• Thứ Ba, 14/09/2004 09:13 (GMT+7)

    Thị trường dịch vụ di động Việt Nam - Cuộc chiến công nghệ và dịch vụ

     

    Callink, nhà cung cấp dịch vụ ĐTDĐ đầu tiên tại Việt Nam đã chính thức rời khỏi võ đài sau 12 năm tồn tại. Cùng với CallLink là sự ra đi của một loạt các nhà cung cấp dịch vụ nhắn tin khác. Chúng ta cùng điểm qua những cột mốc trên thị trường viễn thông di động Việt Nam trong suốt thời gian qua.

    Nếu tính từ thời điểm năm 1992 khi mạng ĐTDĐ đầu tiên của Việt Nam - Callink ra đời đến nay thì Việt Nam đã có mặt được 12 năm trên bản đồ những nước sử dụng ĐTDĐ. Đối với ngành viễn thông, 12 năm không phải quá dài nhưng với riêng truyền thông di động thì khoảng thời gian này đã chứng kiến sự liên tục phát triển của những công nghệ, dịch vụ liên quan đến di động. Suốt trong 12 năm qua, thị trường di động Việt Nam đã gần như bám sát những thay đổi không ngừng của những tiến bộ công nghệ trên thế giới. Các dịch vụ di động cũng đã biết cách "lấy lòng" hàng triệu thuê bao và tiếp tục thu hút thêm rất nhiều khách hàng mới, làm họ quên đi không ít những phen khổ sở vì phải chịu cước phí cao. Cuối cùng chân lý của thị trường "Khách hàng là thượng đế" hình như cũng dần dần đi vào quĩ đạo bởi tác động của nhiều phía: Nhà nước, doanh nghiệp và chính những người dùng.

    Báo tử và khai sinh

    Theo quy luật, một cái chết đã được dự tính của đàn anh kì cựu nhất trong lĩnh vực di động là Callink (hợp tác giữa Bưu Điện TP.HCM và Singapore Telecome) cũng đã diễn ra vào ngày 1/8/2004 vừa qua. Callink là mạng ĐTDĐ đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 1992, là thời điểm hưng thịnh của công nghệ AMPS (Advanced Mobile Phone System) mà Callink sử dụng. AMPS được phát triển bởi Bell Labs vào năm 1970, hoạt động trên băng tần 800 MHz và thương mại hóa tại Mỹ vào năm 1983. Kể từ khi ra đời đến khi "báo tử", Callink chỉ phủ sóng ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngoài vùng phủ sóng hạn chế, Callink không có thêm bất cứ dịch vụ giá trị gia tăng nào, như tin nhắn SMS chẳng hạn.

    Dù đã trở thành quá khứ, nhưng vai trò của Callink đối với ngành truyền thông không dây rất lớn, vì nó đã đưa Việt Nam tham dự vào nhóm các quốc gia sử dụng ĐTDĐ vào thời điểm những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Mặc dù đóng vai trò rất quan trọng, và là một trong những yếu tố quyết

    định sự tồn tại của một dịch vụ, nhưng công nghệ lại luôn thay đổi và khi không còn thích ứng với

    yêu cầu thực tế nữa thì kỹ thuật cũ sẽ bị đào thải, nhường chỗ cho những công nghệ mới. Đây chính là lý do ra đi của Callink, thay vào đó là những nhà cung cấp dịch vụ sử dụng các công nghệ khác ưu việt hơn.

    Tương tự như Callink, năm tổng đài nhắn tin của Bưu Điện TP.HCM, gồm 130, 133, 135, 138 và 107 cũng sẽ chính thức ngừng hoạt động vào 1/9/2004. Sau đó sẽ đến lượt mạng nhắn tin Việt Nam (107, 1570), Hà Nội - ABC (133), Đà Nẵng (140) ngừng cung cấp dịch vụ. Tất cả dều một lý do: công nghệ đã lỗi thời nên không đáp ứng được nhu cầu của người dùng. Như vậy dến cuối năm 2004, Việt Nam sẽ không còn dịch vụ nhắn tin nào. Máy nhắn tin đeo bên hông, một thời đã là thước đo mức độ thành đạt của doanh nhân, cũng lui vào quá khứ.

    Độc chiến một VNPT

     


    Máy nhắn tin một thời là niềm tự hào của các doanh nhân

    Quay ngược lại thời gian, sau Callink một năm - 1993, mạng ĐTDĐ sử dụng công nghệ GSM (Global System Moblie) đầu tiên đã ra đời trên cơ sở hợp tác giữa Tổng Công Ty Bưu Chính - Viễn Thông Việt Nam (VNPT) và tập đoàn Comvik (Thuỵ Điển) - mạng điện thoại Mobifone (VMS). Hiện nay, mạng này có tổng vốn đầu tư lên tới 456 triệu USD, số lượng thuê bao khoảng 1,5 triệu, chiếm 15% toàn bộ tổng số thuê bao điện thoại cố định và di động tại Việt Nam. Sau Mobifone, một đơn vị khác của VNPT là Vinaphone (công ty Dịch Vụ Viễn Thông - GPC) đã chính thức cung cấp dịch vụ vào năm 1996, Vinaphone cũng sử dụng công nghệ GSM, dù sinh sau đẻ muộn nhưng Vinaphone hiện là nhà khai thác mạng ĐTDĐ lớn nhất Việt Nam tổng số thuê bao hiện nay là khoảng 2,5 triệu (chiếm 24%).

    Nếu Mobifone là nhà cung cấp đầu tiên đưa ra những dịch vụ di động phong phú và tiên tiến trên cơ sở công nghệ GSM, được đông đảo người dùng hưởng ứng thì Vinaphone đóng vai trò của người đi sau, vừa là tiếp sức, vừa là đối thủ, tạo cú hích để thị trường di động tăng vọt trong những năm tiếp theo.

    Cả Mobifone và Vinaphone hiện đều có vùng phủ sóng lớn nhất nước - 61/61 tỉnh/thành.

    Tiếp theo Mobifone và Vinaphone, thêm một mạng của VNPT - CityPhone cũng đã ra đời, sử  dụng công nghệ iPAS, khác với công nghệ GSM là nền tảng của 2 mạng VSM và Vinaphone. Sau một thời gian dài thử nghiệm từ 12/2002 đến tháng 6/2003, CityPhone  mới chính thức đi vào hoạt động. Đây là mạng ĐTDĐ dành cho người nội đô có giá cước rẻ, và cũng có dịch vụ nhắn tin SMS. Tuy nhiên CityPhone vẫn có một số hạn chế như hiện nó chỉ phủ sóng ở Hà Nội và TP.HCM, chất lượng thoại thấp khi người dùng di chuyển với tốc độ trên 40 km/h. Sự xuất hiện của CityPhone chưa mang lại ý nghĩa đột phá như người ta mong muốn, mà chỉ góp phần làm thị trường viễn thông di động Việt Nam phong phú thêm.

     

    DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG:CÔNG

    CỤ CẠNH TRANH HỮU HIÊU

     

     

     

    Ngoài chính sách về giá thuê bao, giá cước, thì các dịch vụ giá trị gia tăng, khả năng phủ sóng và các chương trình khuyến mãi đang là những yếu tố giúp các nhà cung cấp dịch vụ thu hút khách hàng và cạnh tranh lẫn nhau. Dịch vụ giá trị gia tăng được hiểu là những dịch vụ mà nhà cung cấp cho phép thuê bao ĐTDĐ sử dụng từ thiết bị đầu cuối của mình thông qua mạng di động (ngoài nhận và thực hiện cuộc gọi), có thể phải đăng ký hoặc không cần đăng ký. Chính vì vậy trong nhiều năm qua các nhà cung cấp dịch vụ đã liên tục đưa ra các dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nền tảng công nghệ của mạng di động mà họ đang khai thác. Dù được đánh giá chưa bằng so với nhiều nước trong khu vực nhưng các dịch vụ này cũng đã hấp dẫn người dùng và có tác động rất tích cực đến thị trường truyền thông di động ở Việt Nam. Tiêu biểu trong số các dịch vụ phải kể đến:

     

     

     Dịch vụ  chuyển vùng (roaming) quốc tế: cho phép thuê bao của Vinaphone va Mobifone vẫn có thể hoạt động ở nước ngoài. Hiện Mobifone đã Roaming với 49 nước và Vinaphone với 52 nước trên thế giới. Cũng từ dịch vụ này mà người nước ngoài đến Việt Nam vẫn có thể sử dụng ĐTDĐ của họ.
     Dịch vụ trả tiền trước: Đây là một giải pháp thuê bao cực kỳ tiện lợi và đơn giản đối với người dùng vì giảm hẳn những thủ tục đăng ký rườm rà của thuê bao trả sau… Chính vì vậy từ khi áp dụng dịch vụ này vào năm 1999, số lượng thuê bao của cả hai mạng VMS và Vinaphone gia

     

     

    tăng một cách nhanh chóng. 
     Dịch vụ nhắn tin ngắn SMS: Đây cũng là một giải pháp giải quyết vấn đề giá cước, với 500 đồng/tin nhắn, SMS đã được người dùng chào đón ngay từ khi được triển khai. SMS đóng một vai trò lớn trong các dịch vụ gia tăng trong mạng di động.
    •  Dịch vụ WAP: Là mạng Internet dành cho ĐTDĐ, cho phép người dùng xem thông tin, tải và chuyển dữ liệu bằng ĐTDĐ. Đây là kênh thông tin quan trọng trong hoàn cảnh người dùng không thể kết nối Internet bằng máy tính.
     Dịch vụ GPRS: GSM bị đánh giá là có tốc độ truyền dữ liệu chậm (9,6kbps), để khắc phục tình trạng này Vinaphone và Mobifone đưa ra dịch vụ truyền dữ liệu nhanh GPRS (còn gọi là thế hệ di động 2.5G), cho phép người dùng ĐTDĐ truyền dữ liệu với tốc độ nhanh hơn, nhiều hơn và an toàn hơn. Nhờ có GPRS, người dùng truy cập WAP nhanh và hiệu quả hơn.
     Dịch vụ MMS: Tận dụng ưu thế của GPRS, MMS ra đời, đây là dịch vụ nhắn tin đa phương tiện. Nếu SMS chỉ cho phép người dùng dữ liệu dạng văn bản ký tự (text) với dung lượng 160 ký tự thì với MMS không những gửi được text mà còn gửi/nhận được hình ảnh và âm thanh từ ĐTDĐ. Đây là dịch vụ duy nhất hiện chỉ có Vinaphone và Mobifone có.
    Thực tế cho thấy những hạn chế như vùng phủ sóng ít, thiết bị đầu cuối không sử dụng SIM (của Callink, CityPhone, S-Fone), không có dịch vụ tin nhắn ngắn SMS đang là những trở ngại thực sự khiến cho nhiều người dùng quyết định chọn dịch vụ của nhà cung cấp này mà không sử dụng mạng của nhà cung cấp kia. Chính vì vậy, cuộc đua vùng phủ sóng, tin nhắn SMS… đang thực sự diễn ra giữa các nhà cung cấp. Cả hai nhà cung cấp cũ là VMS và Vinaphone đang tận dụng các yếu tố này làm ưu thế cho mình.

     

    Luồng gió mới S-FONE

    Suốt một thời gian dài, vì nhiều lý do khác nhau phải mãi tới 7 năm sau (kể từ ngày Vinaphone khai trương) Việt Nam mới có thêm một nhà khai thác mạng mới hoàn toàn động lập với VNPT là S-Fone. Mạng điện thoại mới sử dụng công nghệ CDMA (Code Divion Multiple Access) chính thức khai trương vào 1/7/2003, đây là kết quả của việc hợp tác kinh doanh giữa Saigon Postel (công ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn) và các doanh nghiệp viễn thông Hàn Quốc. Hệ thống mạng di động có tổng vốn đầu tư trên 200 triệu USD này sau một năm hoạt động đã trở thành người tiên phong trong vấn đề cải thiện giá cước và dịch vụ, khiến người tiêu dùng được hưởng lợi so với cách mà họ vẫn dùng trước ngày 1/7/2003, cũng chính S-Fone đã là một trong những nhân tố chính khiến cho các đàn anh Mobifone và Vinaphone phải cải thiện cách thức phục vụ người sử dụng vốn đã quá bất công mà nhiều năm trước họ vẫn áp dụng. Công lao của S-Fone đã được chính người dùng thừa nhận. Số thuê bao của S-Fone hiện nay là 75.000.

     

    ĐTDĐ LUÔN ĐI TRƯỚC DỊCH VỤ

     

     

    Qua 12 năm có mặt trên thị trường Việt Nam, thiết bị đầu cuối (máy ĐTDĐ) đã có những thay đổi hoà nhịp theo sự phát triển công nghệ thế giới. Thị trường máy ĐTDĐ Việt Nam đã ghi nhận lại nhiều tên tuổi các nhà cung cấp thiết bị viễn thông, từ  những anh tài kì cựu Nokia, Ericsson, Motorola, Siemens, Alcatel, Philips đến các tay mới nổi lên Samsung, LG, Sony Ericsson, Panasonic và thậm chí cả những tên ít ai biết đến Benq, Brid, Dbtel, Innostream, Sagem, TCL, Toplux, V-Fone,VK… Có những tên tuổi xuất hiện chỉ trong một thời gian ngắn để sau đó nói lời tạm biệt với người dùng.

    Dù các nhà cung cấp dịch vụ di động tại Việt Nam đã đưa ra nhiều loại hình dịch vụ giá trị gia tăng nhưng những cố gắng này đều chậm hơn so với các nước trong khu vực và luôn theo sau  công nghệ và tính năng tích hợp trong ĐTDĐ. Ví dụ ĐTDĐ Nokia 6310 được bán ra thị trường từ năm 2002 cùng một số model khác đã có GPRS, nhưng phải đến năm 2004 dịch vụ GPRS mới chính thức được thương mại hóa tại Việt Nam.

    Nói về ĐTDĐ, ngoài nhu cầu của thị trường tiêu dùng góp phần định hướng sản phẩm thì vai trò quan trọng hơn cả thuộc về công nghệ. Chính công nghệ là yếu tố quyết định những tính năng mà nhà sản xuất tích hợp vào máy và nhà khai thác mạng triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng. Vào khoảng những năm 1994 - 1995, một chiếc ĐTDĐ thường có kích thước khá lớn và nặng 200 - 250g. Tuy cồng kềnh vậy nhưng nó chỉ có thể thực hiện được đúng một chức năng tối thiểu là nhận và thực hiện cuộc gọi. Hơn nữa, nếu dùng nhiều, trong vòng một ngày bạn phải sạc lại pin. Những tiến bộ công nghệ, đặc biệt là công nghệ bán dẫn  đã làm thay đổi hẳn diện mạo và chức năng của ĐTDĐ. Ngày nay, thiết bị nghe/nói này  đã thoát khỏi khái niệm điện thoại thông thường và trở thành thiết bị truyền thông đa chức năng. Trong một thiết bị nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, người ta tích hợp đủ thứ: máy ảnh/quay phim, máy nghe nhạc, radio FM, điều khiển các thiết bị số, xem tivi, gửi/nhận e-mail, gửi/nhận tin nhắn có hình ảnh và âm thanh, chơi game v.v... và v.v...

    Trải qua hơn chục năm, cùng với xu hướng giảm kích thước, các nhà sản xuất ĐTDĐ còn đua nhau để có màn hình lớn hơn, pin dùng lâu hơn, nhiều chức năng hơn và đặc biệt là các chức năng  multimedia -

     

     

     giải trí ngày càng được coi trọng, song song đó là cuộc cách mạng về kiểu dáng đã làm cho thị trường sản phẩm liên tục thay đổi, cuốn người dùng vào cuộc chạy đua không điểm dừng. Trong những cuộc chiến, Nokia là người chiến thắng, liên tục bốn lần đoạt giải "SP CNTT Ưa Chuộng Nhất" do người dùng bình chọn.
    Với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, trong thời gian ngắn tới 1 chiếc ĐTDĐ tiêu chuẩn sẽ có màn hình màu, âm thanh đa âm sắc, chức năng chụp ảnh/quay phim và giao tiếp không dây với các thiết bị số.

    Thị trường Việt Nam, từ khi xuất hiện chiếc ĐTDĐ đầu tiên đã phải đương đầu với một vấn nạn nhức nhối, luôn là thách thức đối với các cơ quan chức năng và người kinh doanh chân chính, đó là nạn hàng lậu (được gọi bằng cái tên nhẹ nhàng hơn là hàng xách tay). Căn cứ trên những số liệu mà các cơ quan chức năng đưa ra thì từ trước đến nay không năm nào hàng chính thức chiếm quá bán trên tổng số ĐTDĐ được bán ra. Liệu những biện pháp mạnh đang được triển khai giải quyết được vấn đề này!

    Dù gì đi nữa, điều mà người dùng quan tâm nhất là trong những năm tiếp theo, ĐTDĐ sẽ có thêm những chức năng gì. Nhưng có lẽ trong trường hợp này, nhà sản xuất sẽ là người chủ động hỏi lại là bạn muốn dùng ĐTDĐ vào những việc gì!  Xét về khía cạnh công nghệ, nhà sản xuất hoàn toàn có cơ sở. Và vấn đề còn lại chỉ phụ thuộc vào đầu óc tưởng tượng của bạn.

     

    Cơn bão xa Viettel

    Vào thời điểm Callink và các dịch vụ nhắn tin "báo tử", cũng là lúc người dùng háo hức chờ đợi thêm một nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ mới - Viettel Mobile (thuộc công ty Điện Tử Viễn Thông Quân Đội). Tính đến thời điểm này, Viettel đã ít nhất 2 lần lùi lại ngày khai trương chính thức, nhưng theo nhiều nguồn tin khác nhau thì mạng ĐTDĐ này đã có khoảng hơn 3.000 thuê bao. Viettel cũng sử dụng công nghệ GSM như Vinaphone và Mobifone, nhưng các dịch vụ như MMS, GPRS, WAP đều chưa được triển khai. Hiện Viettel đã phủ sóng được 52 tỉnh/thành phố và dự kiến sẽ nâng con số này lên 64/64 tỉnh/thành phố trên cả nước vào cuối năm 2004 và cũng theo kế hoạch đến cuối năm 2004, Viettel sẽ có khoảng 135.000 thuê bao.

    Như vậy, nếu tính cả Viettel thì hiện nay cả nước có 5 nhà cung cấp dịch vụ di động với khoảng trên 4 triệu thuê bao. Hai mạng VMS và Vinaphone sử dụng công nghệ GSM với số lượng khách hàng áp đảo đang giữ vai trò định hướng, dẫn dắt thị trường. Mặc dù sinh sau đẻ muộn, chiếm thị phần nhỏ nhưng S-Fone (sử dụng công nghệ CDMA) và sắp tới là Viettel (sử dụng công nghệ GSM) lại là những đối thủ cạnh tranh  mạnh với những chính sách giá hấp dẫn, góp phần lớn trong việc mang lại lợi ích cho người dùng.
     

    Nhật Bình
     

    ID: A0408_80