• Thứ Sáu, 13/04/2007 15:04 (GMT+7)

    Cần kế hoạch tổng thể từ đầu

    Trước năm 1999 việc tích hợp hệ thống (THHT) ít được các ngân hàng (NH) quan tâm vì ứng dụng CNTT ở mức độ thấp, hầu hết tự phát triển, thiếu một bài toán tổng thể ngay từ đầu.

    Nếu không định hướng thì công nghệ luôn chạy theo sau sản phẩm và không đáp ứng được. Việc triển khai ATM từ năm 1995 là một ví dụ. Thiếu hệ thống core banking (ngân hàng lõi) nên hệ thống ATM chỉ tồn tại vài năm là chết vì thiếu nền tảng phát triển dịch vụ. Từ đó Vietcombank (VCB) xác định, phải có hệ thống nền tảng trước, rồi mới tính đến các dịch vụ cần phát triển. Bất cứ NH nào dù đơn năng hay đa năng đều cần hệ thống NH lõi. Năm 1995, VCB đã có định hướng rõ ràng vấn đề quản lý tập trung trong KD, xác định rõ cái nào là nền tảng, cái nào cần làm trước, cái nào làm sau.

     

    Ông Đào Minh Tuấn, giám đốc trung tâm CNTT ngân hàng Ngoại Thương – Vietcombank

    Khi hệ thống core banking được đưa vào đã thay đổi toàn bộ quy trình nghiệp vụ. Từ cơ chế quản lý cũ, máy móc, cứng nhắc, phức tạp về chứng từ quản lý, khi chuyển sang quy trình mới mất khá nhiều thời gian. Nhưng bù lại, đội ngũ tin học của VCB đã thu được rất nhiều kinh nghiệm. Đây cũng là thành quả rất lớn mà nhờ thế sau này, khi triển khai các hệ thống nghiệp vụ khác của ngân hàng như hệ thống ATM, việc tích hợp đơn giản hơn và không mất nhiều công sức và hầu như do VCB tự làm, ít bị phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các đối tác.

    Hệ thống core banking tại VCB được triển khai dần từ năm 1999, đến năm 2001 thì đưa vào toàn bộ hệ thống. Khi đã có hệ thống xử lý tập trung kết nối toàn bộ chi nhánh, năm 2002, VCB mới chính thức đưa dịch vụ NH trực tuyến vào hoạt động, giúp khách hàng có thể gửi một nơi rút nhiều nơi. Lúc đó, VCB là NH đầu tiên đưa ra dịch vụ này. Sau này, core banking chính là hệ thống lõi để VCB triển khai được các dịch vụ khác trên đó như Internet Banking, Mobile Banking. Bởi về nguyên tắc khi hệ thống lõi đã có, hạ tầng mạng đã có và các nghiệp vụ ngân hàng đã đảm bảo xử lý trực tuyến theo thời gian thực thì khi đưa các dịch vụ mới vào, người ta chỉ phải tính tới việc đảm bảo sự liên kết của hệ thống mới chạy ổn định với hệ thống cũ. Các NH khác ở VN, thời điểm đó cũng đều bắt đầu nhận thức và định hướng phát triển như vậy.

    Nếu không xác định được hệ thống core banking là hệ thống lõi thì hệ quả đầu tiên là sự bất ổn định, có thể xảy ra trường hợp “râu ông nọ cắm cằm bà kia” khi hệ thống xử lý một lệnh giao dịch nào đó. Một số trường hợp ATM ở VN thường bị treo máy cũng xuất phát từ lý do xử lý hệ thống core banking chưa tốt, không ổn định.

    Việc lựa chọn nhà cung cấp và triển khai trong quá trình THHT là rất quan trọng. Trước tiên, nhà cung cấp phải hiểu rõ sản phẩm của họ. Thông thường các hệ thống tích hợp với core banking thường độc lập, nên khi lựa chọn sản phẩm cần phải đối chiếu và thử xem có thích ứng với nhau không và việc này chỉ NH ứng dụng là người hiểu rõ nhất. Đặc thù ở VN, khi mua hệ thống core banking thường không ký hợp đồng trực tiếp với hãng mà qua một đối tác cung cấp tại VN. Do vậy, việc triển khai tốt hay không hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân các NH có hiểu được hệ thống đó hay không? Nhà cung cấp có còn tồn tại ở thời điểm mình cần tích hợp hay không? công nghệ mình sử dụng còn được hãng hỗ trợ phát triển hay không? Trong khi ở nước ngoài, vấn đề đơn giản hơn vì các hãng có thể hỗ trợ trực tiếp khách hàng cho dù công nghệ đó đã lạc hậu.

    Đánh giá về trình độ các nhà THHT trong nước, theo tôi, chưa cao lắm. Vì thực chất, đòi hỏi với nhà THHT là với mỗi mảng nghiệp vụ, KD anh phải hiểu sâu về nó và phải được tham gia vào các dự án trước đó để chứng tỏ được kinh nghiệm. Rất tiếc ở VN, trừ FPT đã từng được tham gia các dự án triển khai của World Bank, của Silverlake nên có ít nhiều kinh nghiệm, còn hầu như không có nhà THHT nào có kinh nghiệm tích hợp các hệ thống dịch vụ của NH.

    Trong điều kiện việc tích hợp chưa thể thuê ngoài hoàn toàn, VCB luôn tâm niệm phải tự xây dựng đội ngũ cán bộ CNTT của mình thật tốt, không chỉ giỏi về kỹ thuật mà phải giỏi về nghiệp vụ NH. Bởi ở VN, quan trọng nhất là các NH phải tự làm chủ hệ thống, công nghệ mà mình đang sử dụng, để giảm bớt tối đa sự lệ thuộc.

    ID: B0704_44