• Thứ Ba, 29/04/2008 17:01 (GMT+7)

    CNTT - Nghề và Nghiệp

    Việt Nam còn phải làm rất nhiều việc nhằm giải quyết tốt bài toán nhân lực CNTT. CNTT không còn bó hẹp như một ngành khoa học ứng dụng mà ngày càng chứng tỏ là một ngành kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các doanh nghiệp và mọi mặt của đời sống xã hội. Cơ hội và thách thức với người đam mê CNTT ngày càng lớn...

    Việt Nam còn phải làm rất nhiều việc nhằm giải quyết tốt bài toán nhân lực CNTT. CNTT không còn bó hẹp như một ngành khoa học ứng dụng mà ngày càng chứng tỏ là một ngành kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các doanh nghiệp (DN) và mọi mặt của đời sống xã hội. Cơ hội và thách thức với người đam mê CNTT ngày càng lớn...

    Cái nhìn " trực tuyến”...
    Công việc tuyển dụng nhân sự CNTT cho các DN ngày một chất lượng hơn nhờ vào sự xuất hiện của các công ty "săn đầu người" cùng các cổng thông tin, website tuyển dụng trực tuyến.

    3 vị trí chung một nghề
    “Hãy xem mình cần trang bị kỹ năng, kiến thức gì cho phù hợp với tổ chức và công việc quản trị CNTT trong tương lai; tránh đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực, thật chuyên sâu vào nghề nghiệp ưa thích và làm thật tốt!” – ông Trần Kim Cương, phó giám đốc công ty CMC Soft TP.HCM khuyến cáo.

    Cách thức đào tạo
    “Có thể chia các TC, CQ ra thành 2 nhóm: nhóm DN làm ra các sản phẩm, dịch vụ CNTT và nhóm DN ứng dụng CNTT. Trong mỗi loại hình, vai trò của nhân sự CNTT sẽ khác nhau. Nếu DN cung cấp sản phẩm, dịch vụ CNTT... thì nhân sự CNTT là lực lượng lao động trực tiếp, làm ra sản phẩm và tạo ra nguồn thu cho DN. Về chuyên môn, nhân sự CNTT phải là người hiểu sâu và có kỹ năng tốt về một lĩnh vực, không nhất thiết phải biết rộng qua nhiều lĩnh vực khác”, ông Sơn nhận định. Riêng quan điểm của ông Sơn là ưu tiên kỹ thuật.

    Hiểu đúng sử dụng đúng
    Ông Nguyễn Ngọc Dũng, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm phát triển hệ thống CNTT cho DN khuyến cáo với DN tuyển dụng để DN hình dung rõ CNTT, công việc của nhân sự CNTT và sử dụng đúng nguồn lực này.

    “Nhảy việc” làm sao giữ?
    Tại buổi họp mặt của hiệp hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA), ngày 15/3/2008 tại TP.HCM, nhiều DN PM đã bàn về hiện tượng “nhảy việc” tại các công ty PM và cách thức giữ người.

    CNTT chuyển ngành!
    Có không ít người sau khi được đào tạo hàn lâm ở những trường ĐH cũng như các trung tâm dạy nghề CNTT chuyển sang các lĩnh vực khác như ngân hàng, chứng khoán; đi làm tiếp thị, bán hàng, kế toán...

    Tâm sự của nhà tư vấn
    “Ngành CNTT có thể chia ra làm 3 mảng chính: truyền thông (Telecommunications), phần cứng (Electrical Engineering), PM (Computer Science/Engineering)”, ông Quang Nguyễn, giám đốc quỹ DFJ VinaCapital, nhà tư vấn chiến lược CNTT, có những chia sẻ với các bạn trẻ yêu CNTT.

    Chuyện của Duy và bài toán nhân sự
    Đoàn Tường Duy là một chuyên gia trong lĩnh vực phát triển phần mềm, đã có gần 10 năm phụ trách hệ thống CNTT trong vài DN ứng dụng. Thu nhập cao, nhiệt huyết tuổi trẻ, lòng say nghề của chàng trai mới ngoài 30 cũng không giữ được Duy ở lại do cái nhìn của DN và người lao động không cùng hướng.


    CÁI NHÌN " TRỰC TUYẾN”...

    Công việc tuyển dụng nhân sự CNTT cho các DN ngày một chất lượng hơn nhờ vào sự xuất hiện của các công ty "săn đầu người" cùng các cổng thông tin, website tuyển dụng trực tuyến.

    Theo các chuyên gia, sốt nhân lực CNTT ở Việt Nam đã bắt đầu từ cuối những năm 1990 khi các DN bắt đầu xuất khẩu phần mềm (PM). Từ đó, cũng đã có nhiều sự đổi thay và CNTT cũng có sự dịch chuyển rất rõ. Lúc trước, nhân sự cho lĩnh vực Internet rất hiếm, đa phần thuộc nhóm nhân lực về PM. Nhưng 5 - 3 năm gần đây, Internet ở Việt Nam đã phát triển mạnh và bắt đầu xuất hiện sự thiếu hụt nhân lực cho lĩnh vực này, đặc biệt nhóm về quản trị mạng. Hiện, cung nhân lực CNTT khá tốt nhưng cung- cầu của ngành vẫn “chênh”.

    Trên thị trường nhân lực, hiện nay, những ngành nghề như tài chính, chứng khoán, ngân hàng, CNTT đều được xem là “nóng” nhất. Riêng lĩnh vực CNTT thời gian qua xuất hiện nhiều vị trí mới như: CTO (giám đốc công nghệ), CIO... và tất nhiên những vị trí này sẽ rất quan trọng trong thời gian tới. Thống kê của trang web kiemviec.com về cầu tuyển dụng cho thấy nhóm nghề CNTT đứng thứ 5, sau tài chính, ngân hàng, chứng khoán... Tuy nhiên, theo dự đoán của kiemviec.com cho các năm 2008 và 2009 thì ngành nghề CNTT sẽ vươn lên thứ 2, thứ 3, đặc biệt là cầu nhân lực liên quan đến mạng và website.

    Nhọc nhằn tuyển dụng

       

     

    Các DN vừa và nhỏ tốt nhất là tự đào tạo CIO. Cụ thể, nếu phát hiện ra nhân viên CNTT giỏi chuyên môn và có kỹ năng tổ chức thì tạo điều kiện cho họ tham dự các khóa học trong hoặc ngoài nước. Đảm bảo cho họ tổng lương (cả kiêm nhiệm) 1.000 - 2.000 USD/tháng.

    Theo các công ty môi giới tuyển dụng, so với những ngành khác, tuyển nhân sự cho ngành CNTT khó hơn rất nhiều bởi việc sử dụng CNTT không chỉ riêng ở các DN chuyên về CNTT, mà cả những công ty chuyên ngành khác như chứng khoán cũng sử dụng CNTT. Khi tuyển nhân sự CNTT cho công ty chứng khoán phải tìm được ứng viên có chuyên môn về CNTT lẫn hiểu biết về chứng khoán. Các chức danh CNTT thường được các DN tuyển hiện là quản trị hệ thống, quản trị web, thiết kế web...

    Lĩnh vực website ở Việt Nam phát triển rất mạnh, trong năm 2007 đã có nhiều website ra đời với những quỹ đầu tư đứng phía sau. Riêng quỹ Đầu Tư IDG (IDG Ventures Vietnam) đã đầu tư đến 21 website (tháng 3/2008) khác nhau hay DFJ-Vinacapital cũng đầu tư vào Timnhanh.com. Ngoài ra, Yahoo, MSN, eBay... cũng đang nhắm đến Việt Nam như một thị trường tiềm năng. Những công ty này đều có yêu cầu cao với đội ngũ nhân sự, cần những người có đủ trình độ, tiêu chuẩn nghề nghiệp.

    DN hầu như rất khó tìm được người đáp ứng đủ các tiêu chí. Chẳng hạn có 10 tiêu chí thì thường chỉ có thể tìm được người đáp ứng đến khoảng 8 tiêu chí. Bản thân DN cũng hiểu rõ điều đó. Đối với vị trí chuyên trách CNTT, trở ngại lớn nhất đầu tiên của ứng viên là khả năng ngoại ngữ; thứ đến là kỹ năng thuyết trình. Đây là 2 kỹ năng nổi trội luôn thiếu ở “dân” CNTT. Nhà tuyển dụng cũng như DN, ngoài yêu cầu ứng viên đáp ứng được các kỹ năng mềm và kỹ năng cứng còn mong muốn ứng viên hòa nhập, thích nghi được môi trường văn hóa DN. Đây là xu hướng tuyển dụng hiện tại và trong tương lai. Riêng với ngành CNTT, điều kiện này cũng tương đối khó trong tuyển dụng.

    Bản thân chuyên ngành CNTT cũng có sự khập khiễng nhân sự ngay từ đầu. Cho nên, sự thiếu hụt các quản trị viên, những người có chuyên môn lẫn kiến thức tổng quan và tầm nhìn chiến lược trong tương lai là một đặc trưng của ngành. Theo các chuyên gia về tuyển dụng, thiếu khả năng quản lý là nhược điểm chung của những người làm kỹ thuật.

     

    Ngành CNTT có sự tăng trưởng mạnh trong năm 2007 vì các DN vừa và nhỏ ở Việt Nam bắt đầu quan tâm tới việc ứng dụng CNTT. Cạnh đó, ngành gia công PM cũng thu hút một số lượng nhân sự lớn. Bước đột phá tạo nên nhu cầu tuyển dụng nhân sự ngành CNTT còn do ngành kinh doanh trực tuyến ở Việt Nam bùng phát năm 2007.
    Theo dự đoán của Kiemviec.com, lĩnh vực web năm 2008 sẽ hút một lượng lớn nhân sự CNTT, nâng tỷ lệ tuyển dụng trực tuyến cho ngành CNTT lên 2% thành 10% trong tổng số ngành nghề, và chiếm vị trí thứ 2 trong tỷ lệ các ngành nghề được tuyển dụng nhiều nhất. Nguyên nhân: hàng loạt công ty lớn trong nước như VON, FPT, Vinabook... và nhiều tập đoàn nước ngoài như Yahoo, eBay... sẽ tập trung mở rộng phát triển và khai thác thị trường kinh doanh trực tuyến ở Việt Nam.

    Dự báo cầu nhân sự một số ngành sẽ phát triển chậm lại nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất cao như: tài chính/ngân hàng, quảng cáo/tiếp thị/đối ngoại. Lý do cho sự phát triển chậm lại của khâu tuyển dụng những lĩnh vực này là năm 2007, các công ty chứng khoán và các ngân hàng đã phần nào hoàn tất giai đoạn xây dựng đội ngũ. Mặt khác, theo các chuyên gia, do một số chính sách mới về tiền tệ đã siết chặt phạm vi hoạt động của các ngành đó.

     

    CIO - Tìm ở đâu?

    Khái niệm CIO và CTO gần giống nhau nhưng CTO tập trung mạnh hơn vào kỹ thuật, còn CIO vừa kỹ thuật vừa quản lý, có vẻ thiên về quản lý. Đặc biệt, thời gian tới, những công ty không chuyên về Internet và CNTT nói chung nhưng “có quy mô” sẽ có nhu cầu rất mạnh về tìm kiếm CIO nhằm giúp hệ thống CNTT hỗ trợ công việc và khách hàng tốt nhất. Nhưng tìm CIO hiện không đơn giản vì những chức danh này vẫn còn mới, xã hội chưa kịp đào tạo. Một số công ty tuyển dụng đã phải “săn” CIO từ nước ngoài.

     
    Ông Phan Đăng Dũng, giám đốc tiếp thị và truyền thông của công ty VON (Vietnam Online Networks)

    Những nhân sự đó đến Việt Nam không hẳn vì các mức lương. Ở nước ngoài, lương của họ cũng tốt nhưng họ muốn tìm kiếm cơ hội ở một số nước đang phát triển như Việt Nam có giá sinh hoạt thấp hơn. Tất nhiên mức lương DN trả phải đủ cao để đáp ứng được nhu cầu cơ bản của họ, trung bình từ 3.000 đến 5.000 USD/tháng. Các DN một khi đã chấp nhận tuyển những vị trí cấp cao từ nước ngoài đều sẵn sàng chấp nhận có chính sách đãi ngộ kèm theo như nhà ở, chi phí đi lại về thăm gia đình bao nhiêu lần/năm (ít nhất là 1 lần/năm)... Mặc dù quan trọng nhất vẫn là kiếm được người làm đúng việc, nhưng quan tâm hàng đầu của DN Việt Nam là tuyển người Việt Nam trước.

    Vậy còn CIO cho các DN vừa và nhỏ thì sao? “Công ty chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều câu hỏi tương tự như: Thứ nhất, các DN vừa và nhỏ có cần CIO không? Thứ hai, việc tìm kiếm CIO cho DN vừa và nhỏ có khó không?”, ông Phan Đăng Dũng, giám đốc tiếp thị và quan hệ công chúng của công ty VON (Vietnam Online Networks) cho biết. Thực ra, theo ông Dũng, CIO đối với các DN vừa và nhỏ có thể được kiêm nhiệm. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại thì công việc của một CIO Việt Nam không phải ai cũng có thể làm kiêm được! Ở các DN nhỏ, nhu cầu và khả năng phát triển của CIO không cao, thành ra, nếu DN có tiền thì chưa chắc CIO đã đồng ý “đầu quân” về những DN này vì vai trò trong DN không tương xứng với chức danh CIO, hạn chế khả năng phát triển.

      10 ngành nghề được đăng tuyển nhiều nhất trên Kiemviec.com  
        Ngành nghề     2006     2007     2008    
        Kinh doanh     11%     12%     12%    
        Kế toán     9%     10%     9%    
        Quảng cáo/Tiếp thị/Đối ngoại     7%     9%     9%    
        Tài chính/Ngân hàng     7%     9%     10%    
        CNTT 6% 8% 10%                      
        Hành chính /Thư ký     6%     7%     7%    
        Nhân sự     6%     6%     6%    
        Xây dựng     4%     6%     5%    
        Cơ khí/Kỹ thuật ứng dụng     3%     5%     5%    
        Sản xuất/Vận hành sản xuất     3%     5%     5%    
         



    3 VỊ TRÍ CHUNG MỘT NGHỀ

    “Hãy xem mình cần trang bị kỹ năng, kiến thức gì cho phù hợp với tổ chức và công việc quản trị CNTT trong tương lai; tránh đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực, thật chuyên sâu vào nghề nghiệp ưa thích và làm thật tốt!” – ông Trần Kim Cương, phó giám đốc công ty CMC Soft TP.HCM khuyến cáo.


    Theo ông Cương, có thể chia thành 3 vị trí nghề nghiệp trong ngành CNTT với vai trò và trách nhiệm cụ thể. Điều này giúp người sắp bước chân vào nghề hoạch định các kỹ năng cần thiết để vào các tổ chức/doanh nghiệp (TC/DN) làm việc sau này. Nắm được những kỹ năng các DN đang áp dụng, bạn sẽ giúp họ rút ngắn khoảng thời gian đào tạo nhân viên mới, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết trong nhà trường với thực tế khi đi làm.

    1. Vị trí quản trị hệ thống

    Vị trí này đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về hệ thống CNTT nói chung để đảm bảo sự vận hành của hệ thống. Đây là những công việc thầm lặng, theo dõi, chăm sóc bảo dưỡng các thành phần trong hệ thống đang vận hành. “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, bạn cần dày công nghiên cứu, cập nhật các kiến thức mới về các bản vá lỗi, công tác bảo mật... Phần lớn lãnh đạo DN đang chưa nhận thức được tầm quan trọng và các công việc của cán bộ quản trị hệ thống. Phần họ dễ nhìn thấy thường vào những lúc hệ thống vận hành không như mong muốn, những hỗ trợ cá nhân về ứng dụng. Mặt khác, để làm được việc “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, TC/DN phải hoạch định nguồn lực cho các nhà quản trị hệ thống. Phải cho họ đủ thời gian và vật chất, được đào tạo, cập nhật kiến thức mới...

    2. Vị trí quản trị dự án

     
    Ông Trần Kim Cương, phó giám đốc công ty CMC Soft TP.HCM

    Không nhất thiết TC/DN phải có bộ phận phát triển CNTT để phục vụ các nhu cầu nội bộ. Các tổ chức này thường tổ chức bộ máy quản trị dự án, phân tích yêu cầu để đặt hàng những đơn vị CNTT chuyên nghiệp thực thi các ý tưởng của mình. Với vị trí này, bạn sẽ cần kinh nghiệm thực tế để quản trị rủi ro, dự báo các vấn đề có thể xảy ra trong dự án nhằm hạn chế tối đa những phát sinh. Trở thành cầu nối giữa DN với đối tác đang triển khai hệ thống là cả một nghệ thuật cần kinh nghiệm lâu dài.

    Trăn trở của CIO với vị trí quản trị dự án thường là: Làm thế nào để truyền đạt kinh nghiệm của những người đã từng đảm nhiệm vị trí này? Làm thế nào tài liệu hóa các vốn kiến thức ấy? DN của bạn đã có quy trình đào tạo các quản trị dự án chưa? Làm thế nào mô hình hóa nghiệp vụ đưa ra yêu cầu phù hợp nhất cho đối tác? Không có các quy trình, không có thời gian đào tạo, DN sẽ khó có thể có câu trả lời cho nguồn nhân lực vào vị trí quản trị dự án trừ khi tuyển dụng từ đơn vị khác.

    3. Phát triển PM

    Tên của vị trí này nói lên phần nào trách nhiệm của nó. Nhân sự phải trải qua đủ các công đoạn của việc làm PM: khảo sát, phân tích, thiết kế, lập trình, kiểm tra, đóng gói và làm tài liệu. Nếu định hướng nghề nghiệp theo hướng này thì những kiến thức về kỹ nghệ PM rất quan trọng. Trong quá trình đào tạo hiện nay, các món nghề này thường không có trọng số cao. Phía đào tạo cũng không xâu chuỗi lại theo các công đoạn làm PM để hoạch định cho bạn có đầy đủ kiến thức, kỹ năng theo đuổi nghề này. Để có được kinh nghiệm, ai cũng cần thời gian. Quan trọng là làm sao chúng ta nắm bắt được nguyên lý chung khi thực hiện các quy trình. Có thể dùng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau để giải quyết một vấn đề nhưng kỹ năng làm PM lại là phẩm chất cá nhân.


    CÁCH THỨC ĐÀO TẠO

    Ông Vương Mạnh Sơn, viện trưởng viện Công Nghệ Kỹ Thuật Sài Gòn – SaigonCTT nói về nhân sự CNTT và cách thức đào tạo, tuyển dụng...

    “Có thể chia các TC, CQ ra thành 2 nhóm: nhóm DN làm ra các sản phẩm, dịch vụ CNTT và nhóm DN ứng dụng CNTT. Trong mỗi loại hình, vai trò của nhân sự CNTT sẽ khác nhau. Nếu DN cung cấp sản phẩm, dịch vụ CNTT... thì nhân sự CNTT là lực lượng lao động trực tiếp, làm ra sản phẩm và tạo ra nguồn thu cho DN. Về chuyên môn, nhân sự CNTT phải là người hiểu sâu và có kỹ năng tốt về một lĩnh vực, không nhất thiết phải biết rộng qua nhiều lĩnh vực khác”, ông Sơn nhận định. Riêng quan điểm của ông Sơn là ưu tiên kỹ thuật.

    “Nếu DN sử dụng CNTT như một công cụ (quản lý, văn phòng...) phục vụ mục tiêu hoạt động phi CNTT (sản xuất thực phẩm, dịch vụ game...) thì nhân sự CNTT là những người sử dụng các sản phẩm của CNTT ở các mức độ khác nhau. Từ căn bản tới chuyên sâu, họ có thể quản trị, triển khai cài đặt và vận hành một hệ thống CNTT. Quản trị hệ thống và mạng là nhân sự có vai trò quan trọng ở hầu hết các DN vì ngày nay, tất cả DN đều có mạng máy tính với kết nối ra Internet”.

    Nhìn chung, theo ông Sơn, một chuyên viên CNTT có trình độ cơ bản tốt và đã học qua các chương trình đào tạo của các hãng công nghệ như Cisco, Sun, Microsoft, SCP... đều đáp ứng nhu cầu công việc của các TC. Một cách tự nhiên, các nhân sự CNTT có khả năng sau một thời gian làm việc tích lũy thêm được các kiến thức và kinh nghiệm thường mong muốn có các cơ hội thăng tiến mới. Nếu TC luôn có những yêu cầu mới, công nghệ mới cần ứng dụng thì dễ dàng giữ được các nhân sự CNTT giỏi lâu dài hơn.

    “Hầu như 100% những học viên của SaigonCTT tốt nghiệp đều tìm được việc làm trong ngành CNTT”, ông Sơn kể. Những kỹ sư, cử nhân CNTT được trang bị thêm kiến thức và kỹ năng thông qua các khóa đào tạo của SaigonCTT thì tìm được việc hoặc có những vị trí làm việc tốt hơn. Những người “phi CNTT” (học ĐH/CĐ ngành khác, không học ĐH/CĐ...) sau khi học xong chương trình nào đó tại viện SaigonCTT, nhất là chương trình dài hạn eN2P cũng có được việc làm trong ngành CNTT mặc dù họ có thể gặp khó khăn (do hoàn cảnh, nhà tuyển dụng lớn nhất của Việt Nam là CQ nhà nước đòi hỏi bằng cấp và trong xã hội vẫn phổ biến “bệnh bằng cấp”). Nhiều người “tay ngang” có các chứng chỉ quốc tế CCNP/CCIE... đã làm những việc CNTT và có thu nhập cao hơn hẳn kỹ sư/cử nhân CNTT.


    HIỂU ĐÚNG SỬ DỤNG ĐÚNG

    Ông Nguyễn Ngọc Dũng, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm phát triển hệ thống CNTT cho DN khuyến cáo với DN tuyển dụng để DN hình dung rõ CNTT, công việc của nhân sự CNTT và sử dụng đúng nguồn lực này.

    Nhân sự CNTT không phải gánh nặng

    Theo ông Dũng, nhân sự CNTT vẫn bị coi là gánh nặng lương bổng ở các DN phi CNTT vì bộ phận này không trực tiếp sản xuất để mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhưng chính hoạt động hiệu quả của bộ phận này sẽ giúp cho các bộ phận khác: “DN đừng quên rằng nếu chỉ quản lý bằng hệ thống giấy tờ, DN sẽ không hoạt động tốt, một số DN sẽ hoàn toàn không hoạt động được. Chẳng hạn, truy xuất, kiểm tra hàng hóa, quản lý thông tin khách hàng, mở sổ sách phải mất cả ngày nếu làm thủ công; nhiều khi không thể tìm thấy...”, ông Dũng nhắc nhở.

    Nhiều DN chưa thực sự quan tâm đến ứng dụng CNTT vì số khách hàng của họ chưa cao, dịch vụ chưa đạt chuẩn, chất lượng hàng hoá cũng vậy. Nhân sự CNTT ở chỗ họ vẫn được cho là “thợ máy”, không được tham gia vào những buổi họp bàn quyết định chiến lược sản xuất, bán hàng, hậu mãi... Tuy nhiên, cũng có một số DN đã ý thức được vấn đề ứng dụng CNTT và có chức danh cho lãnh đạo bộ phận CNTT.

    Nếu DN chỉ có 1 nhân sự CNTT thì nhân sự này chỉ làm kỹ thuật, chưa phải là CIO. CIO là người đưa ra quyết sách chiến lược cho hoạt động CNTT của công ty, “ngồi họp, ngồi nghe”. CIO là người đưa CNTT vào các quy trình DN.

    Tất cả DN đều đang và sẽ phải ứng dụng website, phải có hệ thống trao đổi dữ liệu trực tuyến, hệ thống e-mail, mạng dùng chung... Điều đó một mặt nhờ tác động của xã hội và đối tác của DN. Bản thân DN cũng muốn thay đổi, muốn ứng dụng CNTT đến mọi ngóc ngách. DN phải đầu tư từ giải pháp, thiết bị nâng cao để hoạt động hiệu quả hơn. Ví dụ, một DN nhỏ cũng có thể dùng IP-camera để chỉ đạo công việc hàng ngày. Các phòng thanh toán bán hàng đều ứng dụng nó để quản lý. Muốn bảo trì hệ thống này, nhân viên DN cũng phải học... Cho nên, nhân sự CNTT không phải là gánh nặng cho DN!

    Xoá mù tin học cho lãnh đạo...

    Rất nhiều giám đốc điều hành (CEO) chưa biết sử dụng email, chưa biết sử dụng máy tính trong công việc hàng ngày. Với những người không có kiến thức CNTT, ứng dụng CNTT, phải huấn luyện cơ bản để họ thao tác trên hệ thống. Đó là những tiêu chuẩn rất cơ bản nhưng bản thân CEO không làm được, họ thấy khó, họ “sợ” và chùn tay cho rằng hệ thống gây khó cho người sử dụng! Thực tế, có DN mua PM giá trị cao giống như một món trang sức xa xỉ! Họ “trùm mền” PM đó và vận hành DN bằng hệ thống giấy tờ.

       
     
     

    “DN có thể chia bộ phận CNTT thành 2 nhóm thực hiện giải pháp và vận hành phần cứng. Nhóm giải pháp làm các công việc như đảm bảo cho các hoạt động quản lý kinh doanh, chăm sóc khách hàng, hỗ trợ tiếp thị, quản lý DN... Nhóm vận hành phần cứng làm các công việc bảo hành kỹ thuật, đảm bảo cho hệ thống CNTT hoạt động, trong đó có sửa chữa máy móc, xây dựng mạng, kết nối Internet, cài đặt, sửa chữa lỗi, khắc phục sự cố...” - ông Nguyễn Ngọc Dũng

     

    Vẫn còn tình trạng ngay cả DN lớn vẫn chưa xác định được vị trí nhân sự của CNTT. Khi tuyển, người ta cũng không tuyển chức danh CNTT. Ngòai ra, Lãnh đạo DN phải được xóa mù CNTT! Khi họ không nắm được CNTT, họ phải thuê tư vấn. Bản thân các tư vấn viên phải bám theo những quy trình quản lý mà quên mất rằng những quy trình này phải ứng dụng CNTT mới vận hành được. DN tuyển nhân sự CNTT thường lại tìm những «tay mơ», chỉ biết sử dụng máy tính và cài đặt hệ thống... Đó không phải là kiến thức cơ bản của nhân sự CNTT.

    Một số DN làm ngược, thuê kỹ sư PM về viết PM cho DN mình. Đó là sai lầm. Muốn có hệ thống quản lý tốt nên bắt đầu đi từ quy trình xử lý dữ liệu CNTT, đồng hành đưa những bài toán về xử lý, quản lý dữ liệu, quản lý sản xuất, hoạt động kinh doanh. Đó là quy trình mang lại hiệu quả cao nhất, chi phí thấp nhất. Nếu đi bằng mô hình quản lý tốt, đồ sộ, rồi mới đưa hệ thống CNTT vào, vô hình chung, DN sẽ áp đặt, điện tử hóa «quy trình thủ công» chứ không đồng hành hệ thống quản lý CNTT và quản lý kinh doanh.

    DN không nên “gom” kỹ thuật viên rồi lựa ra, nâng cấp lên thành giám đốc CNTT mà nên tìm CIO trước! Ban giám đốc công ty sẽ làm việc với CIO để xây dựng phòng CNTT, nếu không, DN sẽ phải sử dụng hệ thống những ông thợ và những người này được quản lý bởi người không biết CNTT. Họ sẽ không tìm được tiếng nói chung, phát sinh mâu thuẫn, đến mức nào đó, họ sẽ bỏ DN. Chưa hết, do kiến thức họ thấp, họ hay tạo áp lực vô hình làm cho DN dị ứng với CNTT, mọi người nghi ngờ và không muốn dùng.

    Cần người cầm tay chỉ việc!

    Để phát triển nguồn lực CNTT, ở Việt Nam hiện có hiện tượng đào tạo đại trà với rất nhiều khoa! Một hệ thống mạng của công ty rất đơn giản, nên đưa những sinh viên này về là không thích hợp. Nhưng nếu cần người đưa ra những giải pháp để hỗ trợ và tích hợp hệ thống kinh doanh phi giấy tờ lại không có ở đâu mà tìm! Tìm người tư vấn vận hành cũng không dễ...

    Ngay cả với các nhân sự CNTT cũng không ít bất cập. Nhân sự thấp nhất là sửa chữa máy. Mâu thuẫn nảy sinh khi hệ thống vận hành tốt thì anh ta rất rảnh rỗi. Kỹ thuật viên sẽ có thời gian học hỏi, tìm hiểu vấn đề khác. Họ làm công việc A, đi học để lấy bằng B. Nhân sự CNTT thực sự vẫn có tâm lý đứng núi này trông núi nọ. Làm trong nước, họ ngó ra nước ngoài. Ngồi ở công ty này, họ cập nhật kiến thức, học về hệ thống của công ty khác.

    Các nhà đào tạo nên khảo sát đến từng mô hình DN, từ giáo trình của ngành, soạn ra giáo án phù hợp để đào tạo riêng cho từng loại hình DN đó; khắc phục tình trạng đào tạo đại trà. Các DN Việt Nam đang cần nhất sự tư vấn đồng hành chứ không phải “tư vấn định hướng”. Tư vấn đồng hành là cầm tay chỉ việc! Cũng không thể để mỗi DN lại có chương trình đào tạo riêng mà phải thực hiện khảo sát theo nhóm DN. DN chưa dám bỏ tiền để trường đào tạo, trường không dám bỏ vốn ra đào tạo. Hiện trạng này sẽ chấm dứt một khi 2 phía tập trung tìm giải pháp chung.


    “NHẢY VIỆC” LÀM SAO GIỮ?

    Tại buổi họp mặt của hiệp hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA), ngày 15/3/2008 tại TP.HCM, nhiều DN PM đã bàn về hiện tượng “nhảy việc” tại các công ty PM và cách thức giữ người.

    “Một nhân sự mất mấy năm đào tạo tại công ty trong nước sẽ sẵn sàng “dứt áo” ra đi làm ở công ty khác (thường là công ty nước ngoài) với mức lương 600-1.000 USD”, ông Phí Anh Tuấn, giám đốc chi nhánh Miền Nam tập đoàn CMC cho biết. Ông Nguyễn Đoàn Hùng, chủ tịch công ty Sáng Tạo, thì gặp phải trường hợp “một nhân sự đang làm dự án đột nhiên biến mất, gây nhiều khó khăn cho công ty”. Còn với công ty NTC, ông Bùi Đức Hoa, giám đốc, cho biết: “Năm qua công ty triển khai dự án CNTT cho 12 công ty chứng khoán, mỗi dự án từ 3 - 4 tháng. Khi dự án kết thúc thì nhân sự phụ trách triển khai cũng “xin” về luôn công ty chứng khoán. Đơn giản vì các công ty chứng khoán mới ra đời, thiếu nhân lực trầm trọng nên áp dụng chính sách lương cao để “chiêu dụ” người tài”.

    Giải pháp nào cho vấn đề nhảy việc? Một số ý kiến cho rằng: ngành PM nên đưa vào “sổ đen” những nhân sự “có vết” như nghỉ việc không báo trước; không hoàn thành nhiệm vụ nên nghỉ việc...; buộc ứng viên phải có giấy giới thiệu của công ty cũ; các công ty PM cần phối hợp để đưa ra thang lương “chung” cho các vị trí công việc để tránh hiện tượng trả lương “phá giá”... Tuy vậy, theo các phó chủ tịch của VINASA gồm ông Hoàng Minh Châu, ông Nguyễn Đình Thắng, ông Trương Hoài Trang thì các cách lập “sổ đen”, buộc nhân sự trình giấy giới thiệu không phải là rào cản khi nhân viên muốn “nhảy việc” hoặc khi công ty muốn tuyển dụng. Còn thang lương chung thì có lẽ chỉ dùng để tham khảo!

    Cách thiết thực để giữ người chính là có chế độ tăng lương, chính sách đào tạo kỹ năng bổ sung cho nhân viên, tăng khả năng thăng tiến hoặc được chia cổ phần, tùy theo đặc thù của DN. Phía nhà tuyển dụng, với nhân sự cấp trung trở lên thì cần xem xét kỹ quá trình làm việc đã qua, có thể trực tiếp hỏi thăm công ty cũ của ứng viên và thỏa thuận trước về thời gian bàn giao công việc trong trường hợp nghỉ việc.

    “Tôi cũng có một nhân sự giỏi, làm cho công ty 6 năm và rất nhiều nơi mời nhưng bạn ấy không đi. Đơn giản vì bạn này mê công nghệ, mà công ty chúng tôi lại có môi trường công nghệ mới và luôn hỗ trợ chi phí cho nhân viên học thêm. Nếu có thêm chứng chỉ công nghệ phù hợp, lương được tăng thêm 10%. Có nhiều cơ hội được tiếp nhận công nghệ mới nên bạn này tiếp tục gắn bó với công ty dù lời mời bên ngoài có hấp dẫn đến đâu. Từ đó suy ra môi trường phát triển mới là điều người lao động cần nhất khi quyết định làm việc lâu dài”, ông Bùi Đức Hoa chia sẻ.

     

    ĐỂ GIỮ NGƯỜI VÀ ĐỂ THĂNG TIẾN

    “TC, DN cần có những yếu tố sau để giữ được người có khả năng:
    - Tin tưởng, giao quyền hạn và trách nhiệm cho người có khả năng
    - Có chính sách đào tạo, nâng cao trình độ rõ ràng và dài hơi cho cán bộ
    - Đãi ngộ minh bạch, công bằng và xứng đáng (theo kết quả lao động và mặt bằng chung của xã hội) với người có khả năng.
    Với cán bộ CNTT có khả năng, để có thể thăng tiến lâu dài, nên chú ý các điểm sau:
    - Khiêm tốn và lấy kết quả thực tế làm thước đo khả năng của mình. “Tài năng” là một khái niệm trừu tượng và chúng ta rất dễ tự xếp mình vào “người tài”. Nếu bạn là một tài năng thực sự, bạn thường học được rất nhiều, nhiều đến mức bạn thấy bạn biết ít quá và có nhiều người giỏi hơn bạn quá. Khi đó, khiêm tốn là đức tính tự nhiên đến với bạn (vì bạn thấy trên bạn còn không biết bao nhiều người giỏi hơn). Kết quả công việc chính là thước đo khách quan của tài năng
    - Luôn học hỏi nâng cao trình độ. CNTT phát triển quá nhanh nên bất cứ ai cũng sẽ lạc hậu nếu “ngồi yên, tận hưởng” chỉ một thời gian ngắn. Hãy cố gắng không “chung sống hòa bình” với những vấn đề mình còn mù mờ, hiểu chưa chính xác, cặn kẽ để bạn luôn là người đã hiểu thì hiểu “đến nơi đến chốn”. Khi đó, dưới con mắt của cơ quan và đồng nghiệp, bạn sẽ là người đáng tin cậy và... có tài
    - Rèn luyện các đức tính như chăm chỉ, trung thực, kỷ luật... - những thứ khiến bạn trở thành một người đáng tin cậy”.
    Ông Vương Mạnh Sơn, viện trưởng Saigon CTT

    KHÔNG THỂ TRÁNH CẠNH TRANH NHÂN LỰC!

    “Cạnh tranh nhân lực hiện rất gay gắt. Ngay tại Fsoft (công ty phần mềm FPT), khoảng 2000 lập trình viên, chia thành 35 group (nhóm) đã khó quản chuyện nhân viên group này chạy sang group kia do mỗi group độc lập với nhau. Còn trường hợp công ty nước ngoài chờ sẵn và trả lương cao để “rước” ứng viên của Fsoft vừa kết thúc hợp đồng lao động hợp tác (trước khi ký hợp đồng chính thức) không hiếm. Nhưng chúng tôi xác định phải chấp nhận ở một mức độ nào đó, không chạy đua với mức lương, vì giá trị tại Fsoft là cơ hội phát triển, khả năng thăng tiến nhanh của nhân viên”.
    Ông hoàng Minh Châu, phó tổng giám đốc FPT

     


    CNTT CHUYỂN NGÀNH!

    Có không ít người sau khi được đào tạo hàn lâm ở những trường ĐH cũng như các trung tâm dạy nghề CNTT chuyển sang các lĩnh vực khác như ngân hàng, chứng khoán; đi làm tiếp thị, bán hàng, kế toán...

    Bạn Nguyễn Xuân Trường, nhân viên một công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính DN, chịu trách nhiệm quản lý vốn đầu tư và công nợ. Trường cho biết: “Trước đây, tôi làm việc trong ngành CNTT sau khi ra trường và tham gia giảng dạy tại một trung tâm đào tạo chuyên ngành này. Tuy nhiên, sau một thời gian, tôi đã chuyển sang lĩnh vực tài chính - ngân hàng vì muốn có nhiều cơ hội giao tiếp với mọi người và thực hiện các hoạt động kinh doanh. Một lý do nữa là muốn có công việc ổn định. Ban đầu, tôi gặp rất nhiều khó khăn trong công việc mới, nhưng do cũng chịu khó, ham học hỏi và có đam mê nên chuyện khó khăn trong công việc không phải là trở ngại. Tôi nhận thấy kiến thức CNTT giúp cho tôi có những suy nghĩ khoa học về mọi vấn đề và khi chuyển hướng sang công việc khác thì tôi có rất nhiều lợi điểm.

    Một người năng động khác và biết chớp lấy cơ hội là bạn Lê Trọng Thiện, nhân viên môi giới công ty chứng khoán Gia Quyền. Thiện vốn học CNTT, tốt nghiệp loại khá nhưng khi còn học trên giảng đường ĐH, Thiện đã theo học các lớp đào tạo nghiệp vụ chứng khoán và tham gia thị trường chứng khoán từ khi thị trường còn sơ khai. Sự đam mê trong ngành tài chính đã giúp Thiện có được việc làm ổn định và thu nhập khá trong ngành mới nổi này. Thiện cho biết, để có đuợc như ngày hôm nay cũng nhờ có một nguời chú đi trước hướng dẫn và thường xuyên cập nhật thông tin trên báo chí để có thể cung cấp thông tin cho khách hàng. Thiện có đam mê, am hiểu và cũng đã trải qua không ít thất bại. Hôm nào Thiện về nhà trọ sớm cũng là 10 giờ tối, ăn uống qua loa, lăn đùng ra ngủ... Mới vào nghề, nhập lệnh sai gây thiệt hại cho khách hàng, phải ứng tiền túi bồi thường thiệt hại để giữ chân khách hàng...

     

    MANG LẠI GIÁ TRỊ LỚN NHẤT CHO DN!
    “Ngành CNTT hiện có nhiều lựa chọn hơn, không chỉ đơn thuần về kỹ thuật như ngày xưa. Lúc trước, nói đến CNTT, người ta thường nói đến những quản trị mạng, lập trình viên, thiết kế web... Giờ đây, CNTT cho ngân hàng, chứng khoán, sản xuất... được nhắc đến ngày một nhiều hơn. Chọn hướng đi nào phụ thuộc vào cá nhân. Nếu đích của bạn là những vị trí quản lý cấp cao về CNTT trong các DN, ngoài kỹ thuật, bạn cần trau dồi kiến thức quản trị, tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh để hiểu và ứng dụng CNTT sao cho đem lại giá trị lớn nhất cho DN” - Phan Việt Hải, thạc sĩ CNTT, chuyên gia tư vấn CNTT cao cấp của công ty KPMG Việt Nam.

     
     


    TÂM SỰ CỦA NHÀ TƯ VẤN

    “Ngành CNTT có thể chia ra làm 3 mảng chính: truyền thông (Telecommunications), phần cứng (Electrical Engineering), PM (Computer Science/Engineering)”, ông Quang Nguyễn, giám đốc quỹ DFJ VinaCapital, nhà tư vấn chiến lược CNTT, có những chia sẻ với các bạn trẻ yêu CNTT.

    Điểm yếu của người mới tốt nghiệp

    Tốc độ phát triển của CNTT khá nhanh trong các năm qua, số lượng kiến thức phình to trong thời gian ngắn làm các bạn sinh viên khó có thể học chuyên sâu những ngành kể trên trong chương trình cử nhân. Tôi nghĩ, nên chọn 1 ngành chính nào đó để có thể ứng dụng ngay những kiến thức cần thiết cho nhu cầu DN khi ra trường. Kiến thức cơ bản cần được tiếp thu tốt để làm nền tảng cho việc học tập chuyên sâu trong các DN. Kiến thức khác có thể không được học trong ĐH nhưng lại rất cần đến thường ngày như quản trị mạng, quản lý dự án, quản lý thời gian.

    Các đối tượng học ở các trường ĐH Việt Nam không thiếu kiến thức chuyên ngành, hiểu biết về kỹ thuật tương đối tốt. Tuy nhiên, giá trị của sinh viên Việt Nam mới ra trường còn thấp bởi các lý do: khả năng trình bày, khả năng làm wwviệc theo nhóm, khả năng viết (cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh) và khả năng sắp xếp thông tin... đều còn quá yếu! Công việc về CNTT ngày càng phức tạp, thế giới “phẳng” đi mà mình không biết... đi (bằng các kỹ năng, như nói/viết) thì “thua là chắc”!.

    Học nương theo thị trường!

    Tôi nghĩ, khoảng thời gian đầu đầu tư vào Việt Nam, các tập đoàn CNTT quốc tế sẽ không đưa công nghệ cao vào Việt Nam. Lý do là các khoản đầu tư về thiết bị cho công nghệ cao khá cao..., mà kỹ năng đội ngũ chuyên viên tại chỗ thì... chưa cao, nên họ sẽ đưa những công nghệ vừa vừa và song song đó sẽ đào tạo đội ngũ để đầu tư công nghệ cao. Họ mà làm công nghệ vừa vừa thì mình cũng nên học về công nghệ vừa vừa cho dễ có việc làm.

    Cụ thể của công nghệ vừa vừa là: kỹ sư cơ khí, vận hành, giám sát chất lượng, lập trình viên (ở xứ mình, các ứng viên đều tương đối tốt vì khả năng về toán khá cao); phần còn lại của ngành sản xuất PM vẫn chưa đủ nhân lực nằm ở các mảng quản lý dự án, quản lý yêu cầu, quản lý khách hàng và các mảng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm như thiết kế PM.

    Khách hàng lĩnh vực PM thường từ phương Tây hoặc Nhật Bản. Khi làm việc, họ có phương pháp luận riêng, có nhu cầu về nghiệp vụ riêng, muốn lấy được hợp đồng và thực hiện được hợp đồng thì phải thành thục môi trường kinh doanh của họ. Phải cải tiến khả năng đọc, nói, hỏi và viết của các kỹ sư tương lai tại Việt Nam. Không có gì đau hơn khi mình giỏi hơn người ta, biết làm hết mọi chuyện mà lại không có việc làm vì không biết làm sao trình bày được giải pháp của mình cho người ta hiểu. Thế giới càng ngày càng đòi hỏi phải hiểu nhau nhiều hơn, nhanh hơn... Kỹ năng “mềm” càng trở nên cần thiết cho các bạn mới ra trường.

    Tính chuyên nghiệp trong các tập đoàn

    Tính chuyên nghiệp là đòi hỏi số một khi làm việc ở các tập đoàn quốc tế. Các tập đoàn đặt nặng tính chuyên môn và chất lượng công việc. Thường thì thời gian để viết tài liệu diễn giải một đoạn thảo chương (program) còn tốn nhiều hơn là thời gian ngồi viết đoạn program đó. Thời gian để kiểm tra công việc cũng nhiều hơn để đạt chất lượng công việc cao hơn. Công việc ở các tập đoàn cũng đòi hỏi đi theo các quy trình chuẩn, với người mới ra trường, điều đó rất “khó chịu”.

    Môi trường ở các tập đoàn CNTT chỉ phù hợp với những anh chị em biết tuân thủ theo khuôn khổ. Là nơi có thể học được nhiều thứ khác nhau, họ chú tâm đào tạo con người có tính thực dụng. Một số bạn có chí tạo nghiệp nên vào các công ty này làm việc đôi ba năm để học hỏi và khỏi trả giá cho những kiến thức này khi ra ngoài tự tạo dựng cái cho riêng mình.

    Để làm nghề tư vấn chiến lược CNTT

    Cái nghề tư vấn chiến lược CNTT chỉ dính tới CNTT một chút xíu thôi! Phần dính tới chiến lược kinh doanh nặng hơn nhiều. Cho nên, thông thường, số làm tư vấn chiến lược CNTT lại từ nhóm làm chiến lược kinh doanh mà ra. Yếu tố quan trọng nhất để làm tư vấn chiến lược CNTT là có cái nhìn tổng quát về chiến lược kinh doanh của DN, nhạy bén trong việc định nghĩa và kiểm chứng nhu cầu về CNTT của DN dựa trên các chiến lược dài hơi của họ.

    Là nhà tư vấn chiến lược CNTT, bạn cần đồng cảm với chủ DN, tha thiết với mục tiêu của họ thì mới có thể cung cấp các kiến nghị chính xác và bổ ích trong việc sử dụng CNTT như là một công cụ cạnh tranh sắc bén. Dĩ nhiên là làm việc này, bạn rất cần kiến thức cập nhật của các mảng lớn về CNTT, các khuynh hướng phát triển của kỹ thuật CNTT, thị trường CNTT, kiến thức về hạ tầng CNTT của địa phương và các phương pháp giải quyết vấn đề CNTT ở tầm vĩ mô.


    CHUYỆN CỦA DUY VÀ BÀI TOÁN NHÂN SỰ

    Đoàn Tường Duy là một chuyên gia trong lĩnh vực phát triển phần mềm, đã có gần 10 năm phụ trách hệ thống CNTT trong vài DN ứng dụng. Thu nhập cao, nhiệt huyết tuổi trẻ, lòng say nghề của chàng trai mới ngoài 30 cũng không giữ được Duy ở lại do cái nhìn của DN và người lao động không cùng hướng.

    Đam mê, dốc sức vì nghề... và ra đi

    Năm 1998, tốt nghiệp ĐH Bách Khoa, Duy chọn hướng sẽ làm việc trong DN ứng dụng cần nhân viên CNTT chứ không làm việc cho DN CNTT. Duy được tuyển dụng vào vị trí phụ trách hệ thống CNTT trong một công ty kiểm toán của Mỹ tại Việt Nam. Lãnh đạo công ty rất quan tâm đầu tư CNTT và giao cho Duy phụ trách nhiều dự án phát triển hệ thống CNTT trong công ty. Trong 8 năm làm việc tại đây, bên cạnh khả năng chuyên ngành CNTT, Duy phải mất gần 5 năm bổ sung thêm kiến thức kế toán, quản trị nhân sự, quản lý DN... để hoàn thành tốt nhiệm vụ và triển khai hiệu quả ứng dụng CNTT vào sản xuất kinh doanh (KD). Nếu một số kiến thức cơ bản về ứng dụng CNTT trong môi trường DN được dạy ở đại học thì có lẽ Duy chỉ cần mất khoảng 2 - 3 năm để trải nghiệm thực tế và nắm vững.

       

     

    Với bộ phận KD, DN giao chỉ tiêu doanh số. Vậy, DN cũng phải có mục đích rõ ràng, đặt chỉ tiêu – giao nhiệm vụ cho phòng CNTT và hiệu quả của phòng này cũng sẽ được đánh giá như với những phòng ban khác thông qua kết quả sản xuất KD. Có như thế thì mục đích sử dụng từ phía DN mới đạt được và năng lực của người lao động mới được phát huy.

    Sau đó, vì lý do riêng, Duy đầu quân cho một công ty hàng đầu Việt Nam trong ngành thực phẩm với vị trí trưởng phòng CNTT. Nhưng ở đây, Duy gặp một vấn đề búc xúc. Công ty không xác định rõ chức năng, vai trò và công việc của bộ phận CNTT, không biết dùng Duy làm gì. Duy phải tự tìm việc, tự nghĩ ra việc để làm. Từ đầu, công ty không xác định được mục đích sử dụng nên không có ai thẩm định được điều Duy đề nghị có thể làm được không? Hay thậm chí, những việc Duy làm có hiệu quả không!

    Khi về công ty, Duy tiếp nhận một hệ thống CNTT rối ren, dữ liệu mất thường xuyên... Mất 6 tháng để giải quyết những vấn đề này, ổn định hệ thống, phân bổ lại nhân sự CNTT. Khi hệ thống ổn định, Duy như bị... thất nghiệp vì không có việc gì làm nữa! Duy phải tự nghĩ ra công việc và đề nghị một số chương trình, dự án để phục vụ quản lý DN, quản lý sản xuất. Được duyệt và lại tiếp tục làm. Nhưng trở ngại lớn nhất là giữa lãnh đạo DN với bộ phận CNTT không xác định được cơ chế, nội dung và thẩm quyền công việc một cách rõ ràng. Các chương trình đưa vào ứng dụng thì không có người “cầm chịch” từ phía ban giám đốc.

    Ứng dụng CNTT được một thời gian, mọi người dần lơ là, không khai thác hết giá trị hệ thống. Bộ phận CNTT không có thẩm quyền quyết định, nhưng cũng không thể năn nỉ mọi người dùng. Việc triển khai ứng dụng cuối cùng không đạt hiệu quả! Cứ thế, lại tiếp diễn vài dự án khác. Khi bắt đầu dự án, bộ phận CNTT tập trung toàn bộ sức lực, làm không kể ngày đêm.Thế nhưng khi triển khai thì không được hưởng ứng. Những chương trình CNTT sau thời gian thử nghiệm còn phải cải tiến, nâng cấp thì mới “sống” được. Còn đây, cứ làm xong lại bỏ đó...!

    Rồi, dường như “theo phong trào”, công ty lại tiếp cận và triển khai hệ thống ERP, một hệ thống CNTT mà để triển khai thành công đòi hỏi phải có sự thống nhất chặt chẽ ở tất cả các quy trình, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Ban lãnh đạo phải xác định mục đích của việc đầu tư, phân định rõ những nội dung công việc, quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận khi triển khai ứng dụng. Và việc phải đến cũng đến, giữa Duy - người phụ trách CNTT và người quản lý không có được tiếng nói chung. Duy thật sự bất mãn vì kết quả mình làm ra không được đón nhận, thậm chí không có sự đánh giá nào. “Tôi đành phải ra đi!” – Duy ngậm ngùi.

    Thay đổi cơ cấu bộ phận CNTT

    Đối với các ngành khác như kế toán, KD..., tỷ lệ thất bại trong tuyển và sử dụng lao động thấp do kiến thức được đào tạo phù hợp với môi trường làm việc, mục đích và nội dung công việc trong DN cũng rất rõ ràng. Hiện nay, tuyển nhân viên kế toán hay nhân viên CNTT đều là tuyển dụng lao động, đáng lẽ chúng hoàn toàn giống nhau nhưng DN lại thực hiện khác nhau! Mục đích tuyển nhân sự CNTT không rõ ràng. Đặc tả công việc không có hoặc mơ hồ. Người lao động không được đào tạo phù hợp để làm CNTT trong môi trường DN (sinh viên CNTT hiện nay sau khi tốt nghiệp làm việc trong DN CNTT thì phù hợp hơn).

    Với nhân sự CNTT, mục tiêu sử dụng đã sai lệch ngay từ đầu. Hậu quả: nhân viên không có điều kiện phát huy khả năng, không được lên lương, lãnh đạo không hài lòng! Hiện nay, tuy nhận thức của lãnh đạo DN về lợi ích từ CNTT đã được nâng cao, đa số công ty đều có bộ phận CNTT, nhưng vẫn tồn tại quan điểm xem CNTT thuộc bộ phận hành chính và CNTT chỉ nhằm giải quyết được mấy chuyện “máy móc, email...”.

    CNTT là công cụ phục vụ DN, liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất KD của DN. Vì vậy, CNTT phải được đối xử như những bộ phận khác. Giao đủ quyền hạn, có yêu cầu rõ ràng sẽ thu được kết quả đúng yêu cầu. Cần phân công ai là người đánh giá mức độ thiệt hại gây ra với toàn bộ quy trình sản xuất - KD của DN khi hệ thống hư hỏng và ai phải chịu trách nhiệm? Đa số DN hiện chưa có chuẩn nào cho vấn đề này.

    Quy mô DN dù nhỏ hay lớn, nếu đã có bộ phận CNTT, thì phải coi bộ phận này như các bộ phận khác, có quy chế, chính sách, phân công, phân quyền... Tránh tình trạng lập ra bộ phận CNTT “cho có” và bộ phận này không phải chịu trách nhiệm nào. Nếu lãnh đạo DN trước khi quyết định đầu tư hệ thống CNTT hay tuyển nhân viên CNTT mà hình dung được ảnh hưởng của hệ thống tới hoạt động DN thì sẽ sử dụng nhân viên CNTT hiệu quả hơn.

    Ngay cả những công ty quan tâm đầu tư CNTT, có chức danh, quy chế cho nhân sự CNTT... vẫn thường sử dụng nguồn lực CNTT theo quan niệm cũ. Đầu tư 1 tỷ đồng mua một dây chuyền sản xuất, DN tính được rằng, 1 năm sau sẽ khấu hao, thu lợi... bao nhiêu % Nhưng đầu tư một chương trình phần mềm, hệ thống ERP từ vài chục triệu đến hàng tỷ đồng, họ không biết phải sử dụng như thế nào, khấu hao ra sao? Hiện tại, DN vẫn xem khoản này là chi phí, không phải là vốn đầu tư (!) Những khoản này có thể không thể hiện trực tiếp qua những giá trị “tiền mặt”, nhưng những giá trị tưởng như vô hình (như góp phần làm năng suất tăng, chất lượng tăng, đảm bảo hoạt động trơn tru – tiết kiệm nhân công...) thì đều có thể định lượng được.


    Thực hiện: Như Dũng - Ðại Nguyên - Như Nguyện - Phi Quân - Hồng Vinh - Bích Ty

    ID: B0804_17