• Thứ Bảy, 14/04/2007 09:47 (GMT+7)

    Kể tiếp chuyện “Đội quân máy tính” tiếp quản Sài Gòn

    Về lịch sử tiếp quản các máy tính (MT) ở miền Nam sau ngày giải phóng và tổ chức khai thác các máy IBM360/50, IBM360/40, IBM360/30, IBM360/20 do trung tâm (TT) Toán – MT Quân Đội quản lý, nhiều bài viết trước đây ghi lại lời kể của các anh Trần Thế Nam, Lê Tự Thành, Nguyễn Trọng, Nguyễn Quang Bắc (các chuyên gia gạo cội của làng CNTT Việt Nam - BTV)… đã phản ánh một số nét trong những ngày mới vào tiếp quản MT ở thành phố Sài Gòn (SG). Bài viết của tôi sẽ kể thêm nhiều chuyện nữa về “đội quân MT”…

    kể thêm về “đội quân máy tính”

    Vào thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, viện Kỹ Thuật Quân Sự - bộ Quốc Phòng (viện KTQS) đã đề xuất cấp trên tổ chức những đoàn cán bộ vào miền Nam trước ngày giải phóng để chuẩn bị tiếp quản những cơ sở khoa học kỹ thuật (lúc đó Viện chưa biết chắc miền Nam có MT không). Được tham gia những đoàn này là một vinh dự lớn! Không phải ai muốn đi cũng được. Đại tá Hoàng Đình Phu (viện trưởng viện KTQS lúc đó) trong hồi ức “Từ nhà trường đi vào hai cuộc kháng chiến” kể: tháng 3/1975, viện KTQS được Bộ Tổng Tham Mưu cho phép vào tiếp quản cơ sở vật chất kỹ thuật của Mỹ - quân đội SG cũ tại các nơi mà ta vừa giải phóng.

     

    Ảnh chụp vào tháng 5/1975 bên bàn điều khiển máy tính IBM360/50. Từ trái sang phải: Đại úy Nguyễn Lãm, Anh Âu,chuyên gia Việt kiều ở Pháp,trung úy Lê Thanh Nhân,cán bộ trung tâm Toán - Máy Tính quân đội và ba nhân viên cũ của trung tâm IBM360/50.

    Đoàn có 3 người: Đại tá Hoàng Đình Phu, anh Nguyễn Đăng Đắc, đại diện bộ Tham Mưu, tổng cục Kỹ Thuật (bộ Quốc Phòng) và anh Bùi Quang Độ, cán bộ nghiên cứu phòng Điện Tử, viện KTQS. Thật ra, lúc bấy giờ viện KTQS chủ yếu quan tâm đến những thiết bị điện tử, đặc biệt là hệ thống thông tin đối lưu ICS, là hệ thông tin hiện đại nhất của Mỹ mà phòng Thông Tin Khoa Học Kỹ Thuật Quân Sự của Viện trước đây đã bỏ ra khá nhiều công sức sưu tầm tài liệu về nó.

    Khi anh Phu đang ở Đà Nẵng thì bộ Quốc Phòng và tổng cục Kỹ Thuật chỉ thị viện KTQS cử thêm một đoàn cán bộ do anh Ngô Đình Liêu, cán bộ Viện, làm trưởng đoàn, đi theo các đơn vị chiến đấu của ta ven biển miền Trung để tiếp quản các cơ sở vật chất kỹ thuật các vùng mới giải phóng. Hồi ức ghi: “Đến Phan Rang, đoàn anh Liêu rẽ lên Đà Lạt, tiếp quản lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Tiếp quản xong lò phản ứng hạt nhân, đoàn của anh Liêu để lại một bộ phận ở đó để quản lý và quay xuống SG. Tôi (đại tá Phu) gặp anh Liêu và nhiều cán bộ của Viện ở Tân Sơn Nhất mới tiếp quản xong hai TT MT IBM360/40 và IBM360/50 trong niềm hân hoan phấn khởi của mọi người”.

    Một ít lâu sau khi tiếp quản SG, anh Hoàng Đình Phu quay ra Bắc chuẩn bị thêm lực lượng bổ sung cho tiếp quản và nhanh chóng trở lại SG. Lần này, vì có tiếp quản MT nên tôi được cử đi. Trong nhiều việc phải làm, tôi xin kể ra đây một vài việc mà tôi còn ghi nhớ.

    Để cho các sĩ quan quân đội SG cũ đang ở lại làm việc với ta tại TT IBM360/40 yên tâm, tôi xin gặp Thượng Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch uỷ ban Quân Quản Thành Phố đề nghị Thượng Tướng đến nói chuyện với số sĩ quan này, trong đó có đại tá Chu Văn Hồ. Thượng Tướng Trần Văn Trà nhận lời ngay và đã đến nói chuyện. Trước đó, sau khi giải phóng SG, vào ngày 7/5/1975 Thượng Tướng Trần Văn Trà đã thay mặt ủy ban Quân Quản đọc diễn văn ra mắt trước đông đảo đồng bào ở sân “Dinh Độc Lập”, kêu gọi: “Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi hãy cùng nhau đồng tâm hiệp lực xây dựng lại quê hương, mau chóng băng bó lại những vết thương chiến tranh”. Khi tiếp xúc với số sĩ quan cũ ở TT IBM360/40, không phải Thượng Tướng Trần Văn Trà đọc lại nguyên văn diễn văn này, nhưng những ý chủ yếu thì Thượng Tướng có nhắc đến. Buổi gặp gỡ đó thực sự có ích. Số sĩ quan cũ ở lại làm việc ở TT yên tâm hơn và đã cùng với anh em ta khai thác máy rất hiệu quả.

    Thượng Tướng Trần Văn Trà còn ký cho tôi một tập giấy giới thiệu để đi tìm hiểu MT ở các nơi khác, muốn đi đâu cũng được. Nhờ giấy giới thiệu này tôi đã đến nhiều TT MT, phần lớn các TT này có máy IBM360/40. Nơi nào chưa có người cai quản, chúng tôi cử người đến quản lý, sau đó bàn giao lại cho các bộ chủ quản.

    SG 1975 đã có khá nhiều máy tính

    Người đầu tiên chiếm giữ các TT MT của Mỹ và quân đội SG cũ là bộ đội chủ lực. Nhưng, nhờ có “đội quân MT” tiếp nhận kịp thời nên hầu hết các TT MT ở SG đã được bảo quản. Ngoài những MT kể trên trong các bài viết đã công bố, còn một số máy khác như IBM360/20 của bộ Tư Lệnh Hải Quân mà trước đây bộ Tư Lệnh Hải Quân quân đội SG cũ dùng để nắm quân số, vật tư, trang bị; máy Univac của bộ Tư Lệnh Không Quân mà trước đây quân đội SG cũ dùng để nắm trang bị vật tư trong không quân, sau khi tiếp quản ít lâu, máy Univac được tháo dỡ đưa từ Biên Hoà về Tân Sơn Nhất giao bộ Tư Lệnh Phòng Không quản lý.

    Đại úy Nguyễn Lãm (bên phải) cùng với anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung (giữa) và thượng úy Đặng Minh Ngạc (cán bộ VKTQS) ở sân bay Tân sơn Nhất vào tháng 5/1975.

     

    Đại tá quân đội SG Chu Văn Hồ, chỉ huy trưởng TT MT của bộ Tổng Tham Mưu quân đội SG kể: hai cha con ông giữ toàn Bộ chìa khoá các phòng máy và đã nằm suốt đêm ở TT để chờ đợi quân giải phóng vào. Ngày hôm sau, bộ đội giải phóng vào, cha con ông Hồ đã giao chìa khoá từng phòng máy cho bộ đội. Mọi thiết bị, tài liệu thuộc TT này hầu như nguyên vẹn.Về sau, chúng tôi chẳng những khai thác máy IBM360/40 của TT này rất chủ động, phục vụ được nhiều yêu cầu mà còn cung cấp cho quân đội ta nhiều dữ liệu về quân đội SG cũ lưu trữ ở đây.

    Riêng khu sân bay Tân Sơn Nhất, vào dịp này, ngoài 3 cơ sở IBM360/40, IBM360/50, Univac đã tiếp quản và quân đội đang quản lý, tôi đến khu MT IBM360/30 chưa ai đến. Đó là cơ sở MT của hãng PACIFIC (Mỹ) chuyên dùng IBM360/30 để quản lý vật tư xây dựng công trình quân sự của chế độ cũ.

    Các phòng đặt máy cũng như phòng làm việc của cơ sở này khi tôi đến đang ngổn ngang, ngập ngụa giấy đủ các loại và bốc mùi rác. Tôi tổ chức anh em dọn dẹp, sau đó tìm hiểu máy và phân công anh em canh giữ. Lúc đó chưa chuẩn bị mọi yếu tố cần thiết để cho máy chạy. Về sau này, khi tăng cường thêm lực lượng ở Bắc vào, TT đã tìm cách khôi phục máy này, cho máy làm việc và kết quả tuy rất hạn chế, nhưng IBM360/30 cũng tham gia làm được một số việc.

    TT IBM360/50 ở khu vực MACVI/DAO, Tân Sơn Nhất gọi là TT Điện Toán Tiếp Vận, là TT xử lý số liệu hậu cần của Mỹ và quân đội SG mà toàn bộ vật tư của kho Long Bình, từ cái kim sợi chỉ đều được cập nhật số liệu thường xuyên. Trước đây, vào khoảng cuối những năm 60 đầu những năm 70, Mỹ dùng IBM360/50 này để phục vụ cho chỉ huy không quân trên cả khu vực Đông Nam Á. Đây là MT có năng lực lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ. Nói rộng ra thì ở miền Nam vào thời điểm đó có một trình độ ứng dụng tin học cao hơn tất cả các quốc gia khác trong khu vực và máy IBM360/50 cũng là máy có năng lực lớn nhất khu vực.

    Công việc khó khăn

    Có một số công việc diễn ra khá thuận lợi như cùng với một số chuyên gia kỹ thuật của TT cũ còn ở lại, cán bộ TT Toán - MT vào tiếp quản đã khôi phục cho máy IBM360/50 làm việc và chúng tôi đã khẩn trương liên hệ với các bộ, ngành, cơ quan nhà nước khai thác máy. Một bài toán xử lý có hiệu quả nổi bật là xử lý dữ liệu thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía Nam. Sau này, anh Chu Việt Cường (PGS TSKH, công tác tại phân viện CNTT tại TP.HCM của bộ Quốc Phòng) chủ trì nghiên cứu một đề tài nhà nước, góp phần khai thác dầu khí của liên doanh Dầu Khí Vietsopetro: “Xây dựng bộ chương trình xử lý các thông số cơ lý hoá của mẫu hỗn hợp dầu khí”.

    Anh Trần Duy Thoả, cán bộ của TT Toán – MT Quân Đội, trong số những người vào tiếp quản MT đầu tiên báo cáo: chiều ngày 2/5/1975, quân ta phát hiện dàn máy IBM360/20 của TT Điện Toán bộ Quốc Phòng quân đội SG ở 63 đường Gia Long. Ngày 5/5/1975 anh Thoả được giao nhiệm vụ tiếp quản, chốt giữ. TT này thuộc tổng nha Tài Chính và Thanh Tra Quân Khí của quân đội SG nên sau đó, ngày 9/5/1975, đồng chí Lê Quang Sa, trung tá - trưởng đoàn tiếp quản của cục Tài Vụ, bộ Quốc Phòng cũng cử cán bộ tới tiếp quản. Hai bên thống nhất giao anh Thoả phụ trách. Cục Tài Vụ có anh Huỳnh Ngọc, kỹ sư MT, tham gia.

    TT này đã hoạt động từ tháng 7/1973, để điện toán hoá lương bổng và phụ cấp quân đội chế độ cũ, công tác dự trù và thi hành ngân sách quốc phòng, điều hợp quân số hưởng lương và quân số hiện diện, yểm trợ tổng nha Nhân Lực về quản trị nhân lực. Báo cáo của anh Thoả trình bày tỷ mỷ lợi ích của TT trong thống kê quân số, sử dụng ngân sách, sử dụng nhân viên; trình bày biên chế tổ chức của TT; ý chừng anh muốn thuyết phục quân đội ta xây dựng một TT theo mô hình này để quản lý tài chính quân đội. Anh Thoả cũng cho biết tình trạng thiết bị, nguyên liệu,vật tư, phương tiện làm việc và các loại hồ sơ tài liệu ở TT.

    Để khôi phục lại hoạt động của máy IBM360/20, các anh đã cho gọi 5 sĩ quan và nhân viên cũ chủ chốt đến khai thác tình hình và giao nhiệm vụ cho họ thông báo lại cho toàn bộ nhân viên cũ làm việc ở TT đến gặp. Cuối cùng các anh đã sử dụng trở lại một số nhân viên sau: một trưởng ban thảo chương, một điều hành viên điện tử, một xuyên phiếu viên, một thợ sửa chữa điện và máy lạnh, một lao công vệ sinh.

    Thấy tình hình bảo quản trang thiết bị, vật tư của một số cơ sở MT tiếp quản được chưa chặt chẽ, anh Thoả đề nghị một số việc cần phải làm: “Có mệnh lệnh chính thức đối với các cơ quan đã và sẽ tiếp quản từ cơ quan bộ Quốc Phòng về nhiệm vụ và quyền hạn của chúng tôi (cán bộ TT Toán – MT). Vừa rồi, qua hai lần di chuyển, bàn giao đã có nhiều chuyện sđáng tiếc: tháo gỡ, di chuyển và phá hỏng nhiều tài sản công”.

    Nói thêm vài nét về TT ở bộ Tổng Tham Mưu quân đội SG cũ. TT này đầu tiên gọi là TT Điện Cơ Kế Toán, nhưng từ năm 1968 thì đổi là TT Khai Thác An Bài Điện Tử. TT trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu quân đội SG cũ dưới sự giám sát hoạt động của phòng Tổng Quản Trị - bộ Tổng Tham Mưu. TT có chức trách xử lý dữ liệu cho quản lý quân số, tuyển quân. Trước đây TT này có máy IBM360/20, cuối năm 1972 thì được trang bị máy IBM360/40. TT đảm trách những công việc: thống kê quân số, thiết lập danh sách và lệnh gọi nhập ngũ, yểm trợ việc quản trị nhân viên. Ngoài ra TT còn hỗ trợ cho các TT khác như Điện Toán Tiếp Vận, Điện Toán Hải Quân, Điện Toán Không Quân.

    Nhờ chúng ta tiếp quản thành công và khôi phục được hoạt động của TT này mà đã cung cấp được nhiều dữ liệu quan trọng về sĩ quan quân đội SG cho các cơ quan chức năng của ta xử lý trong quá trình giáo dục cải tạo họ sau này. Sau một tháng ở SG, tôi ra lại miền Bắc để tổ chức lực lượng bổ sung cho các TT phía Nam…

    Hình tư liệu do tác giả cung cấp.

    Nguyễn Lãm

    ID: B0704_3