• Thứ Tư, 17/01/2007 10:47 (GMT+7)

    Mobile TV Việt Nam: Thực tế và tương lai

    Việt Nam là nước đầu tiên tại châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới (sau Phần Lan) được Nokia triển khai dịch vụ truyền hình di động. Như vậy tính đến thời điểm này, Việt Nam đang là nước triển khai hai công nghệ truyền hình di động là 3G và DVB-H.

    Việt Nam là nước đầu tiên tại châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới (sau Phần Lan) được Nokia triển khai dịch vụ truyền hình di động (THDĐ). Như vậy tính đến thời điểm này, Việt Nam đang là nước triển khai hai công nghệ truyền hình di động là 3G và DVB-H.

    Đã có công nghệ truyền hình di động phổ biến

    Chụp ảnh hay nghe nhạc số di động, thiết bị lưu trữ dữ liệu số hay trợ giúp cá nhân số, tất cả những tính năng này đã và đang trở thành những tính năng cơ bản trên ĐTDĐ. Vậy tương lai của ĐTDĐ sẽ về đâu? Tất cả những chuyên gia hàng đầu về truyền thông di động trong và ngoài nước mà chúng tôi có dịp tiếp xúc đều cho rằng đó là truyền hình di động (THDĐ – Mobile TV), GPS (Global Positioning System - hệ thống định vị toàn cầu)... sẽ phát triển mạnh.

    Dù là mới (thực sự chỉ mới được cung cấp ở một vài quốc gia tiên tiến) nhưng dịch vụ truyền hình trên ĐTDĐ hiện đã có đến 4 chuẩn chính đang được các nhà khai thác cung cấp, gồm: truyền hình mặt đất DVB-H (Digital Video Broastcast - Handheld), truyền hình vệ tinh DMB (Digital Multimedia Broadcasting), Media- Flo và 3G (hoặc CDMA 2000 1x EV-DO). Hiểu nôm na là THDĐ hiện có 2 chiều hướng, một là xem truyền hình như bạn vẫn xem trên tivi ở nhà (công nghệ DVB-H và DMB) và vào mạng Internet xem tivi trên máy tính (Media- Flo và 3G). Nói một cách đơn giản, xét về kỹ thuật với công nghệ DVB-H và DMB chỉ cần có đài phát và thiết bị thu là có thể xem tivi, trong khi với Media- Flo và CDMA 2000 1x EV-DO thì người dùng phải phụ thuộc vào đường truyền dữ liệu (không phụ thuộc băng tần). Tại Việt Nam cả hai hình thức xem tivi nêu trên đều đã được triển khai: DVB-H của Nokia và VTC; CDMA 2000 1x EV-DO của S-Fone.

    DVB-H là chuẩn đang được một số quốc gia ở châu Âu triển khai, công nghệ này được xây dựng dựa trên chuẩn truyền hình số mặt đất DVB-T (Digital Video Broadcasting-Terrestrial). Vì vậy đặc điểm kỹ thuật của DVB-H giống như của DVB-T. Có 1 số tính năng tùy chọn được thêm vào DVB-H nhằm tăng tính linh hoạt của hệ thống (thêm băng tần kênh 5MHz chẳng hạn). Trong khi DVB-T được sản xuất chủ yếu để tiếp sóng qua anten, mạng DVB-H lại được thiết kế cho các thiết bị cầm tay tiếp nhận sóng ngay cả khi ở trong nhà. DVB-H cũng sử dụng các bộ mã hóa âm thanh hình ảnh tiên tiến như H.264, cho phép đến 50 kênh truyền hình hoặc dữ liệu có thể được truyền qua DVB-H multiplex.

    DVB-H đã được ETSI (European Telecommunication Standard Institute – Viện Tiêu Chuẩn Viễn Thông châu Âu) công nhận vào tháng 11/2004. Theo Nokia, ưu điểm của thiết bị này là tiết kiệm pin và có tính năng mạnh ngay cả trong môi trường tiếp nhận khó khăn; giúp tiết kiệm chi phí một cách hiệu quả trên các mạng truyền hình; có dung lượng băng tần rộng cho nội dung hình ảnh, âm thanh phong phú; sử dụng dải tần UHF, được toàn cầu sử dụng cho truyền hình.

    Ở 3G (hoặc CDMA 2000 1x EV-DO) việc truyền dữ liệu phụ thuộc vào tốc độ đường truyền của mạng di động, chính vì vậy 2G hay 2,5G không đủ mạnh để đáp ứng đòi hỏi đường truyền của dịch vụ này, do tín hiệu video yêu cầu băng thông kênh truyền tương đối lớn (khoảng vài trăm kbps). Với kỹ thuật này, mỗi thuê bao được cấp một kênh trao đổi thông tin trong tài nguyên của mạng điện thoại để trao đổi thông tin truyền hình. Chất lượng hình ảnh không phụ thuộc vào cự ly phát sóng của kênh truyền hình hay các vật che chắn (như truyền hình thông thường). Truyền hình theo cách này cũng không cần phải có tần số riêng. Kênh thông tin trên công nghệ truyền hình 3G có tính chất 2 chiều (tương tự như 1 kênh đàm thoại), nhưng là kênh truyền dữ liệu được trạm thu phát gốc (BTS) cấp cho thuê bao. Như vậy, mỗi thuê bao sẽ chiếm một phần tài nguyên thông tin của trạm BTS khi họ sử dụng dịch vụ, vì vậy sẽ hạn chế số người dùng cùng lúc. Khi lượng người dùng lớn, để có thể phục vụ tốt cho người sử dụng dịch vụ, bắt buộc nhà khai thác mạng phải nâng cấp hệ thống dẫn đến chi phí đầu tư sẽ tăng, cũng đồng nghĩa với phí dịch vụ cao.

     

    Nokia N92 được tích hợp công nghệ DVB-H với các các tính năng tiên tiến để hoạt động truyền thông: Tiếp nhận truyền hình trực tiếp; Khám phá kênh tự động; Thu lại các chương trình TV; Phát nhạc, đài FM có hình, âm thanh stereo chất lượng cao; máy ảnh 2 megapixel.

    Các tính năng này có thể thực hiện với các đặc điểm kỹ thuật của Nokia N92:
    • Máy DVB-H (470-702MHz)
    • Băng thông rộng kênh DVB-H 6, 7 và 8 MHz được hỗ trợ
    • PDC IRD loại B (H.264 AVC 384kbps, QVGA 15fps, QCIF 30fps và AAC lên đến 128kbps)
    • Hỗ trợ các dịch vụ tương tác
    • Bảo vệ nội dung và kênh: OMA DRM 2.0, IPSec

     

     

     

    • Hỗ trợ cho việc tiếp nhận dịch vụ 18Crypt
    • Màn hình màu lớn 2,8 inch, 16 triệu màu (QVGA độ phân giải 320x240)
    • Các kiểu gấp, xoay và đứng cùng với các phím truyền thông chuyên dụng
    • Lên đến 5 giờ xem, loa stereo, thẻ nhớ hỗ trợ đến 2GB

     

    Hiện trạng và triển vọng Mobile TV

    S-Fone – mạng ĐTDĐ CDMA đầu tiên của Việt Nam đã triển khai dịch vụ TV trên ĐTDĐ vào quí 4/2006. Sự kiện đã thu hút sự chú ý của đông đảo người dùng bởi những lợi ích cũng như tính di động của dịch vụ. Tuy nhiên tính đến thời điểm này, theo quan sát của chúng tôi, rất ít người sử dụng dịch vụ này. Những nguyên nhân khiến Mobile TV của S-Fone chưa phổ dụng tại Việt Nam có thể dễ dàng nhận thấy: chính sách cước chưa hợp lý với người dùng Việt Nam và cách tính cước quá phức tạp; chỉ có 1 model ĐTDĐ sử dụng được dịch vụ này; chất lượng đường truyền đôi khi không được tốt... Nhưng nguyên nhân chính có lẽ vẫn là giá cước, nhiều người dùng cho rằng với mức cước khoảng 5.000 đồng/phút như hiện nay thì Mobile TV sẽ còn quá xa vời. Thậm chí ngay cả việc S-Fone đã “cải thiện” mức cước này bằng cách phát hành gói cước dữ liệu (chỉ dùng cho dữ liệu không cho thoại) thì cước mobile TV của S-Fone là 1.200 đồng vẫn bị nhiều người cho là quá cao. Nhìn sang Hàn Quốc, một trong những quốc gia mà Mobile TV phổ dụng nhất toàn cầu (dùng công nghệ DMB), người dùng dịch vụ này của SK Telecom (một chủ sở hữu quan trọng của S-Fone) chỉ phải trả cước thuê bao 13 USD (khoảng 200.000 đồng) để xem truyền hình trong 1 tháng mà không phải trả bất cứ khoản tiền nào khác. Nếu so với kết quả 1 cuộc khảo sát được tiến hành bởi Nokia đối với người dùng châu Âu thì kết quả cho thấy 4,90 Euro (cũng khoảng 200.000 đồng) là mức giá mà đa số người được hỏi cho là hợp lý.

    Ngoài S-Fone đã chính thức thương mại hóa Mobile TV, tại sự kiện mang tên “Tầm nhìn lãnh đạo trong kỷ nguyên truyền thông đa phương tiện” diễn ra vào giữa tháng 12/2006 tại Hà Nội, Nokia và Vietnam Multimedia Corporation (VTC) đã một lần nữa nhắc lại thỏa thuận hợp tác nhằm cung cấp các dịch vụ truyền hình di động băng thông rộng dựa trên công nghệ DVB-H tại Việt Nam. Cần phải nói thêm là sự hợp tác này cũng đã được truyền thông trong nước nhắc đến nhiều trong nửa cuối năm 2006. Đây là thỏa thuận thương mại đầu tiên của Nokia về việc giới thiệu chính thức dịch vụ truyền hình di động tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng là một trong những thỏa thuận thương mại đầu tiên của Nokia trên toàn cầu. Vậy tại sao không phải là quốc gia khác mà lại là Việt Nam, một quan chức của Nokia cho biết, họ nhận được sự khích lệ của chính phủ Việt Nam trong vấn đề này.

    Theo thỏa thuận, VTC sẽ cung cấp các dịch vụ xem truyền hình trả tiền cho người tiêu dùng tại Việt Nam, người dùng ĐTDĐ của Nokia có thể xem được bảy kênh truyền hình số cũng như dịch vụ video theo yêu cầu. Ông Lê Đoàn Quân, giám đốc công ty truyền hình di động VTC cho biết: “Giải pháp nền tảng công nghệ mở được Nokia cung cấp phù hợp với quan điểm của VTC về gia tăng lựa chọn và sự tham gia của người tiêu dùng và các nhà cung cấp công nghệ khác. Nokia sử dụng OMA DRM để bảo vệ việc chuyển tải dịch vụ và nội dung, cho phép nhiều khả năng bổ sung khác như chuyển tải nhạc chuông, logo, âm nhạc, clip video, trò chơi và các ứng dụng file lớn ngoài các chương trình truyền hình thông thường. Điều này cung cấp cho VTC một nền tảng hiệu quả về chi phí và bảo đảm cho tương lai để thúc đẩy sự phát triển hệ thống kinh tế đa truyền thông sôi động tại Việt Nam”.

    Tuy nhiên, đến thời điểm này, câu hỏi bao giờ chính thức công bố thương mại hoá dịch vụ được các bên liên quan trả lời khá khác nhau, thậm chí nhiều người cho rằng dịch vụ đã được phát sóng. Nhưng điều mà chúng tôi có thể biết được là chiếc ĐTDĐ Nokia N92, sản phẩm duy nhất để có thể xem mobile TV chuẩn DVB-H, vào thời điểm hiện nay vẫn chưa được bán chính thức tại Việt Nam và chưa thấy Nokia đưa ra thời điểm công bố sản phẩm này.

    Như vậy, một dịch vụ cao cấp (ngay cả với các nước tiên tiến) là Mobile TV đã được cung cấp cũng như thử nghiệm tại Việt Nam, điều này cho phép người dùng trong nước có điều kiện tiếp xúc ngày càng nhiều hơn với các dịch vụ hữu ích. Tuy nhiên để dịch vụ này hoàn thiện thì các nhà khai thác cần phải làm nhiều hơn nữa thì Mobile TV mới hy vọng có được sự phổ biến rộng rãi.

     

    CÁC CUỘC THỬ NGHIỆM VỚI KẾT QUẢ KHẢ QUAN
    Tại Helsinki, truyền hình di động Phần Lan đã tung ra thử nghiệm thương mại đầu tiên cho các dịch vụ DVB-H từ tháng 3 đến tháng 6/2005. Một phần của cuộc thử nghiệm là 500 người tham gia truy cập dịch vụ truyền hình với điện thoại di động Nokia 7710. Các đối tác dự án bao gồm Nokia chịu trách nhiệm về mặt công nghệ, các công ty phát sóng truyền hình công cộng và tư nhân YLE, MTV3 và TV4 chịu trách nhiệm về nội dung, 2 công ty viễn thông chính Elisa và TeliaSonera, nhà điều hành mạng truyền hình chính là Digita. Cuộc thử nghiệm này thu thập được các thông tin sau:
    THDĐ rõ ràng là một dịch vụ thú vị mới, hơn một nửa số người tham gia thử nghiệm tin rằng công nghệ này có tiềm năng phát triển trong tương lai.
    • 41% những người tham gia thử nghiệm là khách hàng tiềm năng của các dịch vụ THDĐ tương lai.
    • THDĐ có vai trò như giải trí di động, người dùng có thể xem thể thao và tin tức bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.
    • 3 tình huống sử dụng phổ biến nhất: khi di chuyển bằng phương tiện công cộng, tại nhà hoặc ở công sở.
    • Phí cố định hàng tháng là mô hình giá cả được chấp nhận nhiều nhất (bổ sung dịch vụ xem gì trả nấy).
    • Những người tham gia thử nghiệm phải trả phí hàng tháng là 4,90 Euro cho dịch vụ THDĐ.
    • 4,90 Euro là mức giá hợp lý; một nửa những người tham gia thử nghiệm không nghĩ rằng phí 10 Euro/tháng là quá đắt.
    Các nhà phân tích dự đoán vào năm 2010 sẽ có trên 74 triệu người trên toàn cầu sử dụng THDĐ với công nghệ DVB-H.
    N.B (theo Nokia)

     

    Nhật Bình

    ID: A0701_76