• Thứ Hai, 18/01/2010 11:15 (GMT+7)

    Nội dung số và phần mềm nguồn mở

    CNTT Việt Nam nên chú trọng phát triển 2 lĩnh vực - Nội dung số (NDS) và Phần mềm nguồn mở (PMNM).

    Giải pháp cụ thể cho nội dung số

    Tại Diễn đàn CNTT-TT Quốc tế (WITFOR 2009) hồi tháng 8/2009 tại Hà Nội, có nhiều báo cáo trong và ngoài nước về chuyên đề công nghiệp nội dung số (CNpNDS). Cựu Bộ trưởng Bộ TTTT Hàn Quốc, Cố vấn Học viện Nghiên cứu Điện tử Viễn thông Quốc gia, ông Yang Seung Taik cho rằng, ngoài nhân lực, cần chú trọng phát triển CNpNDS để đưa Việt Nam sớm trở thành QGMvCNTT.

    Ông Frank Donovan, Giám đốc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam cho là CNpNDS là hướng phát triển đầy tiềm năng và Chính phủ Việt Nam đã có chiến lược phát triển ngành này. Về CNpNDS, từ 2006, nước ta đã có khoảng 400 DN, tập trung chủ yếu ở 2 thành phố lớn: Hà Nội có 222 DN và TP.HCM có 117 DN (theo báo cáo của Markcome Research & Consulting, công bố tháng 7/2006 tại hội thảo “WTO – Cơ hội và Thách thức cho CNpCNTT_TT Việt Nam”).

    Tuy nhiên, hiểu thế nào là CNpNDS còn có sự khác nhau. Ở hội thảo tổ chức năm 2006, ông Leo Hwa Chiang, Giám đốc Công ty IPark-Singapore, cho biết: “Mỗi QG có định nghĩa riêng về CNpNDS, tùy thuộc vào thế mạnh của mình. Ở Thái Lan, CNpNDS được liên tưởng đến CNp sản xuất phim hoạt hình; ở Hàn Quốc thì game online, hoặc Singapore là e-Learning”. Lúc đó, Bộ Bưu chính Viễn thông (cũ - Bộ BCVT) của Việt Nam dự kiến xác định CNpNDS gồm 6 nội dung chính: Giáo dục điện tử (e-Learning); Trò chơi điện tử (Game); Phát triển nội dung cho Internet; Phát triển nội dung cho mạng điện thoại di động; Kho dữ liệu số; Phim số và đa phương tiện số.


    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn CNTT-TT quốc tế (WITFOR 2009).

    Xác định nội hàm của ngành CNpNDS là một bước quan trọng trong xây dựng chiến lược QG. Qua đó, trước khi xây dựng chiến lược QG về phát triển nền CNpCNTT (trong đó có CNpNDS) cần phải định nghĩa khái niệm CNpNDS chuẩn. Nội dung thì thuộc mọi lĩnh vực, không riêng giáo dục, trò chơi, phim ảnh… Còn phương tiện lưu trữ, truyền thông thì nhiều loại, phát triển theo sự phát triển của công nghệ từ máy tính, mạng máy tính, Internet, thông tin di động… Dạng dữ liệu hàm chứa nội dung thì có thể là văn bản, âm thanh, hình ảnh và cũng có thể là mùi vị nữa khi máy tính có thể nhận biết được mùi vị!

    DV NDS tại Việt Nam bắt đầu bùng phát từ năm 2003 với các trò chơi trực tuyến và các DV gia tăng trên điện thoại di động. Ngay lúc đó, Bộ BCVT (nay là Bộ TTTT) đã xác định NDS là ngành CNp nhiều tiềm năng. Đến tháng 5/2007, Thủ tướng ban hành Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình phát triển CNpNDS Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu: Phát triển thành một ngành kinh tế trọng điểm, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các sản phẩm NDS. Mục tiêu là đạt tốc độ tăng trưởng trung bình từ 35% - 40%/năm; tổng doanh thu đạt 400 triệu đô la Mỹ/năm…

    Để đạt được mục tiêu nói trên, cần phải có hàng loạt biện pháp về thu hút đầu tư, pháp lý, phương thức thanh toán trực tuyến, bản quyền, nghiên cứu khoa học, xây dựng nguồn nhân lực… Nhân lực CNpNDS chủ yếu phải là chuyên gia các ngành được trang bị tri thức và kỹ năng CNTT cần thiết. Chính họ mới là người tạo ra sản phẩm của CNpNDS có hàm lượng chất xám cao thuộc các lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Để người nông dân biết truy cập Internet qua điện thoại di động không có gì khó. Cái khó là làm sao để họ tìm được thông tin giúp họ phát triển nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm và mở ra những ngành nghề khác. Chính những chuyên gia nông nghiệp cung cấp nội dung này chứ không phải chuyên gia CNTT-TT. Phải đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này!

    Phần mềm nguồn mở: Tiết kiệm vốn


    Hàng nghìn người tham dự khai mạc Witfor 2009.

    Cũng tại WITFOR 2009, ông Nguyễn Trung Quỳnh, Phó Giám đốc Trung tâm CNTT kiêm Giám đốc Ban quản lý Dự án Phần mềm nguồn mở (PMNM) Bộ KHCN đã khái quát những gì Việt Nam đạt được về PMNM: “PMNM ứng dụng trong hệ thống hơn 14.000 máy tính với hơn 1.000 máy chủ tại các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp đến, PMNM đã vào các trường học… PMNM ngày nay đã phát triển mạnh mẽ và dễ sử dụng hơn. Tuy nhiên, chúng cần được bản địa hóa mới có thể triển khai rộng trong thực tế”. Ông Jon Hall, Giám đốc Điều hành Linux International, một trong những chuyên gia hàng đầu về PMNM, chia sẻ: “Tôi muốn ngành CNTT Việt Nam tự hỏi tại sao phải bỏ nhiều ngoại tệ để trả bản quyền cho các công ty nước ngoài, trong khi có thể sử dụng PM miễn phí từ mạng, còn tiền dùng làm việc khác như trả cho các lập trình viên khai thác PMNM theo nhu cầu của mình”. Ông Hall cho rằng những quốc gia đang phát triển nếu thực sự muốn nắm bắt công nghệ để phát triển bền vững nên quan tâm đến PMNM và sử dụng theo cách thích hợp.

    Những năm qua, ở Việt Nam. PMNM đã được quan tâm nhưng kết quả còn khiêm tốn. Đã có 5, 6 hội thảo PMNM cấp quốc gia để bàn cách tháo gỡ vướng mắc. Tháng 12/2008, Bộ trưởng Bộ TTTT đã ra Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT về Đẩy mạnh sử dụng PMNM trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức Nhà nước. Theo đó, chậm nhất đến ngày 31/12/2009, các đơn vị thuộc bộ, ngành, tỉnh phải đảm bảo 70% máy tính được cài đặt các PMNM như: OpenOffice, Mozilla ThunderBird, trình duyệt Mozilla FireFox, bộ gõ tiếng Việt Unikey (không thấy nói đến hệ điều hành)... Riêng các đơn vị chuyên trách về CNTT của các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang bộ thì chậm nhất đến 30/6/2009 phải đảm bảo 100% máy tính được cài đặt các phần mềm trên; 100% cán bộ, nhân viên được tập huấn và được hướng dẫn sử dụng (có ít nhất 50% phải sử dụng thành thạo)... Chúng ta đợi kết quả từ thực hiện chỉ thị này!

    Việc nghiên cứu KHCN phát triển đã đưa Hàn Quốc thành quốc gia đầu tiên phát triển DV ADSL, là nước đầu tiên phát triển mạng di động công nghệ CDMA (1996), mạng 3G vào hàng mạnh nhất thế giới (2006). Từ nay đến năm 2014, Hàn Quốc thực hiện “Chiến lược công nghệ CNTT Hàn Quốc tương lai” với nguồn vốn 189 nghìn tỷ won (151 tỷ đô la Mỹ). (Trích báo cáo ở WITFOR 2009 của ông Yang Seung Taik - Hàn Quốc)

    ID: B1001_27