• Thứ Sáu, 13/04/2007 14:53 (GMT+7)

    Tổng quan về tích hợp ứng dụng

    Khá nhiều DN và ngay cả nhà cung cấp công nghệ chưa định nghĩa được chữ "tích hợp" một cách thỏa đáng. Một số DN CNTT đang tự phong cho mình chữ System Integrator (nhà THHT) để khẳng định đẳng cấp của mình (!)

    Nếu một công ty chuyên triển khai mạng nội bộ (LAN), với 2 - 3 nhân viên chuyên đi lắp đặt ADSL và một cái Hub cho vài khách hàng không hơn 10 người dùng cuối, rồi tự cấp cho mình nhãn hiệu System Integrator (SI) thì thật tội nghiệp cho các nhà SI hàng đầu như IBM, Accenture hoặc FPT tại VN. Và cũng thật tội nghiệp cho khách hàng khi không phân biệt ngô khoai và giao những công việc phức tạp về tích hợp các qui trình quản lý với CNTT cho những công ty này.

    Những kiến trúc cơ bản về truyền dữ liệu (DL) giữa 2 máy tính trong mô hình OSI 7 Layers (mô hình bảy lớp) (đọc thêm ở http://www.webopedia.com/quick_ref/OSI_Layers.asp) thường được coi là tiêu chuẩn khi nói đến kỹ thuật tích hợp. Các công ty kiến thiết và phát triển phần cứng cũng dùng mô hình này để có thể đồng bộ hóa những phát minh của mình.

    Theo thiển ý của người viết, các layers 1,3,4,5,6 đã được các nhà nghiên cứu, kiến thiết và triển khai phần cứng (IBM, Intel, Sisco, Siemens etc...) giải quyết trước khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường. Công việc còn lại của các nhà cung cấp phần cứng hoặc cài đặt sản phẩm có lẽ không nên gọi là “tích hợp”. Các nhà tích hợp thường chú tâm đến 2 lớp còn lại của mô hình OSI: Layer 2 là kiến trúc tổng quát về truyền DL ở mức độ vật lý; Layer 7 là kiến trúc về ứng dụng.

    Các DN VN hiện nay có rất nhiều mối quan tâm về THHT. Việc tích hợp mạng diện rộng (WAN, MAN) đã và đang được các nhà cung cấp (VNPT, FPT, Viettel, EVN Communications...) giải quyết. Tuy nhiên, việc tích hợp các ứng dụng hình như đang bị bỏ rơi và có thể sẽ hình thành một lỗ hổng lớn trong thời gian tới. Bài viết này sẽ chú ý đến việc tích hợp nhằm giải quyết bài toán quản trị DN.

    Tích hợp DL – tích hợp ứng dụng

    Tích hợp DL (Data Integration) là qui trình trao đổi DL giữa các hệ thống quản lý thông tin kinh doanh (KD) để đưa ra được thông tin đầy đủ nhằm phục vụ mục đích quản trị. Khi hai ứng dụng (Applications) trao đổi DL dựa trên thông tin của các qui trình định sẵn, chúng ta gọi là tích hợp ứng dụng (Enterprise Application Integration hay là EAI). Khi DN xử lý các qui trình nghiệp vụ khác nhau (kế toán, xuất kho, trả nợ...), các qui trình này sử dụng những DL và cách tính toán như nhau, ta gọi đó là tích hợp qui trình.

     

    Mô hình tích hợp ứng dụng 7 lớp

    Thường thì triển khai phần mềm (PM) quản lý DN đã được thực hiện từng phần, từng đợt khác nhau với các PM không giống nhau về mặt kiến trúc và định nghĩa dữ liệu. Các DN đều gặp phải vấn đề rất khó khăn là làm sao để DL từ các PM khác nhau, phục vụ cho các mục đích của các bộ phận khác nhau, được tập trung về hệ thống quản lý tài chính trung tâm nhằm đáp ứng những nhu cầu thông tin quản lý để ban lãnh đạo kịp thời ra quyết định. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cùng với cơ hội tham gia thị trường toàn cầu đang gần kề và phải đối mặt những đối thủ khổng lồ với hệ thống thông tin tích hợp hiện đại và chính xác thì nhu cầu tích hợp DL quản lý DN càng bức thiết cho bất cứ DN nào muốn đứng vững.

    Trong quá trình hình thành DN, với nhu cầu PM quản lý theo nhu cầu tự phát - thiếu tính chiến lược - DN mua hoặc tự phát triển một PM nhằm mục đích quản lý, lưu trữ và tra cứu DL kế toán một cách nhanh nhất và để công việc kế toán được dễ dàng hơn. Khi có nhu cầu cao hơn về quản lý khách hàng, quản lý công nợ, quản lý khoản phải trả, quản lý kho... DN tiếp tục phát triển các phân hệ khác nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau đó. Dần dà, DN nhận ra mình đang sở hữu một PM "tả pí lù", từng PM một thì thỏa mãn được một nhu cầu nào đó, nhưng các PM này lại không chia sẻ DL với nhau và các báo cáo có những con số khác biệt nhau một cách bí hiểm.

    Nhu cầu

    Đến thời điểm hiện nay những hệ thống như vậy bộc lộ quá nhiều khuyết điểm do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan:

    • Các PM thiếu một kiến trúc và tiêu chuẩn DL đồng nhất

    • Các PM thiếu cơ sở đồng nhất về hạ tầng

    • Do DN phát triển nhanh chóng, số lượng giao dịch tăng làm ảnh hưởng đến hoạt động của PM mà mục đích chỉ sử dụng cho các giao dịch đơn lẻ

    • Có quá nhiều PM nhỏ lẻ, khó quản lý, chi phí cho đội ngũ quản lý từng PM rất lớn

    • Các phòng ban chức năng phải thực hiện trao đổi DL hay báo cáo vào kỳ báo cáo, do đó ban quản trị chậm nhận được báo cáo về tình hình hoạt động của DN, gây chậm trễ trong việc ra quyết định

    • Việc quản lý sẽ trở nên khó kiểm soát nếu DN có nhiều chi nhánh hoặc bộ phận trong nước và nước ngoài, hay công ty muốn chuyển đổi thành tập đoàn hay công ty đa quốc gia.

    Để khắc phục các điểm yếu trên, DN thường chọn một trong hai giải pháp:

    1. Chọn mua một PM hoàn toàn mới, có tất cả chức năng cần thiết cho việc quản lý tổng thể với chi phí PM và chi phí triển khai, bảo trì cao với sự chuyển đổi DL phức tạp

    2. Xác định một PM tích hợp trung tâm (Central Integration Hub), liên kết đồng bộ DL của các phân hệ khác về hệ thống tích hợp này, rồi gửi dữ kiện cập nhật trực tuyến đến các phân hệ hoặc hệ thống khác.

    Gần đây, một số DN lớn trong nước bắt đầu chuyển sang mua và triển khai các PM ERP đã được sử dụng nhiều trên thế giới như của Oracle, SAP, Sun System..., các PM chuyên biệt cho hệ thống khách sạn, bảo hiểm, ngân hàng, bệnh viện... với chi phí đầu tư lên đến vài trăm nghìn hoặc vài triệu USD. Không phải tất cả những DN này đều đã nghĩ đến bài toán THHT. Họ đã chọn nhiều PM khá khác nhau để triển khai. Có công ty đã chọn Oracle cho kế toán tài chính; SAP cho phân hệ CRM; Solomon cho kho bãi và phân phối. Triển khai như thế có lợi là sẽ sử dụng được tất cả thế mạnh của mỗi PM, nhưng giải pháp tích hợp các hệ thống này trong tương lai sẽ là một gánh nặng làm gãy lưng bất cứ một đội ngũ IT mạnh mẽ nào.

    Mô hình tích hợp Hub and Spoke

    Giải pháp

    Tích hợp DL nhằm đạt được mục đích quản lý DL đồng bộ nhanh nhất, đỡ tốn kém và ít ảnh hưởng đến hoạt động thường nhật của DN nhất. Các bước căn bản của một dự án tích hợp như sau:

    Bước 1: Chọn PM tích hợp

    PM tích hợp thường có những khả năng tối thiểu như sau: Extraction (lấy DL từ các phầm mềm hoặc cơ sở DL khác), Mapping (ánh xạ các DL khác nhau), Transport (có thể chuyển DL qua các hệ thống khác nhau), Schedule (vận hành theo một lịch định sẵn). PM tích hợp thường bắt đầu bằng tích hợp các DL về tài chính về các phân hệ quản lý tài chính. Mọi thông tin, DL về hoạt động của DN cuối cùng cũng phải được phản ánh trên bảng báo cáo tài chính, do đó, một PM lớn như Oracle, SAP đều có những chức năng tích hợp nhằm mục đích trao đổi DL giữa các phân hệ với nhau hay giữa PM này với PM khác. Hiện nay hầu như các công ty PM đều chú ý đến nhu cầu tích hợp DL của các DN nên luôn luôn cho phép thông tin từ các PM bên ngoài tích hợp với DL tài chính theo một phương pháp nhất định.

    Bước 2: Chọn DL cần đồng bộ

    Việc chọn DL cần đồng bộ tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể từng DN và phụ thuộc vào đặc tính của các PM có DL tham gia vào quá trình đồng bộ. Điều khó khăn nhất khi định nghĩa DL cần đồng bộ là các bộ DL chủ (Master Data), thí dụ như danh sách khách hàng, danh sách các nhà cung cấp, danh sách tư liệu sản xuất. DL, do phát triển bởi nhiều lần khác nhau, đã được định nghĩa khác nhau, giờ này cần phải dọn dẹp (Data Cleansing) và ánh xạ (Data Mapping) với một số qui luật nào đó mà chỉ những chuyên viên hệ thống mới biết được. Việc đồng bộ yêu cầu DN xác định một cách chính xác và cụ thể DL ra cần thiết cho hệ thống 2 là DL gì, từ đó xem xét hệ thống 1 cần phải cung cấp DL vào như thế nào và bộ xử lý DL phải hoạt động theo cơ chế nào .

    Bước 3: Xây dựng quy trình đồng bộ

    Khi xây dựng quy trình đồng bộ cần chú ý đến những đặc điểm sau: việc xây dựng quy trình đồng bộ phải xem xét từ khía cạnh kỹ thuật của chương trình và nghiệp vụ của DN sao cho quy trình đồng bộ đảm bảo được việc trao đổi DL đúng mục đích, đúng thời gian, chính xác và an toàn. Muốn đạt được những yêu cầu trên thì việc phân tích quy trình cần có sự tham gia của các bộ phận liên quan đến DL của các chương trình cần tích hợp, phải có một sự cam kết thực hiện cụ thể và đồng nhất để các bên tham gia thực hiện.

    Bước 4: Đội ngũ phát triển chương trình đồng bộ

    Dự án tích hợp gồm nhiều quy trình khác nhau với nhiều loại DL khác nhau cần trao đổi (được xác định ở bước 2). Đội ngũ xây dựng chương trình đồng bộ cần được dựa trên cơ sở các loại DL và quy trình cần đồng bộ mà chỉ định các bên liên quan tham gia, thường thì các nhân tố về kế toán và CNTT là bắt buộc cho việc xây dựng một chương trình đồng bộ DL tài chính hoàn hảo. Các phòng ban là chủ các phân hệ khác như quản lý kho, quản lý phân phối cũng cần tham gia trong một khoảng thời gian nhất định.

    Triển khai THHT cần tính đến thời gian, ví dụ: triển khai một hệ thống ERP mất từ 6 tháng đến 1 năm, chiếm dụng tài nguyên và đôi lúc làm gián đoạn hoạt động của DN trong thời gian dài, với việc đồng bộ DL cũng chiếm tổng số tài nguyên không nhỏ hơn. Thông thường, chi phí triển khai hệ thống tích hợp tốn khoảng 30% tổng chi phí triển khai các hệ thống cần tích hợp.

       

    Các bước căn bản của một dự án tích hợp
    1. Chọn PM tích hợp (Integration Software, thí dụ OracleAS InterConnect, BEA WebLogic Integration, Tibco (IBM), IBM MQ Series (giờ là một phần của gia đình WebSphere), Vitria, WebMethods, CrossWorlds, SeeBeyond (SUN MicroSystem), JCA/JMS của J2EE Standards, Microsoft BizTalk)
    2. Xác định DL cần đồng bộ, định nghĩa các Master Data
    3. Xây dựng quy trình đồng bộ
    4. Xây dựng đội ngũ triển khai chương trình đồng bộ.

     

    Hệ thống tích hợp tốt sẽ làm cho quy trình KD của DN hoạt động liền mạch, không đứt đoạn, nâng cao hiệu quả KD, giúp cho lãnh đạo DN nắm được chính xác và tức thời kết quả hoạt động KD của DN và đưa ra được quyết định chính xác, tăng khả năng cạnh tranh. Chúng ta đã từng biết có những công ty đa quốc gia như Cisco, Oracle, BA (British Airline) có hàng trăm chi nhánh trên thế giới có thể đóng sổ hàng ngày và lãnh đạo DN có thể xem báo cáo kết quả KD của tất cả các chi nhánh trên thế giới hàng ngày bằng cách “click chuột”, nhờ đó ban lãnh đạo đưa ra quyết định chính xác, kịp thời nhằm đảm bảo quá trình KD luôn đúng hướng. Nếu DN VN xây dựng được những PM quản lý DN với các tính năng tích hợp đảm bảo thông tin KD tập trung thì năng lực cạnh tranh sẽ được đảm bảo khi tham gia thị trường quốc tế.

    Lưu ý, bài viết này nặng về tích hợp ứng dụng trong việc điều hành DN (Inter-Enterprise Integration). Còn nhiều dạng tích hợp cần thiết khác cho những ứng dụng bên ngoài DN như B2B (DN với DN), G2B (chính quyền với DN), B2E (DN với nhân viên) ePayment (thanh toán điện tử) với các ngân hàng, tích hợp với các websites (RSS etc.)...

     

    “Không nên định nghĩa quá hàn lâm về THHT. Thực sự thì phần cứng, PM hay dịch vụ đều có thể và phải tích hợp. Cũng không có phần cứng nào có thể vận hành mà thiếu PM nhúng, PM cài đặt hay trình điều khiển... Cho nên, có thể định nghĩa THHT là dịch vụ hệ thống đáp ứng yêu cầu nào đó của khách hàng vào thời điểm họ cần”.
    Ông Nguyễn Đức Quang, tổng giám đốc công ty cổ phần Điện Tử Tin Học Sao Bắc Đẩu

     
     

    “Tích hợp nghĩa là làm sao tích hợp hay tổng hợp được những thông tin khác nhau, qui trình khác nhau, con người khác nhau để họ có thể làm việc cùng với nhau một cách suôn sẻ nhất, đảm bảo sự thống nhất trong toàn bộ tổ chức mà không để xảy ra bất kỳ sự lệch lạc nào.
    Trong một DN, có 3 mức tích hợp. Mức cơ bản là tích hợp thông tin, hệ thống thông tin (HTTT) phải đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, tức thời. Mức tích hợp con người phải làm sao con người tương tác với nhau một cách hiệu quả nhất. Mức tích hợp quy trình đảm bảo cho các quy trình gắn kết đồng bộ và chặt chẽ với nhau theo cách quý vị có thể thay đổi quy trình nhưng HTTT vẫn không bị thay đổi. Nói về tích hợp, có 2 loại, front end (hiểu như là cửa sổ nhìn vào DN) và back end (tích hợp phía bên dưới). Lotus Notes sử dụng front end. Trong khi Websphere sử dụng back end. DN nên bắt đầu tích hợp từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất. Tích hợp thông tin là bước các DN cần làm trước tiên. Việc tích hợp và chia sẻ thông tin để mỗi người làm việc hiệu quả nhất, sau đó đến tích hợp con người/một nhóm người để họ làm việc hiệu quả nhất, rồi tích hợp các phòng ban và cuối cùng là tích hợp các quy trình KD để hoạt động tổng thể của tổ chức diễn ra một cách suôn sẻ nhất (liên quan đến các đối tác, nhà cung cấp...)”
    Ông Bikram S.Bedi, giám đốc KD phụ trách nhóm PM Lotus của IBM khu vực ASEAN

     
     

    “THHT là khái niệm chỉ việc kết hợp nhiều thành phần đơn lẻ thành một hệ thống thống nhất nhằm thực hiện, giải quyết một vấn đề nào đó. Đối với ngành CNTT, khái niệm THHT là một khái niệm rất quen thuộc. Hệ thống có thể là một tập hợp bất kỳ của một hay nhiều thiết bị phần cứng, chương trình PM và cả dịch vụ liên quan. Ví dụ, hệ thống an toàn bảo mật, hệ thống ERP, hệ thống Call center... Tích hợp là việc lựa chọn những cấu thành phù hợp, tối ưu để khi kết hợp lại có thể hoạt động cùng với nhau như một thể thống nhất và theo đúng yêu cầu đã đề ra. THHT - đôi khi còn có ý nghĩa là kết hợp những thành phần mới vào những thành phần, hệ thống đã có sẵn để tạo thành một hệ thống mới có nhiều tính năng ưu việt hơn”.
    Ông Nguyễn Quyền, CIO của công ty cổ phần Dịch Vụ Công Nghệ Tin Học HPT

     
     

    “THHT là xây dựng hệ thống thông tin (HTTT) thống nhất, xuyên suốt dựa trên cơ sở hệ thống mạng máy tính và các phần mềm phục vụ cho công việc trao đổi thông tin và KD, dịch vụ của các tổ chức, DN. Tích hợp gồm những việc như khảo sát nhu cầu và qui mô của DN hay tổ chức để xây dựng HTTT; khảo sát mức độ tự động hóa đang có và mong đợi; xây dựng các giải pháp; tổ chức việc đào tạo hướng dẫn từng cấp theo qui mô và mức độ phức tạp của hệ thống bao gồm sử dụng hệ thống, theo dõi giám sát, sử dụng các ứng dụng đã được thiết lập; xây dựng các biện pháp ngăn ngừa sự cố xảy ra trên hệ thống cũng như các thành phần, các biện pháp phục hồi hệ thống; đưa ra các biện pháp tối ưu hóa hệ thống, tập trung dữ liệu thống nhất, tăng cường hiệu suất sử dụng và quản trị hệ thống, ngăn ngừa rủi ro...
    Bà Nguyễn Ngọc Phương Mai, phó giám đốc công ty Lạc Việt

     
     

    “THHT là sự thiết kế và gắn kết các hệ thống con (subsystem) để ra một hệ thống CNTT phức hợp nhằm thực hiện một nhiệm vụ hoặc mục tiêu định trước. Các hệ thống con có thể là các thiết bị phần cứng, các PM đóng gói hoặc được phát triển theo yêu cầu, hệ thống mạng máy tính, hệ thống viễn thông... Hệ thống được tích hợp có thể được xây dựng mới từ đầu, hoặc tích hợp một số hệ thống con với một hệ thống đã có. Mỗi hệ thống con (subsystem) có các giao tiếp (interface) với các hệ thống khác. THHT là việc gắn kết các giao tiếp của các hệ thống con với nhau để tạo thành một hệ thống mới. Tóm lại, khi xuất hiện một thành phần mới trong hệ thống thông tin của DN, hoặc khi một thành phần cũ được thay đổi, nâng cấp, khi đó sẽ cần tới THHT”.
    Ông Nguyễn Sơn Tùng, CIO công ty cổ phần Công Nghệ Tinh Vân

     

    Quang Nguyễn - Châu Nguyễn

    ID: B0704_30