• Thứ Tư, 07/03/2007 10:14 (GMT+7)

    Kết nối doanh nghiệp

    Không cần nói thêm về Lạc Việt, một trong những công ty chuyên cung cấp giải pháp phần mềm (PM) hàng đầu Việt Nam. Thương hiệu này là thành quả lao động tạo dựng của hàng trăm người, trong đó phải kể đến vai trò của hai chị em “liễu yếu đào tơ”: Nguyễn Ngọc Phương Mai và Nguyễn Ngọc Phương Trúc

    Nguyễn Ngọc Phương Mai


    Tốt nghiệp ngành Quản Trị Kinh Doanh (KD), khoa Kinh Tế, ĐH Tổng Hợp TP.HCM, năm 1989, chị Mai bắt đầu sự nghiệp ở một công ty tin học. Từ không biết gì về tin học , chỉ là nhân viên thủ kho rồi kế toán vật tư, giao nhận hàng hóa ngoài cảng, sân bay, chị “mon men” làm quen với việc KD các mặt hàng tin học, chủ yếu phần cứng.

    Năm 1995, chị gia nhập Lạc Việt (LV) với chức danh trưởng phòng KD, phụ trách mạng lưới KD PM. Chị đã cùng đội ngũ nhân viên “nếm mật nằm gai”trong thời kỳ khó khăn nhất của lĩnh vực PM tại Việt Nam này. Nay, dù đã hơn 10 năm, chị vẫn “nằm lòng” số liệu KD của những năm đầu tiên: Năm 1996, LV ký được 6 hợp đồng. 1997 thêm 50 khách hàng (KH) dùng thử. 1998 có khoảng mười mấy KH dùng thật. Năm 1999, con số này là 40 khách hàng và nay đã là 1.500 KH, với khoảng 5.000 – 6.000 người dùng.

    Năm 2002, chị sang Mỹ học về cách thức triển khai, tư vấn ứng dụng triển khai hệ thống ERP (hoạch định nguồn lực DN). Về nước, đề án ERP đầu tiên mà chị triển khai cho khách hàng trị giá đến 1,2 triệu USD và đã thành công vào năm 2004.

       

    Ở mỗi lĩnh vực, chị Mai lại phát hiện ra những cái hay khác nhau. Đối với PM thì gieo hạt lâu dài và bền bỉ, luôn luôn phải cải tiến dịch vụ, chuẩn hóa hoạt động, đào tạo đội ngũ nhân viên. Còn phần cứng, hoạt động diễn ra nhanh, dồn dập. Một bên, công việc đòi hỏi sâu, một bên yêu cầu rộng. Nhưng dù ở lĩnh vực nào, công việc do chị quản lý đều trọn vẹn, có chiến lược, quy trình trơn tru. Đó là cái tài của một nữ quản lý chịu khó dấn thân vào môi trường CNTT.

     

    Cuối 2005, chị chuyển sang KD phần cứng và phải mất công sức, thời gian nghiên cứu công nghệ, sản phẩm, xây dựng lại toàn bộ quan hệ đối tác, đội ngũ KD. Kết quả vượt ngoài sự mong đợi. Doanh số năm 2006 của LV: 140 tỷ đồng, tăng 55% so với 2005, trong đó doanh số của trung tâm Tích Hợp Hệ Thống SIC do chị phụ trách đạt 112 tỷ đồng.

    Có được thành quả trên, không ít thiệt thòi mà chị phải gánh chịu. “Mấy năm trời, cứ hai giờ sáng là phải dậy đọc tài liệu, không còn thời gian lo cho con, gánh nặng gia đình đổ lên vai chồng. Không có sự hỗ trợ của vợ, chồng chị kinh doanh thua lỗ, bán cả nhà trong nội thành, mua đất xây nhà ở ngoại thành để có tiền trả nợ” chị bồi hồi nhớ lại. Nghị lực và sức mạnh của sự thuận hòa vợ chồng đã giúp gia đình chị vượt qua. Chị cùng chồng bình tĩnh sắp xếp việc nhà, tỉnh táo vạch kế hoạch, chiến lược kinh doanh để gầy dựng lại. Chị tâm sự: “Bây giờ tôi cảm thấy rất sung sướng. Ngoài công việc, tôi cũng dành thời gian cho chồng, con, trang trí nhà cửa, vui vẻ với bạn bè”.

    Tuy rất bận rộn nhưng chị Mai đã không ngần ngại dành thời gian trò chuyện với tạp chí Thế Giới Vi Tính về chặng đường kinh doanh thành công nhưng cũng lắm gian nan:

    Nguyễn Ngọc Phương Mai (ngồi) và em gái Nguyễn Ngọc Phương Trúc

     

    Thời điểm giữa thập niên 90, phần lớn DN chưa nhận thức lợi ích của ứng dụng CNTT, không quan tâm đầu tư PM. Trong bối cảnh vừa tăng cường nhận thức cho DN, vừa phát triển mạng lưới kinh doanh PM cho công ty, chắc chị gặp rất nhiều khó khăn?

    KD PM không đơn giản như phần cứng, nói cấu hình gì, bao nhiêu tiền là ký hợp đồng ngay. Phương châm của tôi là “gieo hạt” và “trồng cây lâu năm”, thậm chí phải “nuôi” khách hàng từ hai đến ba năm họ mới “ngấm” và chuyển sang sử dụng PM của mình. Một khái niệm rất mới trong PM lúc đó là “kế toán trọn gói”. Vì lúc đó, một số công ty tự viết PM hoặc thuê một nhóm chuyên ngành CNTT viết. Công ty “méo” thì ra PM “méo”, “tròn” thì ra “tròn”. LV lúc đó đưa ra giải pháp PM kế toán trọn gói áp dụng cho nhiều loại hình DN. Những năm đầu tiên, chúng tôi phải “chạy” bán cho từng người dùng.

    Tôi dùng “chiêu thức’’ sử dụng thử. Ký hợp đồng dùng thử và tổ chức đội ngũ KD đi chào hàng. Thử xong, KH thấy “được” quay trở lại dùng “thiệt”. Cũng có KH không quay lại mà tự tìm những PM rẻ tiền hơn để dùng, nhưng khi những PM ấy thiếu tính năng đáp ứng nhu cầu, họ lại hướng đến LV. “Một mình một ngựa”, vác cái laptop nặng ì trên lưng chạy 60km đi các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương chào hàng, tư vấn là việc diễn ra thường xuyên với tôi.

    Qua một, hai KH, lần lần tôi mới nhận ra một cách thức làm chuẩn PM: phải đủ linh hoạt để có thể áp dụng cho nhiều DN khác nhau. PM LV lúc mới ra đời chưa đầy đủ chức năng. Tôi lắng nghe ý kiến KH phản ánh và truyền đạt cho bộ phận kỹ thuật điều chỉnh. Lần lần tôi “lấn sâu" vào nghề, trở thành cầu nối giữa bộ phận kỹ thuật và KH, từ đó chuyển được ngôn ngữ KD vào PM. Việc này đồi hỏi phải hiểu biết nghiệp vụ, cách thức hướng dẫn KH ứng dụng PM vào công tác cụ thể.

    Có lúc nào chị mệt mỏi khi KD theo kiểu “kiến tha lâu đầy tổ” ?

    Không. Nhưng rất vất vả. Những ngày đầu tiên đưa PM LV ra thị trường mới thật khủng khiếp. Nghiệp vụ của đội ngũ triển khai chưa đủ mà kỹ thuật cũng chưa đầy. PM liên tục bị lỗi. Tuy nhiên, chúng tôi cũng may mắn có những KH thông cảm và cùng chúng tôi hoàn thiện PM. Chúng tôi thật sự tri ân những KH đầu tiên ấy.

    Có phiên bản mới, ngay lập tức chúng tôi cập nhật cho KH để điều chỉnh lỗi hoặc bổ sung tính năng. KH cũng rất chịu khó thay đổi nhu cầu nếu chưa phù hợp. Chính sự cộng tác "tương hỗ" này giúp DN và chúng tôi hoàn thiện sản phầm, giảm khuyếm khuyết.

    Nhìn lại, tôi thấy mình đã gầy dựng đuợc một thương hiệu PM kế toán LV thuộc loại cao cấp ở Việt Nam, thậm chí có thể đánh bật một số PM nước ngoài vì nó rất gần gũi với môi trường kinh tế và phù hợp với hệ thống tài chính kế toán ở Việt Nam. LV cũng tạo dựng được đội ngũ tư vấn, triển khai chuyên nghiệp. Rất nhiều KH sử dụng PM kế toán nước ngoài quay sang sử dụng PM LV.

    Vất vả gầy dựng và thành công trong lĩnh vực KD PM, tại sao chị chuyển sang trung tâm Tích Hợp Hệ Thống SIC? Chị có thấy tiếc cho kinh nghiệm về KD PM?

    Đó là theo nhu cầu công ty. Tôi thấy việc này như sự "sắp đặt” của ông trời(!?): muốn mình có cái nhìn trọn vẹn về cái gọi là giải pháp CNTT đầy đủ cho KH. Bởi vì, làm PM thì chỉ chăm chút vào việc làm thế nào khai thác hết các công năng của nó, nhưng sang phần cứng mới thấy rằng muốn PM chạy tốt, ổn định, nhanh chóng cần phải có hạ tầng vững. Xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT cho DN gồm các thiết bị phần cứng, máy tính, mạng, hệ thống tích hợp như phần móng và tầng trệt của căn nhà nhiều tầng, còn đầu tư PM ứng dụng giống như tầng 1, tầng 2.

    Chuyển sang phần cứng, có quá nhiều cái mới những tôi không được phép thử nghiệm, nghiên cứu, mà phải vừa học, vừa làm, và không chỉ một mình mà phải "lo" cả một đội ngũ nhân viên. Thời gian đầu tôi như bị “sóng thần” đánh. Mọi thứ đập vào cái “ầm”, chỉ có hai con đường, một là chìm, hai là phải cố hết sức để ngoi lên. Và không chỉ công việc mà gia đình cũng thay đổi. Ngẫm nghĩ lại, tôi tự cảm ơn cái tính “lì lợm” đã giúp tôi vượt qua được những ngày tháng gian khổ ấy (cười).

    Nguyễn Ngọc Phương Trúc

       

    Ẩn sau dáng người nhỏ nhắn của nữ trưởng phòng tư vấn tích hợp hệ thống thông tin của công ty Lạc Việt này là bề dày kinh nghiệm làm dự án và hàng loạt bằng cấp, chứng chỉ thuộc loại “khó” trong ngành CNTT. 13 năm làm việc trong lĩnh vực CNTT với hơn 8 năm kinh nghiệm tư vấn, chị Trúc đã tham gia thiết kế, tư vấn và triển khai nhiều dự án hệ thống tích hợp thông tin (LAN/WAN, Remote Access, VPN, Wireless, Data Center...) cho đại học, khách sạn, công ty tầm cỡ ở trong và ngoài nước.

     
       
       

    Tôi vào ngành CNTT là từ truyền thống gia đình: ảnh hưởng từ 2 người chị, hiện cũng làm cho LV và anh rể, giám đốc công ty LV. Tốt nghiệp khoa Toán - Tin, ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM năm 1994, tôi vào làm việc ngay từ những ngày đầu thành lập công ty LV.

    Phụ nữ chọn cái nghề kỹ thuật đã thấy khó, mà đi chuyên về CNTT thì càng khó hơn, nhất là phải làm sao vừa chu toàn cho gia đình vừa đảm bảo chất lượng công việc. Nhưng tôi vốn đam mê CNTT từ khi còn học trung học và được gia đình hỗ trợ nên mới có điều kiện theo đuổi nghề này.

    Từ kiến thức nền về lập trình khi học ĐH, vào Lạc Việt ban đầu tôi chọn lĩnh vực phần cứng, nghiên cứu về cấu trúc máy tính, nhưng sau đó hệ thống mạng đã cuốn hút nên tôi chuyển sang nghiên cứu chuyên sâu về mạng từ năm 1995. Thời điểm này, tin học ở Việt Nam chưa phát triển, nhất là hệ thống mạng, tài liệu cũng rất ít. Việc tìm hiểu trên Internet cũng không thể vì đường truyền chưa phát triển, chủ yếu tự tìm tài liệu, thông tin, bổ sung kiến thức từ đối tác, bạn bè. Công việc này chiếm rất nhiều thời gian, kể cả làm việc ban đêm. Đôi lúc tôi bị quá tải nhưng cũng may tôi đã được gia đình động viên, hỗ trợ tối đa. Cũng chính vì vậy, thú thật là phụ nữ nhưng chuyện bếp núc tôi rất “dở”.

    Sản phẩm và công nghệ trong lĩnh vực CNTT thay đổi nhanh chóng, do đó người thiết kế phải tìm sản phẩm, công nghệ phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Nhiều lúc, yêu cầu của khách hàng khá mênh mông, mình phải tìm hiểu để phù hợp với yêu cầu của họ đồng thời cũng hướng họ theo hướng mà mình thấy tốt hơn cho khách hàng. Nhiều khách hàng cứ muốn theo quan điểm của họ. Điều này không chỉ yêu cầu người thiết kế phải có kiến thức sâu, rộng về kỹ thuật, mà còn có kỹ năng giao tiếp để có thể thuyết phục khách hàng.

    Công việc của tôi bấy giờ là tư vấn, thiết kế, đưa ra giải pháp. Mỗi khi có đề án, nhóm tư vấn và nhóm triển khai sẽ phối hợp với nhau để hòan thành đề án...

     

     

    Một số dự án chính chị Trúc đã tham gia: hệ thống mạng tích hợp tại Citibank HN và Citibank TP.HCM (1998-1999); hệ thống mạng tích hợp tại trung tâm Thông Tin Tư Liệu (IRC) - ĐH Đà Nẵng, năm 2000; hệ thống liên mạng tại ĐH Đà Nẵng năm 2000; hệ thống mạng tích hợp tại nhà máy Dona Pacific, năm 2002; hệ thống mạng tích hợp tại Bia Bến Thành, năm 2003; hệ thống tích hợp tại Palm Garden Resort - Hội An, năm 2004; hệ thống mạng tích hợp và cáp có cấu trúc tại Maersk - Singapore; hệ thống mạng tích hợp tại Blue Scope Steel, năm 2005; hệ thống cáp có cấu trúc tại RMIT Q.7, TP.HCM,năm 2005; hệ thống mạng tích hợp tại công ty Chế Biến Sản Phẩm Dầu Khí Vũng tàu - PVGAS, năm 2006...

     

    Với những công trình cụ thể, như ĐH Đà Nẵng, Huế - Tetra Pak, có những thiết bị tầm lớn của Cisco, ở Việt Nam chưa hề có, khi triển khai bắt buộc phải tham khảo qua tài liệu chứ không có điều kiện nhập về để nghiên cứu, triển khai thử vì những thiết bị này rất đắt tiền. Hệ thống trung tâm thông tin tư liệu của ĐH Đà Nẵng triển khai năm 1999 - 2000 có cả nghìn nốt mạng buộc phải tìm hiểu tài liệu rất lâu. Cũng có những trường hợp triển khai dự án hệ thống mạng tích hợp, chẳng hạn tại Citibank Hà Nội và TP.HCM, bệnh viện FV, các đối tác nước ngoài tỏ vẻ e ngại, không tin tưởng, cho rằng phụ nữ như tôi chỉ thích hợp với công việc văn phòng, trong quá trình triển khai họ còn đi theo xem mình có biết làm hay không (!). Nhưng các giải pháp của chúng tôi đưa ra đều đáp ứng yêu cầu và triển khai suôn sẻ. Để làm được như vậy, tôi và các công sự phải làm việc không kể ngày đêm.

    Ngành CNTT VN có tốc độ phát triển rất nhanh. Sau giai đoạn phát triển, xu hướng sắp tới bảo mật sẽ trở thành vấn đề “nóng”. Do đó, đòi hỏi người theo nghề phải đam mê, gắn bó công thời gian cập nhật kiến thức, bổ sung kỹ năng, bằng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Qua 13 năm thực hiện nhiều dự án lớn, đôi lúc tôi thấy chưa làm được như mình mong muốn.

    ID: B0703_28