• Thứ Năm, 29/09/2011 10:57 (GMT+7)

    Khi thể thao Việt Nam thiếu đầu tư chất xám

    Tân Khoa
    Có thể nói, thể thao Việt Nam mà điển hình là bóng đá được như ngày hôm nay cũng là nhờ sự đầu tư tiền bạc của các “ông bầu”. Nhưng sự đầu tư đó dường như còn quá tập trung vào việc thuê cầu thủ, huấn luyện viên, và coi nhẹ những yếu tố nền tảng khác như khoa học công nghệ.

    Những ngày gần đây, những bức xúc của “ông bầu” Nguyễn Đức Kiên đã khiến nghị trường của nền thể thao Việt Nam có phần nóng hơn sân cỏ. Thực tế đó đã dẫn đến việc có nhiều cuộc hội thảo, toạ đàm được tổ chức để tìm ra giải pháp nhằm sửa “lỗi hệ thống”. Có thể nói, thể thao Việt Nam mà điển hình là bóng đá được như ngày hôm nay cũng là nhờ sự đầu tư tiền bạc của các “ông bầu”. Tuy nhiên, Có một vấn đề nữa cũng cần phải đặt ra thêm trước thềm của hội nghị giữa lãnh đạo Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) và các “ông bầu” được tổ chức ngày 29/9/2011. Đó là yếu tố kinh tế và khoa học công nghệ cho nền thể thao nước nhà.

    Một trong những cuộc tọa đàm về hướng đi của bóng đá Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Việt (Báo Đất Việt)

    Nặng về đầu tư tiền bạc
    Đầu năm 2002, đội bóng đá Hoàng Anh – Gia Lai ở xứ núi Pleiku vốn là một đội hạng dưới nhưng bỗng trở nên nổi tiếng do ông bầu Đoàn Nguyên Đức đã bỏ ra những khoản tiền lớn để thuê được danh thủ Kiatisak vốn được mệnh danh là “Zico Thái”. Thực tế này đã khiến Đài Truyền hình Việt Nam phải điều máy móc thiết bị và con người lên xứ núi này để truyền hình trực tiếp dù rằng Hoàng Anh - Gia Lai không phải là đội hạng trên. Dư luận, báo chí khi đó đã phải trầm trồ về sự mạnh tay của bầu Đức và chỉ sau một mùa bóng, Hoàng Anh – Gia Lai đã lên hạng.

    Tuy nhiên, bình luận viên kỳ cựu Trần Tiến Đức lại đưa ra nhận xét rằng đó mới chỉ là đầu tư tiền bạc chứ chưa có chất xám. Và với cách thức đầu tư đó thì không ít các huấn luyện viên giỏi cũng đành “chào thua” dù đồng lương của họ có lẽ cũng không thua kém so với nhiều nước.

    Trên cương vị huấn luyện viên trưởng đội tuyển Việt Nam vào năm 2004, ông thầy Tavares người Brazil đã than phiền rằng ông rất buồn vì với phần lớn các cầu thủ mà ông từng trực tiếp huấn luyện và tiếp xúc, dường như rất ít người chịu đầu tư thời gian để học hành các kiến thức về văn hoá và nghề nghiệp. Ông từng nói nhiều rằng, bản thân họ phải ý thức là đời cầu thủ sẽ nhanh chóng qua đi và khi đó, mỗi người sẽ phải có một cái nghề để kiếm sống và ngay cả muốn làm giáo viên thể dục thôi cũng không dễ vì ít nhất phải thi đỗ vào khoa thể dục thể thao của một trường sư phạm. Vậy nhưng, nỗi trăn trở của ông thầy này dường như cũng chỉ là “nước đổ lá khoai”.

    Tuy nhiên, đó là câu chuyện của các ông bầu và bản thân các cầu thủ, vận động viên. Chắc chắn, chỉ khi các ông bầu vung tiền không biết xót thì giá mua, thuê cầu thủ và huấn luyện viên mới sốt lên đến vậy. Vì thế, ở khía cạnh này, chính các ông bầu cũng góp phần vào những tiêu cực của nền bóng đá nước nhà chứ không thể chỉ trách cứ cơ chế điều hành của VFF.

    Câu chuyện riêng có của thể thao Việt Nam
    Việt Nam từng đăng cai các sự kiện thể thao quốc tế như Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games) vào năm 2003 và Đại hội Thể thao Châu Á trong nhà thi đấu (Asian Indoor Games) năm 2009. Thành công 2 sự kiện này, Việt Nam đang đệ trình hồ sơ xin đăng cai Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD) vào năm 2014. Theo các thông tin về sự kiện này, nhiều khả năng Việt Nam sẽ giành được quyền đăng cai bởi một số quốc gia khác đã lần lượt rút khỏi danh sách đăng ký.

    Với nhiều quốc gia khác, đây là sự kiện thể thao của một thành phố và có thêm một số thành phố khác sẽ tham gia đăng cai riêng cho một số bộ môn. Bởi thế sự kiện mới có tên là SEA Games Chiengmai, ASIAD Bắc Kinh, SEA Games Kuala Lumpur, ASIAD Pusan, chứ không gắn với tên nước. Thế nhưng khi các sự kiện này đến với Việt Nam thì nó lại hoá thành sự kiện quốc gia và được gọi là SEA Games Việt Nam 2003, Asian Indoor Games Việt Nam 2009.

    Chắc chắn, bài toán kinh tế cho cách thức tổ chức riêng có đó của Việt Nam sẽ trở nên tốn kém hơn nhiều so với thông lệ quốc tế cùng những bất tiện trong công tác chỉ đạo, điều hành. Vậy nhưng, Việt Nam đã đăng cai các sự kiện thể thao lớn theo cách thức đó để các cuộc thi đấu diễn ra cả ở Hà Nội, TPHCM và nhiều địa phương khác. Dù rằng chi phí để tổ chức cho các sự kiện đó là xã hội hoá với sự tham gia của doanh nghiệp nhưng sự hiện diện của các doanh nghiệp ở đó dường như là các tập đoàn kinh tế nhà nước như VNPT, Viglacera… mà ít thấy sự hiện diện của các thương hiệu quốc tế vốn đã gắn bó nhiều năm với các sự kiện thể thao này.

    Thêm một vấn đề nữa: đã là sự kiện thể thao quốc tế thì việc đo đếm thành tích thi đấu phải theo tiêu chuẩn quốc tế. Với SEA Games 2003, vấn đề đặt ra là phải có một hệ thống điện tử xử lý thông tin hiện đại. Nếu không vì SEA Games 2003, có lẽ nền thể thao Việt Nam vẫn tiếp tục chỉ biết đến thước dây và đồng hồ bấm tay. Đầu năm 2002, vấn đề này mới được xới lên và trên cương vị Tổng biên tập Tạp chí Thế giới Vi tính - PC World Vietnam khi đó, dù đã hoạt động trong ngành CNTT tới 30 năm, TS Nguyễn Trọng đã phải thốt lên: “Bài toán quá lớn khiến tôi bàng hoàng”.

    Một quan chức phụ trách CNTT của Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng bức xúc đặt câu hỏi là không hiểu sao tới phút 89 thì ngành thể dục thể thao mới đưa ra yêu cầu này? Nhưng cuối cùng, bài toán khó này cũng đã được giải quyết với những kết quả tương đối ổn thoả nếu so với các dự án về xây dựng công trình thể thao. Chỉ có điều là nhà thầu VNPT lại hoá thành nhà tài trợ cho SEA Games với số tiền phải chi ra lên đến 100 tỷ đồng. Trong khi đó, ngân sách mà nhà nước đầu tư chỉ có 22 tỷ đồng cho dự án hệ thống điện tử xử lý thông tin (!).

    Nền tảng để thể thao Việt Nam vươn lên
    Không ít quốc gia Châu Âu đã và đang tập hợp được những đội tuyển bao gồm tuyệt đại đa số là các cầu thủ đá thuê ở nước ngoài như Ireland, Đan Mạch. Thường thì các tuyển thủ chỉ tụ tập được có 1 ngày trước khi diễn ra trận đấu nhưng họ vẫn có thể phối hợp ăn ý và chiến thắng. Đương nhiên, đó là công lao và tài năng của các huấn luyện viên như Jaques Chalton, Joseff Pjontech… Nhưng theo nhà bình luận Trần Tiến Đức thì ai có thể cung cấp cho họ các số liệu chính xác về sức khoẻ, thể trạng của các cầu thủ cùng chế độ tập luyện, thi đấu phù hợp với điều kiện thực tế nếu không phải là các nhà khoa học?

    Ai cũng biết, nước Mỹ vốn không có nền bóng đá mạnh bởi người dân Mỹ không cuồng nhiệt về bóng đá như Châu Âu hay Mỹ Latinh. Vậy nhưng tại World Cup 1994, đội chủ nhà đã lọt vào tới vòng 1/8 và chỉ chịu thua Brasil với tỷ số 0:1. Quan sát các trận đấu của đội tuyển Mỹ tại World Cup 1994 qua truyền hình, ông Trần Tiến Đức cho biết là trợ lý huấn luyện viên trưởng có sử dụng máy tính xách tay. Theo ông, có lẽ các tình huống của trận đấu đã cập nhật vào đó để có căn cứ cho huấn luyện viên Bora Miluttinovic đưa ra đấu pháp phù hợp. Chả thế mà đã có những tờ báo chạy hàng tít lớn nhân World Cup 2002: “Bóng đá Mỹ, thứ bóng đá được lập trình”. Để có được điều đó thì người Mỹ, Nhật đã đầu tư nghiên cứu về điện tử hoá thể thao. Kết quả của nó không chỉ phục vụ tập luyện, thi đấu mà nhờ đó đã ra đời các dòng game thể thao điện tử như FIFA hay ProEvolution Soccer (PES) rất phổ biến hiện nay.

    Từ những thực tế đó, bình luận viên Trần Tiến Đức khẳng định: nền tảng để thể thao Việt Nam có thể vươn lên đẳng cấp quốc tế chính là khoa học công nghệ mà trong đó CNTT có một vai trò hết sức quan trọng. Không biết, các ông bầu của nền thể thao Việt Nam nghĩ gì về điều đó. Câu trả lời xin chờ chính họ và sự lên tiếng của lãnh đạo ngành thể dục thể thao cùng Viện Khoa học Thể dục Thể thao - cơ quan nghiên cứu khoa học đầu mối của nền thể thao Việt Nam.