• Thứ Hai, 22/08/2005 15:24 (GMT+7)

    ĐTDĐ Việt Nam 6 tháng đầu năm 2005: Nhà khai thác dịch vụ thi tài

    Trong lúc thị trường ĐTDĐ nhộn nhịp với các sản phẩm giá rẻ thì các nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ lại đang dùng tất cả các lợi thế của họ để thu hút người dùng mới và khách hàng của nhau bằng mọi cách.

    Trong lúc thị trường ĐTDĐ nhộn nhịp với các sản phẩm giá rẻ thì các nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ lại đang dùng tất cả các lợi thế của họ để thu hút người dùng mới và khách hàng của nhau bằng mọi cách.

    Thế lực mới đang hình thành?

    Nếu nói là cạnh tranh gay gắt thì thực sự chỉ diễn ra giữa Mobifone, Vinaphone và Viettel, còn S-Fone theo quan sát của chúng tôi, nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ CDMA đầu tiên này không có một động thái nào đáng kể nhằm khuyếch trương để trở thành thế lực mới tại thị trường ĐTDĐ Việt Nam. Tuy nhiên việc S-Fone chính thức bắt đầu triển khai và cung cấp dịch vụ chuyển vùng quốc tế giữa mạng S-Fone và mạng SKT (Hàn Quốc), cũng như việc mở rộng vùng phủ sóng trong nước cũng đã là một cố gắng đáng ghi nhận của nhà khai thác dịch vụ này trong 6 tháng qua.

    So sánh trong suốt quá trình phát triển, chúng tôi cho rằng 6 tháng qua Vinaphone và Mobifone đã có khá nhiều bước đi tích cực hướng tới quyền lợi người dùng. Điều đó có thể chứng minh bằng việc Vinaphone đã khai trương trang web VinaPortal (trước đó thì Mobifone Portal cũng đã ra đời) với khối lượng nội dung cực kỳ phong phú. Các trang web này hỗ trợ tích cực cho người dùng trong việc sử dụng các dịch vụ của hai nhà khai thác mạng nói trên. Việc cải thiện chất lượng cũng như mở rộng vùng phủ sóng GPRS cũng là một bước tiến mới mà lâu nay người dùng mong đợi từ Vinaphone và Mobifone. Ngoài ra, trong 6 tháng qua cả hai nhà khai thác mạng này còn có nhiều chiến dịch khuyến mại, giảm giá dịch vụ, đưa ra thị trường các loại thẻ SIM có dung lượng 64 KB giúp tăng khả năng lưu trữ.

    Tuy nhiên nổi đình nổi đám nhất trong số 4 nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ đang hoạt động tại Việt Nam lại là Viettel, nhà khai thác trẻ nhất, ít dịch vụ giá trị gia tăng nhất nhưng lại có sự phát triển thuê bao ngoạn mục nhất, họ đã có thêm ít nhất 500.000 thuê bao trong 6 tháng qua. Viettel rất có thể sẽ trở thành một thế lực mới đe doạ tốc độ phát triển của “đàn anh” Vinaphone và Mobifone với mục tiêu trong năm nay là sẽ đạt 1,5 triệu thuê bao. Tuy nhiên, chúng ta thấy cách Viettel thu hút người dùng vẫn khá “cổ truyền”: mở rộng vùng phủ sóng, giảm cước dịch vụ... Dư luận cho rằng nếu Viettel vẫn cứ mải mê công cuộc “chinh phục” số lượng thuê bao mà quên mất việc triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng thì sẽ là một thiếu sót và quyền lợi của người dùng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng.

    Cũng trong thời gian qua, ngành ĐTDĐ Việt Nam còn chứng kiến cuộc “tranh chấp” viễn thông mà nhiều người cho là không đáng có giữa Viettel và tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT). Câu chuyện được tóm tắt rằng VNPT đã không mở rộng đường kết nối giữa Viettel và 2 nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ của VNPT là Vinaphone và Mobifone (vậy nên trong thời gian qua khi gọi điện từ Viettel sang Vinaphone và Mobifone người dùng thường thấy hiện tượng bị nghẽn mạch). Nhiều cuộc họp giữa các bên liên quan và cơ quan quản lý nhà nước để giải quyết việc tưởng như rất đơn giản này đã diễn ra và cuối cùng, Văn Phòng Thủ Tướng Chính Phủ đã có công văn gửi bộ trưởng Bộ Bưu Chính Viễn Thông yêu cầu phải có biện pháp ngay đối với đề nghị kết nối mạng của Viettel. Coi như “cuộc chiến” đã kết thúc và phần thắng thuộc về Viettel, nhưng điều có ý nghĩa hơn cả là kết quả của sự kiện này đã tạo ra được một tiền lệ tốt trong vấn đề đấu nối đường truyền giữa các nhà khai thác với nhau chứ không riêng gì giữa Viettel và Mobifone, Vinaphone.

    Trong nửa năm qua, Hanoi Telecom và VP Telecom (hai nhà khai thác mạng đã được cấp phép nhưng chưa chính thức thương mại hoá dịch vụ) đã đưa ra khá nhiều thông tin xung quanh các dịch vụ mà họ sẽ triển khai. Thế nhưng đến thời điểm này chỉ mới có VP Telecom chính thức đưa ra dịch vụ thử nghiệm trước đông đảo công chúng. Tuy nhiên, CDMA 2000 1x EV-DO của họ cũng chỉ mới được thử nghiệm ở mức độ điện thoại vô tuyến nội vùng và kết nối Internet không dây. Trong khi đó Hanoi Telecom vẫn án binh bất động như một “ẩn số” đối với những ai quan tâm và người dùng ĐTDĐ.

    Nhộn nhịp nhờ điện thoại giá rẻ

    Nửa năm đầu 2005 thị trường ghi nhận sự “đổ bộ” ồ ạt của nhiều model ĐTDĐ giá rẻ với tính năng cơ bản. Nokia, Motorola, Philips, LG, Sony Ericsson, Siemens... đều có những model ĐTDĐ giá trên dưới 1,5 triệu đồng, trong đó phải kể đến sản phẩm Motorola C131 giá 800.000 đồng, Nokia 1100 900.000 đồng, Sony Ericsson T290i 1,28 triệu đồng... Dù con số cụ thể không được tiết lộ, nhưng hãng nghiên cứu thị trường GFK cho rằng những ĐTDĐ giá rẻ này đã góp phần làm thị trường sôi động hẳn lên. Thị phần của Motorola đã được cải thiện đáng kể so với năm 2004 một phần nhờ vào các model này; các tên tuổi khác cũng thừa nhận họ đã đạt những thắng lợi nhờ các model này.

    Thị trường Việt Nam còn đánh dấu sự trở lại (sau một thời gian dài gần như không có hoạt động gì) của ĐTDĐ Panasonic bằng việc chỉ trong 1 thời gian ngắn hãng này đã công bố bán ra gần 10 model mới trong đó có những sản phẩm mang tính đột phá về công nghệ như VS3 với màn hình tới 16 triệu màu. Cũng như Panasonic, O2 lần đầu tiên đã có buổi giới thiệu sản phẩm mới khá hoành tráng tại TP.HCM vào cuối tháng 5. Trong khi đó, ngược lại, Siemens - một “ông lớn” trong ngành ĐTDĐ lại gần như bất động trong thời gian qua; điều đó cũng dễ hiểu khi Siemens quyết định rời bỏ lĩnh vực sản xuất ĐTDĐ trong năm 2005. Dẫu biết việc sát nhập hay sang tên đổi họ trong lĩnh vực ĐTDĐ không phải là cá biệt, nhưng điều đó cũng ít nhiều làm cho các “fan” của Siemens tiếc nuối. Vẫn theo GFK, Nokia và Samsung vẫn giữ hai thứ hạng đầu về thị phần ĐTDĐ tại Việt Nam. Và khoảng cách giữa hai người “khổng lồ” này với các nhãn hiệu khác là khá lớn. Trong 6 tháng đầu năm, dù thị trường chứng kiến sự gia nhập của Lenovo (Trung Quốc) hay Pantech (Hàn Quốc), song thực tế, đến thời điểm này các nhãn hiệu mới và nhỏ vẫn chưa thực sự tạo được ấn tượng và đột phá nào trên thị trường ĐTDĐ. Cũng có ý kiến cho rằng các nhãn hiệu mới sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động kinh doanh của Nokia, Samsung, Motorola, Sony Ericsson, Siemens..., nhưng điều đó chưa được chứng minh trên thực tế của thị trường.

    Về sản phẩm, theo số liệu thống kê của GFK, 6 tháng đầu năm 2005 có 84% ĐTDĐ bán ra có màn hình màu so với 82% của 6 tháng cuối năm 2004. Ngày càng xuất hiện nhiều model ĐTDĐ có số lượng màu lớn như 256.000, thậm trí là 16 triệu màu. Trong khi đó các model có chức năng MP3 chiếm 13% (6 tháng cuối năm 2004 là 11%), tuy không chênh lệch lắm so với năm ngoái nhưng thực tế thị trường lại cho thấy 6 tháng qua là khoảng thời gian mà ĐTDĐ có chức năng MP3 được bán ra nhiều nhất so với nhiều năm qua như Siemens CX75, LG G1800, Sony Ericsson K750i, Nokia 8800, Samsung D500, E730... ĐTDĐ được bán ra trên thị trường 6 tháng qua có 15% hỗ trợ thẻ nhớ gắn ngoài (năm ngoái là 12%), Nokia và Sony Ericsson vẫn là hai nhãn hiệu có nhiều model ĐTDĐ có hỗ trợ thẻ nhớ gắn ngoài nhất. Trong khi đó dù có số lượng model ĐTDĐ bán ra nhiều nhất nhì, nhưng Samsung chỉ có một model duy nhất có hỗ trợ thẻ nhớ. Dung lượng bộ nhớ trong của ĐTDĐ cũng đã gia tăng đáng kể mà Nokia và Samsung là đại diện với những model có bộ nhớ trong lớn nhất lên đến gần 100 MB. Giao tiếp không dây ngày càng được ưa chuộng khi có đến 20% ĐTDĐ có Bluetooth (năm ngoái là 16%). Cũng trong thời gian này, lần đầu tiên, Samsung đã công bố model ĐTDĐ tích hợp Bluetooth, là chiếc D500. Hiện 47% ĐTDĐ bán ra trên thị trường có tích hợp tính năng máy ảnh số (6 tháng cuối năm 2004 là 42%). Rất nhiều model ĐTDĐ/máy ảnh số có độ phân giải trên 1 megapixel đã được các hãng công bố trong thời gian này. Trong khi đó Sony Ericsson lần đầu tiên công bố ĐTDĐ/máy ảnh số đạt độ phân giải 2 megapixel – model K750i. Chưa hết, tại Việt Nam cũng đã xuất hiện ĐTDĐ (sử dụng chuẩn CDMA) có máy ảnh với độ phân giải lên đến 5 megapixel. Tóm lại, dù được dự đoán là năm của ĐTDĐ/nhạc MP3 nhưng đến thời điểm này ĐTDĐ/máy ảnh số vẫn chiếm một phần rất lớn trên thị trường và lớn hơn nhiều so với ĐTDĐ/MP3.

    Về kiểu dáng, vẫn theo GFK, 6 tháng vừa qua trên thị trường có 65% số ĐTDĐ được bán ra là loại không nắp, 27% là nắp gấp vỏ sò, 6% nắp trượt. So với 6 tháng cuối năm 2004, tỷ lệ này không có gì thay đổi. Vì tính tiện dụng nên tuyệt đại đa số ĐTDĐ được bán ra trên thị trường hiện nay là loại không có an-ten ngoài.

    Nhật Bình

    ID: A0508_82