• Thứ Hai, 18/01/2010 11:15 (GMT+7)

    Dịch vụ CNTT - Hướng đi của Việt Nam

    Lời BBT: TS Nguyễn Trọng, nguyên Chánh văn phòng Ban Chỉ Đạo quốc gia về CNTT cho rằng, dịch vụ (DV) CNTT là thế mạnh của Việt Nam và chúng ta cần xác định rõ đây là hướng đi phù hợp để trở thành quốc gia mạnh về CNTT (QGMvCNTT).

    Hiểu đúng mới có hướng đi đúng

    Việt Nam có thể trở thành cường quốc CNTT trong khoảng 10 - 15 thậm chí 20 năm tới đây không? Câu trả lời chắc sẽ là “không thể”. Tuy nhiên, nếu đổi câu hỏi nêu trên thành: “Việt Nam có thể trở thành QGMvCNTT trong 10 – 15 năm tới đây không?” thì ai cũng muốn ngẫm nghĩ, tìm một trả lời thỏa đáng. Vậy thì QGMvCNTT là thế nào?

    Bộ TTTT đã dự thảo đề án “Tăng tốc sớm đưa Việt Nam thành QGMvCNTT”, lấy ý kiến đóng góp để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nhiều chuyên gia cho rằng dự thảo đề án chưa có câu trả lời thuyết phục cho câu hỏi vừa nêu.

    Chúng ta có thể chấp nhận định nghĩa: “Với trong nước là quốc gia ứng dụng CNTT một cách hiệu quả; với ngoài nước là quốc gia có chỗ đứng trên thị trường CNTT quốc tế” khi nói Việt Nam là QGMvCNTT. Có 2 khu vực cần phải mạnh. Một là ứng dụng CNTT (UDCNTT) và hai là CNpCNTT.

    Việt Nam mạnh về UDCNTT khi: (1) CNTT góp phần quan trọng vào nâng cao năng lực cạnh tranh toàn diện của các DN; (2) CNTT góp phần quan trọng vào nâng cao hiệu quả và sự trong sạch của nền hành chính công; (3) CNTT góp phần quan trọng nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Mỗi vấn đề cần 1 khảo cứu nghiêm túc, xin bàn dịp khác. Chúng ta sẽ tập trung bàn về một Việt Nam mạnh về CNpCNTT mà các văn kiện trước đây thường gọi là “Phát triển CNTT”.

    Ta sẽ tập trung phân tích về CNpCNTT chứ không về CNpTT, vì CNpCNTT là nền tảng để tìm ra mô hình QGMvCNTT, thích hợp cho Việt Nam. Theo Gartner (số liệu tổng quát về CNpCNTT-TT thế giới - 7/2009), tỷ trọng CNpDV rất lớn (trên 57%) và CNpPM khá nhỏ (cỡ 16%). Ta phải hiểu đúng khái niệm CNpDV CNTT, CNpPM CNTT, và Công nghiệp thiết bị (CNpTB) CNTT để không nhầm lẫn. Cái gì có trong CNpDV CNTT? Cái gì trong CNpPM CNTT? DV CNTT nên được hiểu như thế nào? Trong nhiều báo cáo quốc tế, DV CNTT bao gồm 4 nhóm hoạt động chính sau:

    1. Outsourcing và Operational Services: Làm thuê tạo sản phẩm CNTT theo yêu cầu, trong đó phần quan trọng nhất là tạo ra các hệ thống CNTT (HT CNTT) hoặc từng phần của HT theo yêu cầu; vận hành các HT CNTT-TT. Hoạt động này chiếm khoảng 27%

    Ông Nguyễn Trọng, Nguyên Chánh văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT.

    2. Maintenance Services: Bảo trì các HT CNTT-TT; chiếm khoảng 18%

    3. Implementation và Integration Services: Thiết lập và tích hợp các HT CNTT-TT; chiếm khoảng 33%

    4. Consulting và Planning Services: Tư vấn và hoạch định các HT CNTT-TT; chiếm khoảng 22%

    Một số khác có thêm nhóm 5 với các thống kê, khảo sát riêng hoặc được hiểu là đã ẩn chứa trong 4 nhóm theo cách chia DV CNTT như trên. Đó là: “Network và Internet Services”. Một số khác còn có thêm nhóm 6 nhưng với các thống kê, khảo sát riêng, không ghép chung với các nhóm DV CNTT (IT Services), đó là “Telecom Services - DV VT”. Khi tổng hợp 4 hoặc 5 nhóm trên với nhóm 6 thì gọi là ICT Services - DV CNTT-TT. Bảng thống kê trên là theo cách hiểu DV CNTT gồm 4 nhóm, đã hàm chứa nhóm 5. Trong tình hình cụ thể của Việt Nam, chúng ta thường thêm vào 2 nhóm hoạt động thuộc phạm vi DV CNTT là:

    5. Huấn luyện và Đào tạo về CNTT-TT

    6. Xuất bản (về CNTT-TT) và tạo lập các CSDL số (phần Công nghiệp số được xem là DV CNTT)

    Với quan niệm này, điều đáng lưu ý là khái niệm DV CNTT không bao gồm các dịch vụ thứ cấp của những HT CNTT-TT, tức những dịch vụ mà chủ quản các HT CNTT-TT sử dụng chúng như một công cụ, một môi trường để bán hàng cho khách hàng. Đây là một quan điểm chính xác, nhất quán với các định nghĩa quốc tế về DV CNTT. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho những chính sách ưu đãi cần thiết của Nhà nước đối với ngành PM và DV CNTT như một tổng thể mà Nghị quyết 07/2000/NQ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 5/6/2000 về xây dựng và phát triển CNpPM giai đoạn 2000 – 2005 đã xác định. Cách hiểu không đúng về CNpDV CNTT có thể dẫn đến 2 thái cực: hoặc là loại ngành này khỏi khu vực các ngành DV công nghệ cao và không được hưởng những chính sách ưu đãi, hoặc ưu đãi cả những DV không đáng được ưu đãi, chẳng hạn các DV nhắn tin, các trò chơi trực tuyến. Chúng ta chưa có những thống kê về DV CNTT theo đúng định nghĩa 4 nhóm (hoặc 6 nhóm theo cách hiểu của Việt Nam) như vừa nêu. Tuy nhiên, có thể ước tính tổng doanh số ngành DV CNTT (6 nhóm theo Việt Nam) năm 2008 là khoảng 450 - 500 triệu đô la Mỹ.

    “Hiểu không đúng có thể loại ngành CNpDV CNTT khỏi khu vực các ngành DV công nghệ cao được hưởng những chính sách ưu đãi, hoặc ưu đãi cả những DV không đáng ưu đãi”.

    Về CNpPM CNTT thì các thống kê quốc tế hiểu CNpPM CNTT là ngành công nghiệp sản xuất ra các PM đóng gói, quy mô công nghiệp (hàng loạt). Với cách hiểu này thì CNpPM CNTT của ta chưa có gì đáng kể, dù rằng chúng ta có một vùng rộng lớn cần phát triển là các PM liên quan đến ngôn ngữ Việt với 54 dân tộc anh em trong suốt chiều dài lịch sử.

    Mô hình có thể lựa chọn

    Trong 10 - 15 năm tới, chúng ta khó có thể trở thành QGMvCNpCNTT toàn diện (ở cả 3 lĩnh vực CNpTB CNTT, CNpPM CNTT và CNpDV CNTT) như Mỹ, Nhật, vài nước Tây Âu và Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam có thể nỗ lực phấn đấu để trở thành QGM về CNpDV CNTT. Đây là thị trường CNTT lớn nhất, có chỗ cho nhiều quốc gia có nhân lực và trí tuệ, được đào tạo ở trình độ cao.

    Thật ra, ngoài Mỹ thì những QGMvCNTT CNpPM CNTT có sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường quốc tế hầu như rất ít. Dù rằng một số quốc gia có CNpPM với thị phần trên 1% thị trường quốc tế nhưng đó thường cũng chủ yếu là thị trường trong nước và khu vực. Ngay cả đất nước rất thành công về CNpDV CNTT với dân số hàng tỷ người như Ấn Độ cũng chưa phải QGMvCNpPM CNTT. Như vậy, phấn đấu để Việt Nam mạnh trong lĩnh vực CNpDV CNTT là có tính khả thi.

    Doanh số CNpDV CNTT thế giới qua các năm như sau (đô la Mỹ): 2005: 632 tỷ; 2006: 672,4 tỷ; 2007: 741,4 tỷ. Năm 2008 là 806 tỷ và 2009 sụt giảm một chút còn 770 tỷ. Tốc độ tăng trưởng trung bình là 5,25%. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5% thì CNpDV CNTT quốc tế năm 2020 đạt cỡ 1.350 tỷ đô la Mỹ. QGMvCNpDV CNTT phải chiếm được thị phần khoảng 0,5% tức cỡ 6,5 - 7 tỷ đô la Mỹ. Việt Nam muốn từ 0,4 tỷ đô la Mỹ hiện nay tiến lên 6,5 - 7 tỷ đô la Mỹ trong 10 năm tới thì tăng trưởng hàng năm phải đạt 33% – 35%, không nhỏ nhưng không quá cao.

    Hiện đã có vài chục QGMvCNpDV CNTT và họ đã chiếm lĩnh khoảng 70 – 75% thị phần DV CNTT toàn cầu. Và cũng có vài chục QG đang cố gắng vươn lên trong ngành này là Philippines, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, New Zealand, Pakistan, Srilanca, Chile, Costarica, Nam Phi, Ucraine, Ba Lan, Séc, Slovakia, Romania, và rất nhiều quốc gia khác. Đó là chưa kể những quốc gia tuy không chiếm thị phần CNpDV CNTT tới 0,5% nhưng có một vị thế rất ổn định như Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan… Dự báo, năm 2020 có khoảng 40 – 50 QGMvCNpDV CNTT với thị phần từ khoảng 0,5% tức khoảng 7 tỷ đô la Mỹ trở lên. Tin rằng trong đó có Việt Nam.

    ID: B1001_16