tư, thiết kế giải thuật và cấu trúc dữ liệu: giải thuật là một chuỗi các bước chi tiết phải thực hiện để hoàn thành một phép toán/tác vụ và mỗi phép toán/tác vụ có thể được giải quyết bằng một số giải thuật khác nhau. Tương ứng, cấu trúc dữ liệu cũng là bước thiết kế cụ thể hơn cho mỗi kiểu dữ liệu đã được xác định ở công đoạn thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng qua 6 thông số: kiểu dữ liệu cơ sở, giá trị, biến, mảng, biểu ghi và trỏ. Giải thuật có thể là các dấu hiệu chi tiết của các sáng chế đã phát triển trước đó và một giải thuật phức tạp, đặc biệt là trong các PM kỹ thuật, cũng có thể tạo thành một sáng chế. Tương tự, hàng loạt các thông tin hoặc tài liệu mô tả chi tiết trong công đoạn này cũng có thể là các bí mật kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền. Đặc biệt, nếu PM có thiết kế các cơ sở dữ liệu đi kèm, thì mỗi cơ sở dữ liệu cũng là một tác phẩm có bản quyền và trên thế giới, nhiều nước đã ban hành riêng luật về quyền đối với cơ sở dữ liệu (database right law).

    Thứ năm, chương trình máy tính: dựa trên các giải thuật chi tiết và cấu trúc dữ liệu tương ứng, lập trình viên sẽ viết mã nguồn (chuỗi câu lệnh được viết bằng ngôn ngữ lập trình) và sau đó biên dịch sang mã máy (được dịch từ mã nguồn ra chuỗi các ký tự 0 và 1 tương ứng để máy tính có thể hiểu và chấp hành) tương ứng với loại phần cứng mà PM sẽ được cài đặt. Chương trình máy tính hoặc từng bộ phận của chương trình có thể được bảo hộ như các tác phẩm có bản quyền.

    Để có thể xúc tiến thương mại PM, hàng loạt các tài liệu khác cần được thiết kế, biên soạn như: hướng dẫn cài đặt, sử dụng, sửa lỗi, nâng cấp, tương thích hóa.... và do đó, một PM hoàn chỉnh có thể xem như được hợp thành bởi 4 thành tố: tài liệu thiết kế, chương trình máy tính, tài liệu hỗ trợ và sưu tập dữ liệu số đi kèm; trong đó, sưu tập dữ liệu số bao gồm các cơ sở dữ liệu và các tác phẩm số hoặc số hóa. Như vậy, các đối tượng SHTT liên quan chủ yếu đến một PM là: sáng chế, bí mật kinh doanh và tác phẩm có bản quyền.

    Nếu các đối tượng SHTT này được DN hoặc nhà thiết kế chú ý xúc tiến các thủ tục hoặc hành vi xác lập quyền đúng theo luật định, chúng sẽ trở thành tập quyền SHTT (Intellectual property right portfolio) của PM tương ứng. Ngoài ra, khi được đưa vào lưu thông như một thực thể hỗn hợp giữa hàng hóa (vật mang PM) + dịch vụ (quyền sử dụng các đối tượng SHTT theo quy định của nhà thiết kế), mỗi PM đều được đặt một tên riêng có thể được bảo hộ như một nhãn hiệu.

     

    Những điểm cần lưu ý trong Luật Giao Dịch Điện Tử

     
     

    Nguyên tắc giao dịch điện tử (GDĐT) (điều 5): tự nguyện; tự thỏa thuận công nghệ sẽ sử dụng; không một công nghệ nào được xem là duy nhất; bình đẳng và an toàn; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà Nước (NN), lợi ích công cộng... Cấm (điều 9) cản trở lựa chọn sử dụng giao dịch điện tử; cản trở hoặc ngăn chặn trái phép quá trình truyền, gửi, nhận thông điệp dữ liệu; thay đổi, xoá, huỷ, giả mạo, sao chép, tiết lộ, hiển thị, di chuyển trái phép một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu; tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối loạn, thay đổi, phá hoại hệ thống điều hành hoặc có hành vi khác nhằm phá hoại hạ tầng công nghệ về giao dịch điện tử; tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật; gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép chữ ký điện tử của người khác.
    Hợp đồng điện tử (HĐĐT) (điều 33) được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của HĐĐT (điều 34) không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó dưới dạng thông điệp dữ liệu. Các bên (điều 35) có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng tuân thủ các quy định của Luật GDĐT và pháp luật về hợp đồng; các bên có quyền thoả thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó. Giao kết HĐĐT (điều 36) là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng; trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của thông báo trong giao kết và thực hiện HĐĐT (điều 38) dưới dạng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền thống. Để giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tử (điều 52), NN khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải, trường hợp không hoà giải được thì giải quyết tranh chấp theo luật định về giải quyết tranh chấp.
    (Nguồn: Luật Giao Dịch Điện Tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 hiệu lực từ ngày 01/3/2006)

     

    Một số quy định cơ bản nhất về bảo hộ

    Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Tác phẩm phát sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm cải biên, chuyển thể... Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân (liên quan chủ yếu đến các chuyên viên phân tích hệ thống và lập trình viên của PM) bao gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm... Quyền tài sản (của chủ sở hữu PM, có thể là chính nhóm tác giả hoặc DN hay người đầu tư để phát triển PM) gồm các quyền: làm tác phẩm phái sinh; sao chép; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

    Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Nếu có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp, có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền giải pháp hữu ích" với thời hạn độc quyền là 10 năm ; nếu thỏa mãn thêm điều kiện "có trình độ sáng tạo", có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền sáng chế" với thời hạn độc quyền là 20 năm. Nhiều tập đoàn công nghiệp quốc tế đã xúc tiến việc đăng ký các sáng chế liên quan đến PM của họ tại Việt Nam (có thể tra cứu tại www.noip.gov.vn ). Trên con đường hội nhập, có thể nói các sáng chế liên quan mới thực sự là hệ xương sống của ngành công nghiệp PM.

    Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Bí mật kinh doanh sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đồng thời 3 điều kiện: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; và, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được. Nếu PM có được giá trị thương mại nhất định, các bí mật kinh doanh sẽ bộc lộ vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ giao kết giữa người đầu tư phát triển PM với tập thể tham gia thiết kế.

    Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; và, có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Thời hạn bảo hộ độc quyền nhãn hiệu là 10 năm và có thể gia hạn theo nhiều chu kỳ 10 năm tiếp theo.

     

    Những điểm lưu ý trong Luật Công Nghệ Thông Tin

     
     

    Nghiêm cấm (điều 12): cản trở hoạt động hợp pháp hoặc hỗ trợ hoạt động bất hợp pháp về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT); cản trở bất hợp pháp hoạt động của hệ thống máy chủ tên miền quốc gia; phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin, phá hoại thông tin trên môi trường mạng; cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm mục đích chống NN, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc; tiết lộ bí mật NN, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân; quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được pháp luật quy định; xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động CNTT; sản xuất, lưu hành sản phẩm CNTT trái pháp luật; giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác; tạo đường dẫn trái phép đối với tên miền của tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên miền đó.
    NN có chính sách ưu đãi, ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp CNTT (điều 48) trở thành ngành kinh tế trọng điểm; khuyến khích đầu tư mạo hiểm, đầu tư phát triển và cung cấp thiết bị số giá rẻ. NN ban hành quy định và tổ chức thực hiện các hoạt động phát triển thị trường công nghiệp CNTT (điều 49), bao gồm: thúc đẩy ứng dụng CNTT; ưu tiên sử dụng nguồn vốn ngân sách NN để mua sắm, sử dụng các sản phẩm CNTT được sản xuất trong nước; xúc tiến thương mại, tổ chức triển lãm, hội chợ trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia triển lãm, hội chợ quốc tế, quảng bá, tiếp thị hình ảnh công nghiệp CNTT của Việt Nam trên thế giới; phương pháp định giá phần mềm quản lý các dự án ứng dụng và phát triển CNTT. Sản phẩm CNTT trọng điểm (điều 50) bảo đảm được một trong những yêu cầu: thị trường trong nước có nhu cầu lớn, giá trị gia tăng cao; có tiềm năng xuất khẩu; tác động tích cực về đổi mới công nghệ và hiệu quả kinh tế đối với các ngành khác; đáp ứng được yêu cầu về quốc phòng, an ninh.
    (Nguồn: Luật Công Nghệ Thông Tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 hiệu lực từ 01/01/2007)

     

    Đào Minh Đức - Trưởng phòng SHTT sở KHCN TP.HCM

    ID: B0612_40