• Thứ Ba, 18/04/2006 21:41 (GMT+7)

    3G và WiMAX tại Việt Nam: Thực tế và tiềm năng

    Thời gian gần đây chúng ta nghe nhắc nhiều đến 3G và WiMAX, vậy giữa chúng có mối tương đồng nào hay không, bổ sung hay cạnh tranh? Khả năng triển khai thực tế của 3G và WiMAX vào Việt Nam ở thời điểm hiện tại như thế nào?

    Thời gian gần đây chúng ta nghe nhắc nhiều đến 3G và WiMAX, vậy giữa chúng có mối tương đồng nào hay không, bổ sung hay cạnh tranh? Khả năng triển khai thực tế của 3G và WiMAX vào Việt Nam ở thời điểm hiện tại như thế nào?

    3G đã minh chứng bằng thực tế

    Công nghệ 3G (thế hệ thứ 3), mà đại diện là các tiêu chuẩn CDMA2000 và WCDMA, là thế hệ mới nhất và đã được thương mại hóa trong ngành truyền thông di động cách đây 3 năm. Theo 3gtoday.com, 3G CDMA đã có trên 243 triệu thuê bao tính đến 21/3/2006; có 191 nhà khai thác 3G thương mại tại 82 quốc gia. 3G cung cấp những dịch vụ dữ liệu tốc độ cao trên một vùng phủ sóng rộng, giúp người dùng MTXT kết nối vào Internet từ bất cứ đâu khi có sóng của nhà khai thác. CDMA2000 và WCDMA đều được xây dựng trên cơ sở công nghệ giao diện vô tuyến CDMA và có những lộ trình phát triển theo hướng cải tiến chất lượng đường truyền. Với CDMA, trước khi tiến tới 3G, các nhà khai thác thường triển khai những bước sau CDMA2000 1X, CDMA2000 1xEV-DO và CDMA2000 1xEV-DO Revision A (EV-DO Rev.A).

    CDMA2000 1X có tốc độ đường truyền cao nhất là 153,6 Kbps, tốc độ này được đánh giá là không đủ cho nhu cầu truyền dữ liệu không dây, chính vì vậy CDMA2000 1xEV-DO ra đời. Đây là công nghệ hiệu suất cao, dựa trên kiến trúc mạng IP (Internet Protocol). EV-DO thương mại có thể cung cấp tốc độ dữ liệu đỉnh là 2,4Mbps cho đường truyền xuôi (download). Thực tế, nhiều nhà khai thác cho biết tốc độ dữ liệu trung bình của EV-DO mà họ khai thác đạt từ 400 đến 700Kbps. Phiên bản kế tiếp của EV-DO là CDMA2000 1xEV-DO Revision A (EV-DO Rev.A) được thiết kế cho những ứng dụng đòi hỏi đường truyền dữ liệu cao hơn, phiên bản này có tốc độ đỉnh trên đường truyền xuôi là 3,1 Mbps (tốc độ trung bình từ 600 đến 1,3Mbps) và tốc độ đỉnh cho truyền ngược (upload) là 1,8Mbps.

    Trong khi đó, WCDMA là lộ trình tiến lên 3G của các nhà khai thác GSM/GPRS. WCDMA đưa ra một lộ trình chuyển đổi để cung cấp khả năng dữ liệu tăng cường theo thời gian. WCDMA thương mại được triển khai tại nhiều nơi cung cấp tốc độ dữ liệu đỉnh lên đến 384Kbps (tốc độ trung bình là 150Kbps – 250Kbps). WCDMA còn được mở rộng tới HSDPA (High Speed Downlink Packet Access). HSDPA cung cấp một mạng gói hội tụ cho phép hỗ trợ các dịch vụ IP từ đầu đến cuối. Hệ thống HSDPA thương mại được dự kiến sẽ hỗ trợ tốc độ dữ liệu đỉnh trên đường truyền xuôi lên đến 7,2Mbps (trung bình 400kbps – 1,5Mbps). Để nâng cao khả năng dữ liệu đường truyền hướng lên (uplink), nhà khai thác WCDMA định triển khai một cải tiến khác gọi là HSUPA (High Speed Uplink Packet Access). Các hệ thống HSUPA dự kiến sẽ hỗ trợ tốc độ dữ liệu đỉnh đường truyền hướng lên là 5,7Mbps. Cả HSDPA và HSUPA đều có thể tương thích ngược với WCDMA.

     

    Nói về khả năng triển khai WiMAX ở Việt Nam, ông Vũ Hoàng Liên, giám đốc VDC, một trong các đơn vị được VNPT giao triển khai dự án WiMAX cho biết:
    Đứng về mặt quản lý nhà nước, khó khăn thường liên quan đến tần số. Bộ BCVT rất có trách nhiệm và tích cực đối với vấn đề tần số; dù sao, cũng không thể cấp cho quá nhiều người. Khó khăn về dải tần sẽ hạn chế số nhà cung cấp dịch vụ. Đó là khó khăn chung và chúng tôi cũng phải đứng trước khó khăn này. Tiếp theo là vấn đề thiết bị, hiện thế giới cũng đưa ra một số dải tần nhất định, nhưng những sự lựa chọn này có thật sự đồng bộ với nhau không? Trong nước, chúng ta có quyền lựa chọn riêng, nhưng nếu lựa chọn không hợp với số đông những nhà sản xuất thế giới, đó sẽ là thiệt thòi và gây khó khăn trong tương lai. Ví dụ, tôi có thể lựa chọn ở Việt Nam dải tần này, nhưng nhà sản xuất thiết bị đầu cuối lại sản xuất đa số ở dải tần khác, thì chúng ta khó có thể phát triển. Nếu các nhà sản xuất trên thế giới không đạt được một thoả thuận cho một sự lựa chọn càng gần gũi nhau bao nhiêu càng tốt thì đó sẽ là khó khăn trong tương lai của chúng ta. Trước hết là khó khăn cho người dùng. Người dùng khó khăn tức là nhà cung cấp gặp khó khăn. Đó mới là trở ngại chính, còn những khó khăn mà người ta hay đề cập như trạm an-ten, giá cả cao, công nghệ đắt, vận hành thiết bị, trình độ... chỉ là chuyện muôn thủa. Về thời điểm cung cấp WiMAX, VDC muốn là cuối năm nay, nhưng thực tế có đạt được hay không thì còn phụ thuộc nhiều vấn đề khác: thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước, của Bộ BCVT cũng như các quy định về đầu tư... Với giai đoạn trước mắt, chủ yếu sẽ đáp ứng cho thiết bị cố định. Còn di động chắc cần phải thêm một thời gian nữa.

     

    WiMAX tương lai còn ở phía trước

    WiMAX (hay IEEE 802.16 - wireless microwave access - truy cập vô tuyến sóng cực ngắn), tiêu chuẩn kỹ thuật này sinh ra từ dòng 802.xx ngày một phát triển của IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers). Theo Diễn Đàn WiMAX (WiMAX Forum), 802.16 có thể dùng để kết nối những hotspot 802.11 và những mạng di động nội vùng (WLAN) với Internet, cung cấp kết nối trong khuôn viên các địa điểm công cộng; và giúp thực hiện các giải pháp di động thay thế cho cáp và DSL để truy cập băng rộng với dung lượng có thể lên tới 75Mbps, tầm phủ sóng cho kết nối điểm - điểm lên tới 20km. Năm 2004, WiMAX Forum công bố chuẩn hỗ trợ cố định (fixed WiMAX) 802.16d. Tiếp đó khả năng hỗ trợ tính di động của các thiết bị đầu cuối bổ sung với chuẩn 802.16e vừa được công bố vào cuối năm 2005. Chính vì vậy nó có thể vừa sử dụng cho mục đích truyền dẫn, vừa cho mục đích phủ sóng trên diện rộng. Đồng thời việc sử dụng giao thức Internet (IP) tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp đa dịch vụ trên cùng một thiết bị đầu cuối.

    Thực tế, đã có nhiều biến thể WiMAX như: 802.16a đáp ứng từ 2 đến 11GHz của những tần số có phép (2,5; 3,5 và 10,5 GHz) và không có phép (2,4 và 5,8 GHz); 802.16b nhắm vào những ứng dụng miễn giấy phép trong khoảng 5 đến 6 GHz (những băng U-NII); 802.16c cho thêm khả năng liên thông với những tần số khác (10 - 66 GHz); 802.16d đã được cải tên thành 802.16-2004, củng cố cho 802.16, 802.16c và 802.16a bằng một phần mở rộng của băng tần để bao gồm tất cả tần số dưới 2GHz; 802.16e tăng thêm những khả năng di động cho lớp kiểm soát truy cập media (media-access-controller).

    Tóm lại, WiMAX có 2 tiêu chuẩn, một dành cho sử dụng cố định, một cho di động:

    • Tiêu chuẩn cố định (802.16d) đã được IEEE chuẩn hoá vào năm 2004, có tốc độ đường truyền theo lý thuyết lên tới 30Mbps, bán kính phủ sóng từ 0,5 – 1,5 km. Theo công bố của Intel vào cuối năm 2005, đã có 13 nhà cung cấp dịch vụ trên toàn cầu hiện đang triển khai các hệ thống WiMAX cố định đầu tiên dựa trên các công nghệ của Intel. Những hệ thống mạng được triển khai này sẽ hỗ trợ một loạt mô hình sử dụng, từ các dịch vụ truy cập tốc độ cao cơ bản dành cho các gia đình tới điện thoại Internet, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ cho các trường học và văn phòng. Nhưng kết quả của việc triển khai WiMAX ra sao đến thời điểm hiện nay chúng tôi vẫn chưa thấy Intel hoặc ai đó nói tới.

    • Tiêu chuẩn di động (802.16e) của WiMAX vừa mới được chuẩn hoá vào tháng 2/2006 bởi IEEE. Thời gian trước đây Hàn Quốc đã khai trương một biến thể của WiMAX gọi là "WiBRO". "Họ đã lắp đặt một lượng thiết bị hạ tầng khổng lồ và khai trương mạng WiBRO. Nhưng hệ thống này đã không đạt được tốc độ 75Mbps cùng bán kính phủ sóng 20 km của WiMAX di động như trên lý thuyết", ông Jeffrey K.Belk, phó giám đốc cao cấp về tiếp thị của Qualcomm cho biết.

    Thực ra WiMAX lúc đầu được triển khai cho hệ thống kết nối giữa điểm truy cập WLAN và mạng băng rộng cố định và những kết nối chuyên dụng trong một hay nhiều điểm – WiMAX cố định. Phiên bản di động đang được định vị như là một công nghệ thay thế cho 3G. Đây là công nghệ mới, nên hiện chưa có sản phẩm hỗ trợ đầy đủ tính năng theo chuẩn 802.16e, vì vậy chưa có những kiểm chứng đầy đủ các tính năng như mô tả lý thuyết. Theo nhiều chuyên gia, kết quả thử nghiệm sơ bộ ở một số nơi trên thế giới cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa lý thuyết và thực tế về vùng phủ sóng, khả năng khắc phục vật cản... Tính tương thích ngược giữa chuẩn di động 802.16e và chuẩn cố định 802.16-2004 vẫn chưa được làm rõ. Các vấn đề trên gây khó khăn cho việc xác định một lộ trình triển khai hợp lý cũng như việc lựa chọn thiết bị kỹ thuật.

     

    MỘT SỐ BĂNG TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN THÔNG THƯỜNG

     
      • 450 MHz: điện thoại dịch vụ công cộng, một số dịch vụ ĐTDĐ cho vùng nông thôn.
    • 700 MHz: các băng UHF của TV tại Mỹ... dịch vụ di động tương lai.
    • 850 MHz: dịch vụ ĐTDĐ (gồm mạng di động diện rộng 3G, hoặc WWAN).
    • 900, 1700, 1800 MHz: dịch vụ ĐTDĐ.
    • 1900 MHz (1,9GHz), 2100 (2,1GHz): dịch vụ ĐTDĐ (gồm dịch vụ WWAN 3G).
    • 2,3GHz: phát thanh, truyền hình vệ tinh và nghiệp dư tại Mỹ.
    • 2,4GHz: Wi-Fi, không dây tại nhà, theo dõi trẻ em, lò vi ba, băng ISM không có giấy phép dành cho công nghiệp, khoa học và y học.
    • 2,5GHz -2,6GHz: được đề nghị cho WiMAX và các dịch vụ khác, băng mở rộng IMT-2000, BRS.
    • 3,4-3,6GHz: đề nghị cho WiMAX và các dịch vụ khác tại châu Âu và Trung Quốc; được chính phủ sử dụng cho địa điểm vô tuyến điện, hoặc vô tuyến điện không chuyên tại Mỹ.
    • 5,7GHz: "có giấy phép", Wi-Fi, ĐT không dây, sử dụng thương mại, đề nghị cho WiMAX (BWA cố định tại châu Âu).
     

    3G và WiMAX tại Việt Nam

    3G và WiMAX cái nào thiết thực hơn? Đề tài này ít nhiều đã được mọi người tranh luận và cả hoài nghi về tương lai của cả 3G lẫn WiMAX trong thời gian gần đây tại Việt Nam. "Vấn đề không phải là WiMAX hay 3G mà là chúng ta đang ngày càng tiếp cận được với các hình thức giao tiếp dữ liệu và thoại không dây tiên tiến nhất, đây là điều đáng mừng cho ngành CNTT-TT Việt Nam", một quan chức của Bộ Bưu Chính Viễn Thông đã nhận định.

    Hiện Việt Nam có 6 nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ, trên lý thuyết họ đều có thể triển khai 3G, nhưng tương lai rõ rệt nhất lại thuộc về S-Fone, EVN Telecom và sau này là Hanoi Telecom vì cả 3 tên tuổi này đều cung cấp dịch vụ trên nền tảng CDMA 2000. S-Fone và EVN Telecom còn đi một bước xa hơn là họ đã công bố rộng rãi việc thử nghiệm thành công CDMA2000 1xEV-DO (bước cuối cùng để triển khai 3G) và chính thức cung cấp dịch vụ vào quí III/2006. Tuy nhiên, bao giờ triển khai 3G thì cho đến thời điểm này chưa một quan chức nào của 6 nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ của Việt Nam nói tới.

    Về WiMAX, khi mà công nghệ này còn quá mới mẻ, ngay cả với thị trường Mỹ, thì tại Việt Nam, trong thời gian ngắn của quí I/2006, lần lượt 4 công ty đã được cấp phép thử nghiệm WiMAX là Viettel, VTC, VNPT và FPT Telecom. Một cán bộ thuộc Bộ Bưu Chính Viễn Thông bình luận: "Không có một quốc gia nào trên thế giới có nhiều công ty được cấp phép triển khai WiMAX đến như vậy".

    Nói về khả năng triển khai WiMAX tại Việt Nam, ông Lưu Vũ Hải, phó tổng giám đốc tổng công ty VTC cho biết: "Các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp đều nhận thức được những ưu điểm công nghệ, đồng thời thị trường dịch vụ kết nối Internet băng rộng vẫn còn hạn chế do những khó khăn trong việc triển khai mạng cáp trên diện rộng, nhất là tới những vùng mật độ dân cư không cao. Điều này tạo ra động lực thúc đẩy việc triển khai nhanh ứng dụng WiMAX ở Việt Nam". Ông Hải cũng cho biết thêm về khó khăn khi triển khai WiMAX là "Các băng tần phổ biến cho WiMax trên thế giới là 2,5GHz và 3,5GHz hiện tại không sử dụng được ở Việt Nam vì bị các dịch vụ khác chiếm giữ". Chia sẻ lo ngại về tần số dùng cho WiMAX với ông Hải, một cán bộ của Cục Tần Số Vô Tuyến Điện cho biết, nếu WiMAX được thử nghiệm thành công thì cũng không chắc Việt Nam sẽ có đủ tần số để các doanh nghiệp này triển khai thương mại.

    Một khó khăn khác của WiMAX là giá thiết bị đầu cuối hiện tại vẫn còn cao so với thu nhập bình quân của người dân. Tuy nhiên, với việc ngày càng nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới tập trung phát triển sản phẩm WiMax theo cùng một chuẩn, những khó khăn về kỹ thuật sẽ được giải quyết, đồng thời giá thiết bị đầu cuối cũng giảm dần với nhiều chủng loại phong phú sẽ thúc đẩy thị trường tiềm năng về WiMAX trong nước.

    Trong khi nói về tương lai của 3G và WiMax, ông Vũ Hoàng Liên, giám đốc công ty Điện Toán và Truyền Số Liệu (VDC) cho biết: "Nhiều người nghĩ WiMAX làm cho 3G có thể không ra đời được. Nhưng tôi nghĩ WiMAX ảnh hưởng đến bài toán đầu tư của các nhà cung cấp dịch vụ ĐTDĐ khi nghĩ đến đầu tư 3G. Có thể họ phải xác định lại bài toán đầu tư, xem đầu tư như thế nào, kinh doanh 3G như thế nào, chứ không phải là WiMAX "chặn cửa" 3G. Không nên nói vì WiMAX mà lưu lượng sử dụng 3G ít đi, hoặc vì nó mà 3G không thể ra đời. Mục tiêu của nhà kinh doanh cuối cùng là lợi nhuận, chứ không phải có lưu lượng nhiều là tốt. Có thể có lưu lượng nhiều nhưng càng nhiều càng lỗ hoặc lợi nhuận quá thấp."

    Như vậy, có thể nói, 3G đang được sẵn sàng tại Việt Nam, WiMAX còn gặp phải nhiều trở ngại vì đây là một công nghệ quá mới, và nếu có triển khai thực tế thì cũng sẽ là WiMAX cố định chứ chưa phải là WiMAX di động như một số phương tiện thông tin đại chúng tại Việt Nam nhầm tưởng trong thời gian qua.

    Nhật Bình – Nguyễn Hưng

    ID: A0604_88