• Thứ Bảy, 28/06/2008 08:11 (GMT+7)

    Đồng hành du lịch

    Để phát huy tiềm năng du lịch (DL), ngành DL Việt Nam ngoài việc đáp ứng nhu cầu về phòng, tour... còn phải có hệ thống CNTT hiện đại, đa dịch vụ qua mạng, hệ cơ sở dữ liệu (CSDL) tốt cho tất cả những thứ liên quan cùng sự phối hợp từ nhà nước đến doanh nghiệp (DN), DN đến DN mạnh mẽ hơn.

    Doanh nghiệp "mạnh" hơn cấp quản lý
    Đánh giá về ứng dụng CNTT của ngành Du Lịch, theo báo cáo kết quả khảo sát của trung tâm Tin Học- tổng cục DL, ứng dụng ở các cấp quản lý cấp tỉnh, thành (sở) chỉ đạt mức trung bình, việc khai thác phục vụ cho công tác quản lý còn thấp, cơ sở dữ liệu (CSDL) còn hạn chế, bảo mật chưa được chú trọng so với khối doanh nghiệp.
    LaTour - Giải pháp cho công ty lữ hành
    LaTour là giải pháp Việt cho DN mọi quy mô trong lĩnh vực DL lữ hành: quản lý kinh doanh, tổ chức điều phối tour, dự báo, tiếp thị, quản lý khách hàng (KH), đánh giá hiệu quả...

    Quản lý khách sạn với HMS
    HMS - Hotel Management System là PM quản lý khách sạn do Lạc Việt phát triển,với mục tiêu hỗ trợ tối đa các nhà quản lý khách sạn.
    TP.Huế thông báo khách lưu trú qua mạng
    Là 1 trong 3 vùng DL trọng điểm quốc gia được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển DL Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, với lợi thế về tiềm năng, thời gian qua, DL Thừa Thiên - Huế đã có những bước phát triển nhanh với sự đầu tư lớn, trong đó đặc biệt cho cơ sở hạ tầng lưu trú. Số lượng khách nước ngoài, Việt kiều và nội địa đến Huế ngày càng tăng.
    "Du lịch theo mùa" với saigontourist
    Theo các chuyên gia CNTT công tác trong ngành DL, Saigontourist là đơn vị ứng dụng CNTT hàng đầu ở Việt Nam. Tại công ty Dịch Vụ Lữ Hành Saigontourist, một đơn vị của Saigontourist, điều đó được thể hiện rất rõ.
    "Xoáy" vào đặt tour trực tuyến...
    Công ty cổ phần DL và Thương Mại TST Tourist, TP.HCM là một trong những công ty DL sớm ứng dụng CNTT đặt phòng khách sạn, đặt tour, vé máy bay... trên mạng.
    Mua vé máy bay của Jetstar Pacific...
    Du khách giờ đây có thể không cần đến đại lý đặt tour, đặt phòng khách sạn và đặt vé máy bay. Họ chỉ cần truy cập trang web có ứng dụng thương mại điện tử của các hãng hàng không hoặc công ty DL để lựa chọn dịch vụ và thanh toán trực tuyến.
    Di lịch “bụi” đến Ấn Độ chủ động, linh hoạt và tiết kiệm
    Gần tới ngày Phật Đản, chúng tôi tổ chức một cuộc hành hương tới Ấn Độ, Nepal để thăm 4 thánh tích Phật giáo. Chuyến đi không thực hiện nổi nếu không tận dụng sự hỗ trợ “tận tay” của CNTT.

    Ứng dụng CNTT trong ngành du lịch
    DOANH NGHIỆP “MẠNH” HƠN CẤP QUẢN LÝ

    Đánh giá về ứng dụng CNTT của ngành Du Lịch, theo báo cáo kết quả khảo sát của trung tâm Tin Học- tổng cục DL, ứng dụng ở các cấp quản lý cấp tỉnh, thành (sở) chỉ đạt mức trung bình, việc khai thác phục vụ cho công tác quản lý còn thấp, cơ sở dữ liệu (CSDL) còn hạn chế, bảo mật chưa được chú trọng so với khối doanh nghiệp.

    Theo tổng cục Du Lịch, năm 2007 DL thế giới đạt 898 triệu lượt khách (tăng 6,5% so với 2006), dự kiến đạt 1,6 tỷ lượt vào 2020; thu nhập DL 2007 đạt 733 tỷ USD. Năm 2007, hơn 41% khách DL tại Tây Ban Nha đăng ký tour qua mạng và tại Mỹ, số người đăng ký tour qua mạng bắt đầu vượt số người đăng ký trực tiếp. Với hơn 1,4 tỷ người dùng Internet hiện nay, ứng dụng CNTT là nhân tố tạo sức cạnh tranh cho các nước đang phát triển có tiềm năng DL cạnh tranh bình đẳng với các cường quốc DL. So với năm 2006, năm 2007 DL Việt Nam đón hơn 4,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 17,2% và hơn 19,2 triệu lượt khách nội địa, tăng 9,7%, thu nhập xã hội từ DL ước đạt 56.000 tỷ đồng, tăng 9,8%.

    Cấp quản lý: Ứng dụng ở mức độ trung bình

     

    " Mức độ ứng dụng CNTT ở khối DN sâu và rộng hơn tại các cấp quản lý về DL do chủ động hơn về cơ chế, chính sách, tài chính ".

    Ngành DL Việt Nam cũng đã ứng dụng CNTT ở mức độ trung bình, phần lớn chưa khai thác hiệu quả tối đa các lợi ích của CNTT trong công tác quản lý, hoạt động kinh doanh (KD). Theo một điều tra của Trung Tâm Tin Học - tổng cục Du Lịch, năm 2007 nhận thức về lợi ích của CNTT không còn là rào cản cho việc ứng dụng tại các cơ quan quản lý DL cấp tỉnh, thành phố (sở). 100% các sở đã trang bị máy tính, trong đó: nhiều máy nhất ở Đồng Tháp (33 chiếc); ít máy nhất ở Phú Thọ (4 máy); 77.5% sở có mạng nội bộ với 1 - 2 máy chủ; 24 sở kết nối với mạng cấp trên...

    Theo kết quả khảo sát có 47/48 sở kết nối Internet, phần lớn theo dạng băng thông rộng ADSL. Trong đó: 4 sở có công chức truy cập Internet ít nhất 1 lần/tuần, dưới mức 50%; 84% sở được điều tra có tỷ lệ công chức truy cập Internet hàng ngày khá cao, trên 80%. Song, truy cập Internet chủ yếu để trao đổi email và tìm kiếm thông tin (98% và 100%), giao dịch với công dân chỉ chiếm 17% và nghiên cứu khoa học chiếm 42%.

    30/48 sở được điều tra hiện đã có hoặc đang xây dựng website cho riêng mình (chiếm 63%). Tỷ lệ này còn thấp so với khả năng sẵn sàng kết nối Internet của các sở. Có 21 sở xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử (chiếm 44%), trong đó chủ yếu là: quản lý kế toán tài chính (60%), quản lý công văn (6%) và thư viện điện tử (6%).

    Về nhân lực CNTT: 15 sở (31%) có bộ phận chuyên trách về CNTT, 8 sở có lãnh đạo chuyên trách quản lý CNTT (17%). Theo thống kê chưa đầy đủ, nhân sự CNTT chiếm 6,5% tổng số nhân viên, công chức các sở. Vấn đề bảo mật thông tin đã được quan tâm, song mới chỉ ở mức cơ bản, có 17/48 sở sử dụng các công cụ an toàn thông tin. Kinh phí hạn chế, cơ chế, chính sách chưa cụ thể là những nhân tố cản trở ứng dụng CNTT.

     

    CẦN CHUẨN ỨNG DỤNG CHUNG

     
     

    Những ý kiến của ông Lê Tuấn Anh - giám đốc trung tâm Thông Tin DL, tổng cục DL về ứng dụng CNTT trong ngành DL VIệt Nam

    “Mức độ ứng dụng CNTT trong ngành DL hiện ở bước khởi đầu. Theo chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT (Vietnam ICT Index): năm 2005, ngành DL xếp hạng khá 8/26 bộ, ngành; năm 2006 là 12/36 bộ, ngành (do thành lập một số bộ, ngành mới). Ứng dụng CNTT trong ngành DL hiện chia thành 3 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp DN. Ở cấp trung ương, hệ thống cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển ứng dụng tương đối tốt. Tuy nhiên môi trường, chính sách để thúc đẩy ứng dụng chưa được quan tâm, chưa có ban chỉ đạo ứng dụng cấp bộ, chưa có chiến lược phát triển cụ thể cho ngành. Cấp tỉnh, tuy lãnh đạo nhận thức rõ lợi ích CNTT thể hiện qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực nhưng mức độ chưa được đồng đều giữa các vùng, miền. Cấp DN, việc ứng dụng tương đối khá do nhu cầu gắn liền với hoạt động KD, DN chủ động về cơ chế chính sách, tài chính.

    Nhìn chung, việc ứng dụng CNTT của ngành DL còn hạn chế, chưa được phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, còn mang tính tự phát và nhỏ lẻ, chưa tập hợp tất cả nguồn lực để tạo nên hình ảnh chung cho DL Việt Nam, chưa thống nhất một chuẩn chung về trao đổi dữ liệu. Nếu xây dựng được chuẩn chung này, DN không phải đầu tư mà sẽ tận dụng giới thiệu hình ảnh, sản phẩm từ những chiến dịch quảng bá của Nhà Nước, có môi trường trao đổi dịch vụ, KH giữa các DN. Với các cấp quản lý, dựa trên số liệu thống kê có thể phân tích thị trường để hoạch định chính sách phát triển DL.

    Hiện nay, các tổ chức DL thế giới khuyến cáo các cơ quan quản lý DL nên ứng dụng hệ thống quản lý điểm đến DMS (Destination Management System). Một hệ thống DMS hoàn chỉnh hiện nay được xem là mức độ ứng dụng CNTT cao nhất của ngành DL. Qua DMS, du khách có thông tin đầy đủ để so sánh, lựa chọn dịch vụ. DN DL trao đổi thông tin nghiệp vụ, cơ quan quản lý khai thác số liệu qua sự tương tác trao đổi giữa người sử dụng - DN DL - du khách tiềm năng. Để có được mô hình này, việc kết hợp giữa khu vực công (quản lý) và khu vực tư (DN cung cấp giải pháp) là cần thiết. Ngành DL Việt Nam đang nghiên cứu đầu tư theo từng bước, từ website đã xây dựng sẽ phát triển thành cổng thông tin DL, sau đó xây dựng DMS theo chuẩn quốc tế.

    Để hỗ trợ thúc đẩy ứng dụng, tổng cục DL đang đẩy mạnh thông tin quảng bá trên hệ thống website, sẵn sàng tiếp nhận thông tin từ các tỉnh, đưa thông tin của DN miễn phí và cung cấp giải pháp cho DN có nhu cầu. Tổng Cục cũng nghiên cứu hoàn thiện môi trường chính sách tạo thuận lợi thúc đẩy ứng dụng CNTT, giữa năm 2008 sẽ từng bước ứng dụng TMĐT cho các dịch vụ DL...”


     

    Các doanh nghiệp ứng dụng tốt hơn

    So với cấp quản lý, ứng dụng CNTT trong khối DN DL được đầu tư mạnh hơn, khai thác sâu hơn cho hoạt động của DN. Nguyên nhân là DN đã ý thức rất rõ lợi ích của ứng dụng CNTT trong hoạt động của mình, thể hiện ở số máy trạm và máy chủ trang bị, sử dụng. Theo kết quả khảo sát 52 DN DL, trung bình mỗi DN có 62,7 máy trạm và 2,3 máy chủ. Trong đó: tổng công ty DL Sài Gòn – SaigonTourist có tới 25 máy chủ, khách sạn Caravelle có 20 máy chủ. 63% DN có từ 50-500 máy trạm, còn lại có dưới 20 máy trạm. Tất cả máy tính đã được sử dụng cho: soạn thảo văn bản 100%; hỗ trợ nghiệp vụ 98%; truy cập Internet 98%; kết nối với mạng cấp trên 37%; sử dụng thư điện tử 100%; phục vụ công tác quản lý 90%. Chỉ có 2 DN không có mạng nội bộ (chiếm 3,8%), còn lại đều đã có mạng LAN có dây (90%) hoặc LAN không dây (52%).

    100% các DN truy cập Internet để trao đổi email, tìm thông tin: 96% giao dịch với đối tác; 90% nghiên cứu thị trường và 54% sử dụng dịch vụ tài chính, ngân hàng. Tỷ lệ dùng Internet để thanh toán trên mạng đạt 27%. 49 DN đã có website. Tỷ lệ này khá cao, chứng tỏ các DN đã có ý thức về vai trò của CNTT trong quảng bá sản phẩm DL.

    Có 33/52 DN xây dựng CSDL, trong đó chủ yếu là quản lý: nhân sự 44%; khách hàng (KH) 42%; điều hành tour 37%; kế toán tài chính 93%. Các DN DL thực sự chú trọng bộ phận chuyên trách CNTT gồm: 63% DN có bộ phận CNTT; 33% có lãnh đạo quản lý CNTT. Vấn đề bảo mật thông tin cũng đạt mức cao: 56% có tường lửa; 85% sử dụng các chương trình diệt virus. Một số DN cho rằng, thiếu kinh phí và nhân sự chuyên trách gây cản trở ứng dụng. Tuy nhiên, số này không quá 19%.

     

    ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN QUA MẠNG TOÀN CẦU

     
     

    GenaRes (www.genares.com) là công ty cung cấp hệ thống đặt phòng qua mạng toàn cầu (Global Distribution System – GDS) và công cụ đặt chỗ trực tuyến (Web Booking Engine - WBE). Người dùng GDS và WBE sẽ dễ dàng đặt phòng khách sạn từ khắp thế giới.

    Tạo 1 tài khoản trên GDS, khách sạn có thể đưa lên GDS đầy đủ thông tin liên quan như: lịch sử hình thành khách sạn, giá phòng cho từng loại phòng, các loại giá khuyến mãi..., hình ảnh không giới hạn của khách sạn. GDS kết nối khách sạn đến 4 kênh phân phối toàn cầu là Sarbe, Galileo, Worlspan, và Amadeus. Mỗi kênh có thế mạnh ở từng châu lục khác nhau. WBE đặt đường link trên website của khách sạn. Du khách thực hiện đặt phòng ngay tại website của khách sạn mà không cần thông qua các website DL hay các đại lý DL nào khác. Du khách chỉ có thể thực hiện đặt phòng khi cung cấp số thẻ tín dụng thật và hạn sử dụng của thẻ.

    Dịch vụ của GenaRes mang đến nhiều thuận lợi như: Kết nối trực tiếp thông suốt theo công nghệ mới nhất với hệ thống đặt phòng qua mạng toàn cầu (GDS); Điều khiển 100% trên Internet; Kết nối với tất cả những website và đại lý DL quan trọng trên toàn cầu; Dịch vụ của GenaRes được thiết kế, xây dựng và duy trì theo công nghệ ASP nên thông tin của khách sạn không lệ thuộc bên thứ ba; Giao diện thân thiện, dễ dùng; Cấu trúc mở; Chuyển giao các giao dịch đặt phòng đến khách sạn qua email, fax hay qua hệ thống quản lý khách sạn (PMS); Hệ thống cập nhật tức thì sự điều chỉnh thông tin phòng trống của khách sạn; Đầy đủ chuỗi tính năng báo cáo dễ dàng nhất.

    Sử dụng GDS, thông tin khách sạn tự động được kết nối đến hơn 1.000 websites DL bao gồm 100 websites DL nổi tiếng nhất thế giới (www.expedia.com, www.travelocity.com, www.zuji.com...) và hơn 600.000 đại lý DL trên toàn thế giới. Đồng thời, khách sạn cũng thực hành thương mại điện tử (e-commerce): nhận đặt phòng của khách DL khắp toàn cầu.
    Tại Việt Nam, GenaRes được phân phối độc quyền bởi TRG International từ 1/2006. Hiện, ở thị trường Việt Nam, đã có gần 70 KH gồm các khách sạn, resort, tàu DL từ 3 – 5 sao lựa chọn GenaRes làm nhà cung cấp GDS và 72% trong số đó sử dụng WBE. Đồng thời, GenaRes cũng hoàn toàn có khả năng cung cấp sự hỗ trợ, tư vấn qua TRG International.


     


    LaTour
    GIẢI PHÁP CHO CÔNG TY LỮ HÀNH

    LaTour là giải pháp Việt cho DN mọi quy mô trong lĩnh vực DL lữ hành: quản lý kinh doanh, tổ chức điều phối tour, dự báo, tiếp thị, quản lý khách hàng (KH), đánh giá hiệu quả...

    Bà Trần Thị Thanh Hằng, giám đốc kinh doanh (KD) - tiếp thị công ty giải pháp CNTT Lê Huân (LITS, TP.HCM) cho biết, giải pháp LaTour hiện đã có 7 công ty DL, lữ hành ứng dụng thành công và đang có thêm nhiều KH mới triển khai. Phần mềm (PM) giúp công ty lữ hành: tiết kiệm thời gian, chi phí liên quan các hoạt động quản lý DL, lữ hành: tăng độ chính xác số liệu và đơn giản hóa lưu trữ, bảo quản dữ liệu; tăng hiệu quả truyền thông tương tác giữa đội ngũ bán hàng và cấp quản lý. PM giúp quản lý, điều phối tour; duy trì quan hệ KH; tối ưu nghiệp vụ KD DL... PM còn là ứng dụng web có thể kết nối với hệ thống đặt tour trực tuyến (B2C-Online Tour Booking), kết nối thanh toán trực tuyến.

    Quản lý KD và điều hành, tổ chức tour

    Phân hệ quản lý hoạt động KD quản lý các thông tin liên quan KH, người liên hệ, tour DL và dự báo tour. Trong đó, mỗi KH, mỗi tour được quản lý bởi một mã số duy nhất trong toàn hệ thống. Phân hệ này cũng như nhiều phân hệ khác gồm các chức năng chính như: thêm, cập nhật, xóa, tìm kiếm thông tin và nhiều chức năng liên quan khác, cho phép kẹp tài liệu đính kèm. Thông tin tour thường bao gồm: tên tour, mã số tour, ngày đi, ngày về, số du khách, các giai đoạn tour...

    Chức năng quản lý tour gồm các thông tin như: mức thuế áp dụng, số lượng khách, tiền tệ giao dịch, giá tour, loại tour, chi phí phát sinh, loại dịch vụ, chi tiết dịch vụ... Phân hệ này quản lý thông tin người điều hành tour thông tin chi trả theo từng mốc thời gian; các giai đoạn tour (gồm tên giai đoạn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận ròng, loại tiền tệ, xác suất thành công, ngày kết thúc tour, thông tin người cập nhật, ngày cập nhật...). Chức năng dự báo tour cho biết: loại tour, tên dự báo, thời gian dự báo, lịch sử thay đổi dự báo.

    Phân hệ quản lý điều hành, tổ chức tour có các thông tin liên quan đến các hoạt động điều hành, tổ chức từng tour DL cho KH như: lộ trình khách sạn (chi tiết đến loại tour, tên khách sạn, loại khách sạn, địa chỉ, tiền tệ giao dịch, thông tin phòng, thời gian đăng ký vào, ra, thông tin khuyến mãi, thông tin liên lạc, tên người liên hệ của khách sạn, điện thoại, email...); phòng khách sạn (loại phòng, giá); phòng hội nghị (loại phòng, giá, các tiện nghi sẵn có); thực đơn; nhà hàng (loại tour, tên nhà hàng, địa chỉ, tiền tệ giao dịch, mã số thuế, thông tin khuyến mãi...)...

    PM còn có chức năng quản lý tuyến điểm mà du khách sẽ tham quan, ghi nhận tên tuyến điểm, thời gian mở, đóng cửa; mã số thuế; mô tả chi tiết tuyến điểm; thông tin liên lạc; thông tin phí... Ở đây có thông tin về phương tiện như: máy bay, chuyến bay sẽ dùng phục vụ cho hành khách trong các chuyến tham quan, lộ trình bay và các dịch vụ đính kèm hay tàu lửa (số chuyến tàu, ngày/giờ khởi hành, thông tin các dịch vụ kèm theo...)... Phân hệ cũng quản lý thông tin hướng dẫn viên là nhân viên công ty hoặc là cộng tác viên và các thông tin về các dịch vụ khác phù hợp với từng loại hình hoạt động của từng DN DL, lữ hành.

     

    LaTour là hệ thống đa người dùng. Các cấp người dùng khác nhau có thể cùng tương tác trên cùng một kho dữ liệu tập trung đồng nhất, giúp các thông tin luôn mới và được xử lý nhanh chóng. Hệ thống đáp ứng được tính "tức thì” và "đồng bộ", sẵn sàng cho việc mở rộng và tích hợp các tính năng khác (nhắc nhở công việc; cấu hình thông số cho từng máy và cho từng người dùng...). Hệ thống không đòi hỏi nhiều ở phần cứng, tối thiểu các máy đơn cần có chip từ 1GHz trở lên, RAM 128 MB, ổ cứng 100MB còn trống (cấu hình khuyến cáo chip 1,5GHz, RAM 256MB, ổ cứng từ 200MB trở lên và sử dụng trên mạng Server/Clients với cấu hình này).

    LaTour được phát triển trên nền NET, XML, Developer Report kết hợp khung giải pháp LITS framework và hệ thư viện LITS library, hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) tương thích SQL Server, Oracle, MySQL, Access. Giải pháp vừa đoạt giải Sao Khuê do hiệp hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam trao cho PM tiêu biểu năm 2008.

     

    Các phân hệ khác

    Hệ thống quản lý chi trả quản lý thông tin, tình trạng chi trả của từng tour. Mỗi tour bán được chi trả theo từng giai đoạn khác nhau, tất cả các thông tin này đều được lưu lại giúp nhà quản lý theo dõi.

    Hệ thống quản lý gửi, nhận mail cung cấp chức năng quản lý gửi, nhận mail. Phân hệ giúp quản lý theo dõi, duy trì quan hệ với KH dễ dàng, chủ động.

    Hệ thống báo cáo giúp hiểu rõ tình hình KH, tình hình KD của công ty. Có các báo cáo: về KH theo từng nhân viên bán hàng; tổng hợp về KH; dự đoán doanh thu; tour theo từng giai đoạn; doanh thu theo từng KH; tổng hợp theo từng tour; quá trình chi trả...

    Hệ thống quản trị hệ thống: Với từng vai trò, người dùng có thể tương tác với hệ thống. Chương trình cung cấp các chức năng quản lý hệ thống như: quản lý tài khoản người dùng; chức năng – quyền sử dụng; cấu hình thông số dùng chung toàn hệ thống; cấu hình thông số trên từng máy đơn; thiết lập thông số của màn hình nhắc nhở...

     

    TIẾT KIỆM THỜI GIAN ĐÁNG KỂ!

     
     

    Công ty cổ phần DL Quốc Tế Á Châu (Asian Travel) TP.HCM là một trong những KH đầu tiên ứng dụng thành công PM LaTour. Bà Đinh Thị Thu Nga, phó giám đốc công ty đã trao đổi với TGVT - PCW B về quá trình ứng dụng.

    Bà Đinh Thị Thu Nga, phó giám đốc Asian Travel cho biết: “Ngay từ khi thành lập (cách đây 3 năm), Asian Travel đã liên hệ với công ty cổ phần giải pháp CNTT Lê Huân (LITS) đặt thiết kế PM hỗ trợ công việc. Công việc mang đặc thù của lĩnh vực DL lữ hành. Từ khi đưa ra yêu cầu, đến thiết kế, chuyển giao, chạy thử, chỉnh sửa và ổn định, PM mất 6 tháng để hoàn tất. Tuy nhiên, Asian Travel cũng phải mất thêm 6 tháng nữa để sử dụng nó một cách thuần thục. PM chủ yếu dùng cho các nhân viên. Khi cần, lãnh đạo cũng có thể “can thiệp” ghi chú vào từng ô mục. Trước kia, công việc đi kèm nhiều giấy tờ. Bây giờ khác, chẳng hạn: hôm nay có bao nhiêu đoàn? Phải chuẩn bị dịch vụ cho bao nhiêu tour? Các tour đã ký hợp đồng chưa?... Tất cả thông tin đều có trên giao diện”.

    Bà Nga nói: Làm tour có nhiều giai đoạn. Nhân viên KD sẽ bán tour. Nhân viên điều hành sẽ lo tàu, xe, khách sạn, nhà hàng, phòng khách sạn, thực đơn... Khi bán tour, nhân viên tiếp thị nhập liệu tình trạng tour đang bán. Hoặc nhân viên điều hành có nhiệm vụ thu thập đủ thông tin liên quan, nhập vào PM... Từ đó, nhân viên bán hàng có đủ thông tin cần thiết để bán dịch vụ (ví dụ, có bao nhiêu nhà hàng ở Phan Thiết? Thực đơn, giá cả thế nào?...). Lãnh đạo công ty sẽ nắm rõ được tình trạng công việc qua thông tin từ nhân viên và lãnh đạo sẽ có ghi chú cụ thể như: đồng ý cho thực hiện tour theo từng phương án”. Ngoài ra, hướng dẫn viên (HDV) là một phần dịch vụ của công ty. HDV được ghép vào đoàn thích hợp nhất. Cuối năm, công ty có thể tổng hợp thông tin liên quan như HDV đã đi bao nhiêu tour, với những đoàn nào, có gây khó khăn gì không... Bên cạnh đó, PM còn có thể xuất nhiều báo cáo khác nhau cho nhu cầu quản lý (ví dụ, có thể lọc danh sách KH đã sử dụng dịch vụ của công ty, lợi nhuận mà họ đã mang lại...)

    Được biết, sau 2 năm sử dụng LaTour nhuần nhuyễn, Asian Travel đã có những kết quả đáng kể, đó là: xử lý công việc dễ dàng hơn, tiết kiệm được thời gian, giấy tờ, quản lý và điều hành thông suốt. Song, ban đầu khi ứng dụng LaTour như một số trường hợp ứng dụng khác, Asia Travel cũng gặp những khó khăn. “Chúng tôi là KH thuộc lĩnh vực DL lữ hành đầu tiên tiếp xúc với LITS nên sau thiết kế đầu tiên, LITS cũng phải điều chỉnh giao diện LaTour. Sau nghiệm thu, PM vẫn còn chỗ chưa thoả mãn do nhà thiết kế và đơn vị ứng dụng chưa hiểu ý nhau. Ví dụ: lúc đầu, LaTour chưa có phần tính giá tour. Sau đó, LITS đã cập nhật thêm phần tính giá tour và tính năng tổng hợp lợi nhuận. Trước đây, mỗi lần công ty cần cập nhật phân quyền sử dụng là lại phải nhờ đến chuyên gia của LITS. Nhưng mới đây, LITS đã chuyển giao cách thức phân quyền sử dụng nên giờ Asian Travel có thể tự làm”, bà Nga cho biết.


     


    QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VỚI HMS

    HMS - Hotel Management System là PM quản lý khách sạn do Lạc Việt phát triển,với mục tiêu hỗ trợ tối đa các nhà quản lý khách sạn.

    Theo nhà cung cấp, để có thể trụ vững trong môi trường cạnh tranh rất đa dạng giữa các khách sạn hiện nay, các ban quản lý khách sạn phải trả lời hàng loạt câu hỏi lớn như: làm thế nào để có chi phí vận hành thấp nhất? làm sao để khai thác tối đa năng lực của nguồn nhân sự sẵn có? làm thế nào kiểm soát được tình hình quản lý của các bộ phận? làm sao phát hiện và khai thác tiềm năng của KH?...

    HMS sẽ giúp các nhà quản lý khách sạn trả lời các câu hỏi đó. HMS được xây dựng trên nền tảng tìm hiểu và phân tích hệ thống nghiệp vụ theo luật định kết hợp tham khảo các PM nước ngoài. Giải pháp quản lý đưa ra là tối ưu nhất, đơn giản hóa cách quản lý nhưng bảo đảm không bỏ sót bất cứ một quy trình nào, dù nhỏ. PM rà soát và hạn chế đến mức thấp nhất các phát sinh ngoài ý muốn thường gặp trong bài toán quản lý của hầu hết các sản phẩm PM. Nó cũng đồng thời khai thác triệt để chiều sâu của mỗi quy trình nhằm hỗ trợ tối đa trong mỗi phân hệ với mục đích giảm thiểu thời gian và chi phí đầu tư.

    Đặc điểm nổi bật của HMS là tính tự động, linh hoạt. Ví dụ, PM tự động tổng hợp hóa đơn khi có sự kiện đăng ký vào (check in), tự động tính giảm giá, ưu đãi trên cơ sở kiểm soát và cho phép thay đổi, tự động cấp phát và tích lũy tài khoản chiết khấu, tự động kiểm tra mức tiền đặt cọc hợp lý, tự động đi theo lịch trình giá... Hệ thống kết xuất báo cáo cho từng phân hệ ở mức không những đáp ứng đầy đủ mà còn đưa ra những dự báo, thống kê có tác động tích cực đến chiến lược khai thác tiềm năng của khách sạn.

    HMS chia thành nhiều mô-đun xây dựng theo định hướng mở, thích hợp cho tất cả các quy mô khách sạn. Các phân hệ của HMS gồm: phân hệ lễ tân; KD; nhà buồng; dịch vụ. Tại mỗi phân hệ “men theo” quy trình quản lý khách sạn, hệ thống này phân tích doanh thu chính xác và chi tiết, tin cậy. PM hỗ trợ KD hiệu quả, giúp nâng cao mối quan hệ thân thiết với KH, tạo sự hoạt động tích cực và kỹ năng xử lý nhanh cho nhân viên, dễ dàng tích hợp với các PM back office như quản lý tài chính, nhân sự, tiền lương. Theo nhà cung cấp, đây là hệ PM có chi phí sở hữu thấp.


    TP. HUẾ
    THÔNG BÁO KHÁCH LƯU TRÚ QUA MẠNG

    Là 1 trong 3 vùng DL trọng điểm quốc gia được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển DL Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, với lợi thế về tiềm năng, thời gian qua, DL Thừa Thiên - Huế đã có những bước phát triển nhanh với sự đầu tư lớn, trong đó đặc biệt cho cơ sở hạ tầng lưu trú. Số lượng khách nước ngoài, Việt kiều và nội địa đến Huế ngày càng tăng.

    Từ sự bất tiện trong đăng ký lưu trú

    Trước đây công tác đăng ký, quản lý người nước ngoài và khách trong nước đến địa bàn tạm trú chủ yếu được thực hiện thủ công. Thời gian khoảng từ 20 - 23 giờ hàng ngày, các cơ sở KD lưu trú cử người đem theo sổ sách, giấy tờ tùy thân của khách đến trụ sở Công An TP.Huế (CATP) làm thủ tục đăng ký tạm trú.

    Đăng ký theo phương pháp này rất bất tiện. Việc đăng ký chỉ thực hiện từ 20 – 23 giờ hàng đêm nên số khách vào sau 23 giờ sẽ không được đăng ký kịp thời, cùng lúc có quá nhiều cơ sở đến đăng ký nên phải chờ đợi, một số cơ sở xa trung tâm thành phố đi lại đăng ký không thuận lợi (nhất là mùa mưa bão). Bên cạnh đó, vấn đề giữ giấy tờ tùy thân của du khách cũng tạo tâm lý không thoải mái cho khách...

    Du khách hài lòng, DN tiết kiệm chi phí

    Từ những khó khăn trong đăng ký khách lưu trú, CATP Huế phối hợp với trung tâm CNTT tỉnh Thừa Thiên - Huế (HueCIT) đã xây dựng hệ thống “Thông báo khách lưu trú qua mạng” và triển khai, đưa vào sử dụng cho các cơ sở KD lưu trú trên địa bàn từ ngày 1/2/2008. Hệ thống này cung cấp dịch vụ công trực tuyến thông báo lưu trú trên Internet cho các cơ sở KD lưu trú, thay thế phương thức đăng ký lưu trú cũ, tạo sự thuận tiện tối đa cho cơ sở.

    Các cơ sở không phải hàng đêm đem hộ chiếu, giấy tờ của khách đến trụ sở CA để đăng ký mà chỉ cần qua Internet từ khách sạn của mình thông báo danh sách khách lưu trú cho cơ quan công an. Việc thông báo cập nhật và gửi dữ liệu được thực hiện 24/24giờ. Hệ thống còn hỗ trợ các cơ sở khai thác CSDL (số lượng, thành phần, quốc tịch… của du khách) để quản lý cơ sở. Chức năng này rất thuận tiện cho các cơ sở chưa có PM quản lý khách tại đơn vị. Hệ thống còn là đầu mối kết nối hoạt động cung cấp thông tin 2 chiều giữa CA Huế với các cơ sở KD, hướng tới phục vụ triển khai hoạt động dịch vụ công trên Internet. Hệ thống hỗ trợ hiệu quả, giúp CA Huế thực hiện chức năng quản lý, thống kê, lập báo cáo quản lý lưu trú chính xác, nhanh chóng.

    Qua hơn 3 tháng hoạt động, hiện đã có 100 cơ sở khách sạn, nhà khách tham gia hệ thống, với số lượng khách đăng ký hàng đêm trên mạng chiếm trên 96% (đối với khách nước ngoài, Việt kiều) và 65% (đối với khách trong nước). Ứng dụng hệ thống này, DN tiết kiệm được chi phí (không phải mua mẫu khai đăng ký, đi lại, nhân công), thời gian...

    Đầu tư đồng bộ để khai thác tối đa hệ thống

    Thượng tá Đặng Quang, trưởng CATP Huế nói: “Ngoài các cơ sở khách sạn, nhà khách quy mô lớn, đông khách tham gia thông báo khách lưu trú qua mạng Internet, hiện vẫn còn một số khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ chưa hiểu hết ý nghĩa, tác dụng, tiện ích mà PM đem lại nên vẫn chưa mạnh dạn tham gia thông báo khách lưu trú qua mạng Internet. Do vậy, đề nghị các cơ sở cần tìm hiểu, nghiên cứu ý nghĩa và những tiện ích mà PM đem lại để chủ động liên hệ với CA Huế tham gia thông báo khách lưu trú qua mạng”.

    Ông Quang cũng cho biết, bằng hệ thống này, không chỉ các nhà khách, khách sạn mà mọi người dân đều có thể thông báo lưu trú qua Internet. Tuy nhiên, hiện, CA TP Huế mới xây dựng được hệ thống PM: “Thông báo khách lưu trú qua mạng” chứ chưa có kinh phí để trang bị cơ sở hạ tầng phần cứng tại CATP Huế (hệ thống server và các máy quản trị) và máy tính nối mạng tại CA các phường, xã. Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình vận hành của hệ thống”.


    “DU LỊCH THEO MÙA” VỚI SAIGONTOURIST

    Theo các chuyên gia CNTT công tác trong ngành DL, Saigontourist là đơn vị ứng dụng CNTT hàng đầu ở Việt Nam. Tại công ty Dịch Vụ Lữ Hành Saigontourist, một đơn vị của Saigontourist, điều đó được thể hiện rất rõ.

    Bốn mùa DL...

    Ông Ngô Kiên Cường, webmaster (người quản lý điều hành website) của công ty Dịch Vụ Lữ Hành Saigontourist (DVLH Saigontourist) nói: “Ngày 22/5/2008, trang web DL Hè của chúng tôi bắt đầu “chạy”. Có một số nét mới trên www.dulichhe.com này, đó là, dịch vụ thanh toán trực tuyến. Chúng tôi đã có 2 năm hỗ trợ du khách qua web và KH đã quen với các dịch vụ trực tuyến, có nhu cầu “book” thẳng vào dịch vụ (Việt kiều và những người ở xa, những người mua các dịch vụ đơn giản như: đặt phòng khách sạn, mua vé máy bay...)”.

    Theo ông Cường, nếu trước đây, web chỉ phục vụ khách lẻ thì nay web phục vụ thêm khách đoàn. Họ cũng đặt tour trên web. Web có đủ thông tin để các đoàn tham khảo, có dịch vụ tư vấn... Ông cho biết thêm, phiên bản DL Hè 2007 chỉ đáp ứng du khách khởi hành từ TP.HCM, còn với DL Hè 2008, KH có thể khởi hành từ Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM. Sắp tới, du khách có thể khởi hành từ ĐBSCL (nhiều khả năng Cần Thơ).

    Vì sao chỉ là DL hè? Ông Cường cho rằng: Website của các công ty khác cũng hỗ trợ DL đến mức có thể, nhưng ở công ty DVLH Saigontourist, chúng tôi cho web vận hành chính xác theo thời điểm DL. Và như vậy, chúng tôi có đến 4 phiên bản tuần tự nhau xuất hiện: DL Hè; DL Thu Đông; DL Tết và DL Khuyến Mãi. Mỗi phiên bản có một sắc thái riêng. DL Hè khuếch trương những bãi biển đẹp phù hợp nhất với DL hè. DL Tết rực rỡ màu đào, mai, bánh chưng, câu đối... Các thiết kế giao diện “mùa nào, thức nấy” nhấn mạnh trọng tâm của cả một mùa DL.

    Sau Tết đến hè là một khoảng lặng của DL. Chính vì thế, công ty DVLH Saigontourist triển khai mùa DL khuyến mãi. Dù là mùa nào, web của công ty vẫn chứa các nội dung thông tin và dịch vụ cơ bản như: thông tin tour, khách sạn, tuyến điểm và công cụ cho KH đặt tour. Sản phẩm DL đặc thù ở chỗ KH luôn cần tư vấn. Ví dụ, sắp xếp bố trí phòng nghỉ thế nào cho hợp lý và rẻ nhất. Chức năng đặt phòng phải cung cấp đầy đủ thông tin, đưa ra gợi ý hoặc có nhân viên tư vấn chính xác: ở đâu và nơi đó như thế nào?... cho KH đặt phòng kinh tế nhất.

    Một số du khách ăn chay, thích ở một mình cũng cần được tư vấn. Khi khách đã quen sử dụng web thì họ có thể tự chọn dịch vụ kèm thông tin chi phí để thanh toán. Với những KH chỉ tìm kiếm thông tin, công ty DVLH Saigontourist cũng đáp ứng tối đa trong mảng tư vấn qua web (thông tin về làm visa đi Mỹ, quy định về bảo lãnh hoặc đơn giản hơn là các thông tin cho người lần đầu tiên đi máy bay, số lượng tối đa ngoại tệ được mang theo người ra nước ngoài không cần khai báo, người già, phụ nữ mang thai có đi máy bay được không...). Ông Cường cho biết, rất có thể người dùng sẽ mua dịch vụ sau đó. Từ khi triển khai web DL theo mùa, số lượt truy cập tăng rất đáng kể.

    Ngoài 4 web theo mùa dành cho khối KH nội địa, công ty còn có web cho thị trường quốc tế với các thứ tiếng: Anh, Đức, Nga, Tây Ban Nha, Nhật để khách từ nước ngoài có thể chọn tour, bấm nút và nhận thông tin. Phía công ty khi nhận được thông tin của khách sẽ giao bộ phận phụ trách liên hệ lại với khách để thực hiện tour. Khách đi theo đoàn, có thể được phục vụ từ trong nước hoặc từ nước sở tại bởi đối tác của công ty DVLH Saigontourist. Đối tác đưa đoàn đến Việt Nam, công ty sẽ đưa họ đi tiếp. Với khách lẻ họ phải có mặt ở Việt Nam.

    Quản lý nội bộ

    Ông Cường khẳng định: “Web định hướng KH còn các PM quản lý phục vụ công ty. Thực tế, ứng dụng ở công ty DVLH Saigontourist cho thấy, cả 2 hướng triển khai ứng dụng CNTT quan trọng như nhau và mang lại hiệu quả như nhau. Ứng dụng CNTT vào công ty đã mang lại những hiệu quả lớn. Việc công ty chúng tôi tiếp tục đầu tư sâu rộng vào CNTT đã một phần chứng tỏ điều đó”.

      “Ngành DL Việt Nam không có được nguồn dữ liệu tích hợp sẵn sàng cho việc bán tour trên mạng. Bán phòng khách sạn ở Việt Nam bây giờ còn khó do rào cản về chính sách giữa DN và DN và phương thức thanh toán”, ông Ngô Kiên Cường.

    Trong các giải pháp nội bộ của công ty DVLH Saigontourist có hệ thống quản lý tour (tích hợp hệ thống kế toán luôn), hệ thống bán vé tự động; quản lý thông tin nội bộ. Khi công ty ngày càng có nhiều đối tác, KH, nhân viên bán hàng sẽ phải quản lý rất nhiều thông tin. Được cấp quyền, họ có thể sử dụng hệ thống quản lý thông tin nội bộ để nắm vững các dịch vụ, thậm chí tra cứu các tin tức trong ngành để làm việc tốt hơn.

    Hệ thống quản lý tour của công ty DVLH Saigontourist ghi nhận thông tin từ việc bán tour của nhân viên bán hàng vào cơ sở dữ liệu (CSDL); lãnh đạo tổng kết tour; kế toán kiểm tra tình hình doanh thu, công nợ; các văn phòng ở xa và văn phòng Saigontourist – Chợ Lớn đều kết nối về trung tâm để dùng chung CSDL.

    Hệ thống bán vé của công ty DVLH Saigontourist được triển khai đầu tiên ở văn phòng Saigontourist - Chợ Lớn, cho thị trường nội địa. Khi đó, các nơi còn phải gọi hỏi trung tâm về số lượng vé tồn. Bây giờ, hệ thống cập nhật đầy đủ thông tin về vé (vé tour, vé phòng khách sạn) và kết nối với trung tâm của các hãng hàng không (các hãng hàng không cung cấp giải pháp chạy trên kết nối ADSL, cho phép kiểm tra chuyến bay, đặt chỗ...).

    Tầm nhìn khu vực...

    Theo ông Cường, khó có thể so sánh dịch vụ hỗ trợ du khách của công ty DVLH Saigontourist với các doanh nghiệp (DN) đồng ngành trên thế giới. Chúng ta thua nhiều ở khâu thanh toán trực tuyến. Trên thế giới, hoạt động này đã đi vào cuộc sống từ khá lâu. Trong khi đó, mãi tận đến năm 2007, chúng ta mới bắt đầu quan tâm đến thương mại điện tử.

    Thông tin hỗ trợ trên các web DL Việt Nam có thể so với các nước trên thế giới. Thế giới dùng web 2.0 thì Việt Nam cũng dùng web 2.0. Tuy nhiên, nhiều ứng dụng trực tuyến đã và đang được triển khai ở Việt Nam vẫn chủ yếu dành cho tương lai. Ở nước ngoài, sự hợp tác giữa các DN mạnh hơn nhiều so với Việt Nam.


    “XOÁY” VÀO ĐẶT TOUR TRỰC TUYẾN...

    Công ty cổ phần DL và Thương Mại TST Tourist, TP.HCM là một trong những công ty DL sớm ứng dụng CNTT đặt phòng khách sạn, đặt tour, vé máy bay... trên mạng.

    Nhu cầu

    Ông Vũ Thái Dũng, trưởng phòng CNTT của TST Tourist cho biết, trước đây TST Tourist có thế mạnh ở thị trường khách đường dài đi các nước như: Mỹ, Úc, châu Âu... TST Tourist hiện đẩy mạnh khai thác thêm thị trường gần như các tour đi Thái lan, Trung Quốc, Singapore... Sớm ý thức vai trò quan trọng trong hoạt động KD của CNTT nên ngay từ ngày đầu thành lập, TST đã ứng dụng nó trong hoạt động KD.

    Cuối tháng 5/2008, TST Tourist công bố website mới (www.tsttourist.com) với giao diện đơn giản để khách DL dễ truy cập, tìm kiếm thông tin. TST Tourist “xoáy” mạnh vào đặt tour trực tuyến. Websie có phần hướng dẫn trực quan đến khách DL qua những bài viết giới thiệu chi tiết về các danh thắng, điểm đến. Đặc biệt, website cũng sẽ có hệ thống trả lời trực tuyến.

    Tuy nhiên, tại thời điểm đó, CNTT còn khá mới lạ, rất ít người biết và quan tâm. Việc đặt vé, phòng khách sạn hay tour qua mạng không được phổ biến. Hơn thế, trong nhận thức của người Việt chưa thích cách giao dịch này. Rất nhiều KH không yên tâm và không tin tưởng vào việc mua tour hay đặt vé, phòng qua mạng.

    Cho đến gần đây, CNTT đã được nhiều người biết đến. Phong trào đưa CNTT vào ứng dụng trong các doanh nghiệp được phát động. Tập thể TST Tourist mỗi người một tay đóng góp cùng xây dựng và phát triển công ty theo hướng hiện đại hóa. Từ những ý tưởng phải xây dựng một website để hỗ trợ cho KH, TST Tourist đã liên kết với một công ty chuyên về PM để viết và cài đặt hệ thống. TST Tourist phải mất một thời gian dài để cài đặt hệ thống, đưa CNTT vào ứng dụng.

    Trong quá trình sử dụng, TST Tourist đã từng bước chỉnh sửa và nâng cấp hệ thống hoạt động với hiệu quả cao nhất. TST Tourist đã sử dụng các công cụ của Microsoft để tích hợp thành một hệ thống của riêng mình.

    Hiệu quả ứng dụng

    Ông Dũng nói, từ khi ứng dụng CNTT, số lượng khách tăng vọt, tuần nào cũng đầy ắp tour. Có thể nói, TST Tourist rõ được hiệu quả từ việc ứng dụng CNTT đem lại. Trước mắt số lượng khách tăng gấp nhiều lần so với trước, doanh thu cũng tăng. Việc ứng dụng còn giảm được chi phí và thời gian cho việc, giao dịch, tuyển dụng và đào tạo nhân viên... Trước đây, khi tuyển một nhân viên vào làm việc công ty phải mất ít nhất 2 tháng để đào tạo. Nhờ có CNTT, công ty chỉ mất vài giờ để một nhân viên mới tìm hiểu và làm việc ngay.

    Hoặc khi, nhân viên cũ nghỉ việc cũng không cần bàn giao mà nhân viên mới vẫn có thể làm tốt dựa trên hệ thống có sẵn. Một nhân viên cũng có thể đảm đương nhiều công việc. TST Tourist đang lo tới đây, đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng CNTT sẽ khiến công ty rơi vào tình trạng thiếu nhân viên ở một số bộ phận. Chẳng hạn như bộ phận dẫn tour, số tour tăng kéo theo số khách tăng đồng thời cũng kéo theo sự gia tăng về đội ngũ hướng dẫn viên DL...


    MUA VÉ MÁY BAY CỦA JETSTAR PACIFIC...

    Du khách giờ đây có thể không cần đến đại lý đặt tour, đặt phòng khách sạn và đặt vé máy bay. Họ chỉ cần truy cập trang web có ứng dụng thương mại điện tử của các hãng hàng không hoặc công ty DL để lựa chọn dịch vụ và thanh toán trực tuyến.

    Pacific Airlines là hãng hàng không đầu tiên ở Việt Nam bán vé điện tử thông qua trang web www.pacificairlines.com.vn. Từ ngày 23/5/2008, Pacific Airlines chính thức đổi tên thương hiệu thành Jetstar Pacific trực thuộc tập đoàn Jetstar, triển khai bán vé điện tử thông qua website chung của tập đoàn tại www.jetstar.com. Hệ thống bán vé điện tử này sử dụng dịch vụ OpenSkies, do hãng Navitaire Mỹ cung cấp. Navitaire là nhà cung cấp các hệ thống thương mại điện tử cho các hãng hàng không giá rẻ uy tín trên thế giới: đặt và chọn chỗ, xuất vé điện tử, đăng ký khách sạn, mua tour DL, bảo hiểm... hoàn toàn trên mạng Internet.

    Để kết nối hệ thống TMĐT, Jetstar Pacific sử dụng giải pháp kết nối mạng MegaWan, hệ thống dự phòng IPSec VPN trên nền Internet. Thiết bị được sử dụng chính cho mô hình này là giải pháp tường lửa SSG (Secure Service Gateway) kèm chức năng bộ định tuyến của Juniper Networks, đảm bảo tính sẵn sàng và chạy ổn định 24/24 giờ. Kênh bán toàn cầu này được thiết kế đơn giản hóa một cách tối đa để KH có thể sử dụng dễ dàng, thuận tiện với nhiều loại ngôn ngữ khác nhau. Để bảo vệ KH, các giao dịch được hệ thống máy chủ bảo mật của Jetstar Pacific mã hóa bằng giao thức tầng kết nối bảo mật (SSL), chỉ những người nhận dự kiến trước mới có thể giải mã thông điệp nhận được. Việc này sẽ bảo đảm tính bảo mật của dữ liệu trao đổi qua lại với các thành viên..

    Hiện có khoảng 90% các hãng hàng không giá rẻ uy tín trên thế giới đang sử dụng hệ thống do Navitaire cung cấp với các phiên bản khác nhau tùy theo quy mô và yêu cầu của mỗi doanh nghiệp. Open Skies được Jetstar triển khai từ năm 2004, đã phục vụ cho 24 triệu lượt hành khách ở khắp nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, hệ thống này quản lý trên 150 chuyến bay nội địa/tuần và 1.500 chuyến bay/tuần trên các đường bay quốc tế với khoảng 39.600 khách/ngày.

    Bằng việc sử dụng kênh bán vé của mình qua website nối mạng toàn cầu theo dạng của Google, hành khách có thể đăng ký và thanh toán trực tiếp tiền vé máy bay của Jetstar Pacific bằng một trong các loại thẻ VisaCard, MasterCard, JCB và American Express. Có một số loại giá cho phép hành khách đặt giữ chỗ trên mạng và thanh toán tại các phòng vé, hoặc các điểm giao dịch thanh toán của đối tác thứ 3 như: Teckcombank. Ngoài ra, hành khách cũng có thể mua vé thông qua tổng đài 9550550 hoặc các phòng vé, đại lý của Jetstar Pacific trên toàn quốc.

    Với trang web www.jetstar.com, thay vì phải qua 6 bước như trước, nay KH chỉ cần qua 4 bước cơ bản sau:

    1. Tìm chuyến bay: Thông tin chuyến bay và ngày giờ xuất phát

    2. Chọn chuyến bay: Giá vé hiện có và giá vé tốt nhất

    3. Thông tin hành khách và thanh toán

    4. Xác nhận thông tin: Gửi email cho KH và các thông tin cần thiết cho chuyến bay.

    Hệ thống sẽ tự động gửi xác nhận hành trình đến địa chỉ email mà KH đã đăng ký. Hành khách cần lưu ý, để có thể thanh toán trực tiếp qua mạng, các loại thẻ tín dụng đã nêu trên cần được đăng ký thanh toán online với ngân hàng phát hành.



    DU LỊCH “BỤI” ĐẾN ẤN ĐỘ CHỦ ĐỘNG, LINH HOẠT VÀ TIẾT KIỆM

    Gần tới ngày Phật Đản, chúng tôi tổ chức một cuộc hành hương tới Ấn Độ, Nepal để thăm 4 thánh tích Phật giáo. Chuyến đi không thực hiện nổi nếu không tận dụng sự hỗ trợ “tận tay” của CNTT.

    Bốn nơi chúng tôi muốn đến gồm: vườn Lâm Tỳ Ni nay là Lumbini thuộc Nepal, gần sát biên giới Ấn Độ, nơi Phật Thích Ca đã sinh ra; Bồ Đề Đạo Tràng, nay là Bodhgaya thuộc địa hạt Bihar, tại Ấn Độ, là nơi thái tử Tất Đạt Đa sau 6 năm tu khổ hạnh không thành mới quyết định chuyển theo con đường trung đạo, và giác ngộ, thành Phật; vườn Lộc Uyển, nơi đức Thích Ca lần đầu thuyết pháp vô thượng để độ cho 5 anh em Kiều Trần Như, nay là Sarnath, gần Varanasi, thuộc bang Uttar Pradesh (UP); và cuối cùng là Câu Thi Na, nay là Kushinagar, cũng thuộc bang UP, nơi đức Thích Ca nhập niết bàn.

    Vé bay giá rẻ - Mua qua mạng

    Tác giả bài viết trước ngôi đền Taj Mahal, Ấn Độ - kỳ quan thế giới

    Biến mong muốn thành hiện thực không dễ: thứ nhất, chẳng có ai tổ chức tour DL hành hương Ấn Độ; thứ hai, không có đường bay thẳng từ Việt Nam đến đó; thứ ba, sau khi hỏi trực tiếp mấy công ty DL tại Ấn Độ thì thấy họ bán tour rất đắt. Chúng tôi dự định đi trong vòng 21 ngày, họ đòi 2.500 USD/người, chưa kể tiền vé máy bay và tiền ăn hàng ngày. Tôi quyết định đi “bụi”.

    Việc đầu tiên là tìm hiểu thông tin về các nơi mình sẽ đến. Sau vài ngày tìm kiếm, tôi phát hiện ra, nguồn tốt nhất để bắt đầu là wiki và wikitravel. Tại đây, ngoài những thông tin về địa lý, chính trị, các điểm tham quan, DL tại các quốc gia và địa phương mà tôi dự định đi qua, tôi còn có được những thông tin quan trọng cho việc lập tuyến, đó là danh sách các hãng bay, các tuyến tàu tới các địa điểm cần đến.

    Sau khi liệt kê các phương án khác nhau, vẽ tuyến đường bay trên Google Earth, tôi lọc lại còn hai tuyến chính, đó là: Việt Nam – Singapore - Ấn Độ và Việt Nam - Thái Lan - Ấn Độ. Sau khi vào các website của các hãng hàng không, kể cả các hãng hàng không nội địa của Ấn Độ, tôi nhanh chóng lựa chọn được hãng bay và đường bay cho mình với giá rẻ nhất. Kết quả: bay từ Hà Nội qua Bangkok bằng Nokair, từ Bangkok qua Kolkata bằng Air India Express. Vé máy bay hai chiều một người chỉ là 450 USD (thay vì 900 USD nếu mua vé giấy). Từ Kolkata Ấn Độ tới Kathmandu Nepal tôi lựa vé của Indian Air.

    Lướt website xong, tôi nhanh chóng quyết định và thực hiện thanh toán bằng thẻ Visa Debit, mua thành công 2 chuyến tới Bangkok và Kolkata. Mỗi lần thực hiện thanh toán, tôi nhận được ngay tin nhắn từ ngân hàng ACB báo tài khoản thẻ của tôi thay đổi, đồng thời nhận được xác nhận và đề nghị in vé trên website của hãng hàng không. Nhưng tới đoạn Kolkata - Kathmandu thì có sự cố. Sau khi tôi nhấn nút thanh toán, nhập các thông tin cần thiết, đợi một lúc thì website thông báo: “không thành công”. Đang lưỡng lự, có nên làm lại một lần nữa từ đầu không, thì lại một tin nhắn từ ACB: “số dư tạm tính tài khoản thẻ ... của bạn là ...”. Tôi đã bị trừ tiền. Thế là mất hơn năm triệu đồng.

    Mua vé tàu, đặt phòng khách sạn... qua mạng

    Tôi biết, người dùng thẻ bao giờ cũng được đảm bảo an toàn nên không lo lắm, chỉ nghĩ cách làm sao lấy lại tiền sớm, để dùng vào việc khác, không phải mất công chạy tới ngân hàng nộp thêm tiền vào thẻ. Sau vài phút tìm kiếm trên website của Indian Air, tôi tìm được địa chỉ email của bộ phận phục vụ KH và gửi ngay cho họ một thư ngắn kèm theo mã số giao dịch thẻ mà ACB cung cấp (tôi cũng lấy từ website của ACB). Tới ngày hôm sau, Indian gửi mail trả lời, xác nhận là họ đã tìm thấy giao dịch không hoàn thành như tôi nói và đã tiến hành hoàn trả tiền vào tài khoản của tôi. Ba ngày sau tiền trở lại tài khoản.

    Vì giao dịch không thành, tôi cũng không mạo hiểm mua lần nữa của Indian Air, nên quyết định đổi hành trình, thay vì bay qua Nepal, tôi đi tàu tới 1 trong 4 điểm định tới, rồi đi đường bộ qua Nepal. Thật may mắn là vé tàu ở Ấn Độ cũng có thể mua qua mạng. Sau vài ngày nghiên cứu tuyến đường , giá vé, số tàu, tôi quyết định mua vé tàu thẳng từ Kolkata tới Bodhgaya. Thủ tục mua vé cũng trả bằng thẻ, mọi giao dịch diễn ra thuận lợi. Website của đường sắt Ấn Độ được thiết kế rất chuyên nghiệp, một portal (khu nhà ga) lớn phục vụ hàng triệu hành khách, quản lý hàng nghìn đoàn tàu mà chạy hoàn hảo như vậy, thật đáng khâm phục. Vậy là tôi đã hoàn thành việc mua vé tàu.

    Tiếp theo là khách sạn. Chúng tôi phải quá cảnh ở Bangkok một ngày đêm, cũng qua mạng, tôi nhanh chóng tìm được một khách sạn gần sân bay quốc tế và thực hiện việc đặt phòng, trả trước cho họ 7 USD bằng thẻ. Vậy là xong! Nhờ Internet và các dịch vụ online của các hãng hàng không, khách sạn mà tôi có thể tự mình xây dựng một lịch trình phù hợp nhất cho tôi, với chi phí rất thấp. Sự cố có, nhưng đã nhanh chóng được xử lý.

    Khi chúng tôi chuẩn bị vào Nepal, thăm vườn Lâm Tỳ Ni xong mới đi ngược lên Kathmandu, thì nhờ chiếc điện thoại Black Berry 8800 mà tôi mang theo, với SIM của Airtel, phủ sóng GPRS và EDGE trên toàn Ấn Độ, tôi luôn vào được Internet, biết được tin tức về tình hình đang căng thẳng ở Nepal để có quyết định... quay trở lại, không đi sâu vào Nepal. Quay trở lại cũng có nghĩa là tôi về sớm hơn dự định một tuần và phải đổi hành trình.

    MỘT SỐ ĐỊA CHỈ ĐÃ SỬ DỤNG TRONG CHUYẾN ĐI

    1. http://www.pacificairlines.com.vn - Hãng Pacific Airlines nay đổi thành Pacific Jetstar, bay chuyến TP.HCM - Hà Nội
    2. http://www.nokair.com - Hãng Nokair, bay chuyến Hà Nội - Bangkok
    3. http://www.airindiaexpress.in - Hãng Air India Express , bay chuyến Bangkok - Kolkata
    4. http://www.indianrail.gov.in/ - Portal chính của Indian Rail, để tìm đường đi và mã số tàu
    5. http://www.irctc.co.in/ - Portal để mua vé online cho các chuyến tàu Ấn Độ
    6. http://www.airtel.in/ - Hãng di động, cung cấp dịch vụ di động và Internet, GPRS
    7. http://www.duongsinh.net - Nơi lưu trữ các bài viết, âm thanh, hình


    Cảm nhận, chia sẻ cũng trên mạng!

    Nhờ Internet, chỉ trong một buổi sáng, tôi đã hoàn tất các giao dịch chuyển hành trình. Tôi đã đi và về an toàn. Thực tế, chuyến đi tốt hơn so với dự tính của tôi. Chất lượng dịch vụ của các hãng hàng không giá rẻ không thua, thậm chí còn hơn hẳn dịch vụ của một số hãng hàng không khác. Máy bay mới, sạch sẽ, tiếp viên lịch sự, phục vụ trên máy bay tốt, ăn uống đầy đủ. Tàu của Ấn độ sạch, mát, phục vụ tận tình.

    Một điểm rất quan trọng nữa đó là, nhờ duy trì được kết nối Internet thường xuyên qua GPRS (chỉ mất tương đương 75.000 đ, trong khi gói rẻ nhất ở Việt Nam do Viettel cung cấp đã là 200.000 đ) mà tôi có thể liên tục gửi bài viết, file âm thanh, các bài phóng sự về chuyến đi cho bạn bè của mình đang thường xuyên theo dõi tại duongsinh.net.

    Internet đang làm cả thế giới thay đổi trong đó có cả hoạt động DL. Tôi dự tính, những chuyến đi sau này, chúng tôi có thể thực hiện các phóng sự truyền hình trực tuyến để đem về cho bạn bè ở Việt Nam cùng xem. Những điều như thế đã không còn là lý thuyết, hay ước mơ...

    Thủy Thiên (vethoi@gmail.com)


    ID: B0806_36