• Thứ Năm, 06/09/2007 14:51 (GMT+7)

    Hành lang pháp lý cho thư rác

    Ngày 23/8/2001, Chính Phủ ban hành Nghị Định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, đề cập những vấn đề đảm bảo an toàn thông tin và quản lý tài nguyên Internet. Tuy nhiên, những người phát tán thư rác thường sử dụng những mail list (danh sách địa chỉ email) và phần mềm phát tán thư rác “trôi nổi” trên thị trường cũng có thể bị đưa vào nhóm đối tượng nằm trong phạm vi xử phạt của nghị định này (điều 41). Tuy nhiên, nghị định chưa nói cụ thể đến thư rác đã xuất hiện và trở thành vấn đề lớn vào mấy năm sau đó.

    Hiện, Việt Nam đang có dự thảo nghị định Chính Phủ về thư rác do bộ TTTT phối hợp cùng các bộ Công An, Tư Pháp, Thương Mại (nay là bộ Công Thương), VHTT (nay là VH, TT và DL) và văn phòng Chính Phủ soạn dự kiến hoàn tất vào tháng 9 để trình Chính Phủ vào tháng 11/2007. Xuất phát điểm của dự thảo nghị định này từ vụ Thương Mại Điện Tử (TMĐT), bộ Công Thương muốn có một hành lang pháp lý cho quảng cáo bằng email, một công cụ hữu hiệu để phát triển TMĐT. Phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị định ngoài thư rác phát tán qua email còn mở rộng ra cả các loại hình tin nhắn SMS, hay tin nhắn nhanh kiểu YM!...

    Nội dung nghị định đề cập tới cơ chế quản lý thư rác tại Việt Nam, các đối tượng quản lý và biện pháp chế tài. Dự thảo nghị định đang trong quá trình lấy ý kiến quần chúng. Trong đó, nổi bật việc lấy ý kiến người dùng về thư quảng cáo theo 3 mô hình: Một là, người gửi được phép gửi thư điện tử quảng bá thương mại nhưng phải cung cấp cơ chế từ chối việc tiếp tục nhận thư (opt-out). Hai là, người gửi chỉ có quyền gửi thư điện tử quảng bá thương mại khi người nhận đã đăng ký và chấp nhận các loại thư đó (opt-in). Ba là, áp dụng cơ chế opt-out có kiểm soát, nhằm bảo vệ người dùng cuối trong khi vẫn tạo điều kiện phát triển quảng cáo trực tuyến.

    Ý kiến nhà quản lý
    Ông Hoàng Lê Minh, phó giám đốc sở BCVT TP.HCM

    Email là phương thức trao đổi thông tin cá nhân ra đời từ những năm 1980, cùng lúc với sự hình thành các mạng máy tính. Các máy chủ email được thiết kế và vận hành nhằm mang lại sự tiện lợi tối đa cho người gửi và nhận (vào thời điểm đó chủ yếu là các nhà khoa học, giảng viên, sinh viên các trường đại học, viện nghiên cứu) nên không có cơ chế kiểm soát việc gửi/ nhận các thông điệp, cơ chế quản lý và sử dụng (xác thực định danh) cho các địa chỉ email.

    Khi email trở thành một trong các dịch vụ trao đổi thông tin rất phổ cập và tiện lợi của mạng Internet toàn cầu (được thương mại hóa vào cuối những năm 1990), hầu như chưa có bất kỳ sự thay đổi nào trong kiến trúc công nghệ, trong cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ email. Lợi dụng đặc điểm khá “dễ dãi, tiện lợi và không tốn tiền” của dịch vụ này, rất nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước vô tình hay cố ý sử dụng email để phát tán các thông tin mà người nhận không mong đợi. Giới chuyên môn gọi đó là thư rác (spams, scams).

    Thư rác ngoài tác hại làm tăng lưu lượng hoạt động của hệ thống email một cách lãng phí, còn là phương tiện phát tán virus máy tính, phá hoại và đánh cắp thông tin, cài đặt các chương trình quảng cáo, các thông tin nặc danh mang mục đích xấu...

     

    “Tôi đã phải thay đổi và sử dụng nhiều địa chỉ email khác nhau để tránh vấn nạn thư rác và không bao giờ khai báo địa chỉ email quan trọng của cá nhân tại các trang web dịch vụ không đáng tin cậy, vì phần lớn thư rác sẽ theo đó chạy về máy tính cá nhân”.

    Thư rác là một vấn nạn và ngày càng trở nên trầm trọng, trực tiếp ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển của mạng Internet. Theo các thống kê đáng tin cậy, có những thời điểm, thư rác đã chiếm tới 80% lưu lượng thông tin email trao đổi trên mạng Internet toàn cầu! Một số chuyên gia còn dự đoán nếu không có giải pháp gì thì chỉ sau 5 năm nữa, sẽ không ai dám sử dụng email như một công cụ trao đổi thông tin cá nhân chỉ vì vấn nạn thư rác.

    Bên cạnh các biện pháp kỹ thuật để hạn chế thư rác, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định pháp luật hạn chế vấn nạn thư rác, bảo vệ sự trong sáng của môi trường truyền thông công cộng. Tôi nghĩ Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, cũng phải theo xu thế này, nếu chúng ta muốn xây dựng và bảo vệ môi trường truyền thông công cộng, lành mạnh, hữu ích cho mọi người cùng khai thác sử dụng. Chúng ta không hạn chế thư rác nên rất nhiều dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng Internet tại Việt Nam đã và đang bị các nhà cung cấp dịch vụ ở nước ngoài đóng cửa, hạn chế không cho sử dụng. Đây là thực tế mà không ít người sử dụng Internet Việt Nam đã thấy.

    Nghị định thư rác của Việt Nam phải tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh, buộc nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet (ISP) và ứng dụng Internet (OSP) tại Việt Nam cần có biện pháp quản lý kỹ thuật cần thiết hạn chế thư rác. Đối với người sử dụng đầu cuối, nếu chứng minh được là chủ thể phát tán thư rác thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (xử phạt vi phạm hành chính giống như phát tán các nội dung xấu trên mạng).

    Theo tôi, phải hoàn toàn chấm dứt việc sử dụng e-mail phát tán lượng lớn quảng cáo vào những địa chỉ không đăng ký trước. Việc đưa thông tin quảng cáo trên mạng (nếu có) chỉ hợp pháp trên các website, phải để người sử dụng chủ động truy cập chúng. Đó cũng là quy định tại nhiều quốc gia đã nói “không” với quảng cáo qua thư rác.

    Ý kiến nhà quản lý
    Ông Vũ Quốc Khánh, giám đốc trung tâm Ứng Cứu Khẩn Cấp Máy Tính Việt Nam (VnCert), bộ TTTT, trưởng ban soạn thảo nghị định (NĐ) về thư rác

    Dựa trên kết quả sơ lược của khảo sát trực tuyến của VnCert, có thể tóm tắt một số quan điểm của cộng đồng người dùng Internet về thư rác như sau: 48,37% người dùng không có ấn tượng đối với DN sử dụng hình thức quảng bá này, 32,64% cho biết họ cảm thấy DN đang quảng bá không có uy tín về thương hiệu và 87,29% thấy khó chịu và đang phải “sống chung” với thư rác (88,39% người dùng chỉ còn biết chấp nhận xóa thư rác mỗi ngày. Vì một số lý do, người dùng đang có cái nhìn rất không tốt về các cá nhân, doanh nghiệp sử dụng hình thức quảng cáo qua email có tiềm lực hạn chế).

    Người dùng mong muốn có các biện pháp kiểm soát tình trạng thư rác (63% người dùng muốn có quy định quản lý thư rác, 64,7% người dùng thấy cần có đơn vị chuyên trách; 56% thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng). Đại đa số người dùng muốn nhà nước mở rộng các biện pháp quản lý tương tự đối với tin nhắn. Ban soạn thảo (BST) sẽ dựa vào một phần nội dung của kết quả khảo sát trực tuyến, đóng góp ý kiến của các bên có liên quan, tham khảo mô hình quản lý thư rác của các nước trên thế giới và các nguồn thông tin khác để xây dựng nội dung NĐ.

    BST NĐ cũng đã chuẩn bị các quy định sao cho phù hợp với thực tế. Những đề xuất quy định cụ thể sẽ được công bố rộng rãi để lấy ý kiến trong thời gian tới. Về mặt tổng quan có thể tóm tắt nguyên tắc cốt lõi của dự thảo NĐ như sau: “Tùy theo từng loại đối tượng, từng loại thông điệp sẽ có các biện pháp quản lý tương ứng, nhưng phải bám sát các nguyên tắc: Bảo vệ người dùng cuối; Tạo hành lang pháp lý cho các DN hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến; Không cản trở, gây khó các hoạt động giao tiếp thông thường".

       

    Việt Nam đang có dự thảo nghị định Chính Phủ về thư rác do bộ TTTT phối hợp cùng các bộ: Công An, Tư Pháp, Thương Mại (nay là bộ Công Thương), VHTT (nay là VH, TT và DL) và Văn Phòng Chính Phủ soạn thảo, dự kiến hoàn tất vào tháng 9 để trình Chính Phủ vào tháng 11/2007. Xuất phát điểm của dự thảo nghị định này từ vụ Thương Mại Điện Tử (TMĐT), bộ Công Thương muốn có một hành lang pháp lý cho quảng cáo bằng email, một công cụ hữu hiệu để phát triển TMĐT. Ngoài thư rác phát tán qua email, phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị định còn mở rộng ra cả loại hình tin nhắn SMS hay tin nhắn nhanh kiểu YM!...

     

    Hiện nay vấn đề cung cấp dịch vụ quảng cáo qua thư điện tử chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết. Tuy nhiên, việc rao bán danh sách email là sai luật (luật CNTT) và có thể bị xử phạt từ 3 - 5 triệu đồng theo NĐ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CNTT”. Thời gian tới, nếu NĐ về thư rác được ban hành, các công ty cung cấp dịch vụ quảng cáo qua thư điện tử sẽ có hành lang pháp lý để hoạt động hợp pháp, góp phần lành mạnh hóa hoạt động quảng cáo qua thư điện tử tại Việt Nam.

    ID: B0709_32