• Thứ Ba, 20/05/2014 07:17 (GMT+7)

    Những máy ảnh số có tầm ảnh hưởng quan trọng - Phần 1

    Hoàng Anh
    Những máy ảnh số đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiếp ảnh kĩ thuật số và định hình dòng sản phẩm mà chúng ta đang sử dụng ngày nay.

    Vào đầu những năm 80 khi mà máy ảnh số bắt đầu xuất hiện trên thị trường tiêu dùng thì đã có nhiều tranh luận liệu dòng sản phẩm này có thể thay thế được máy ảnh phim. Và đến thời điểm hiện tại qua một chặng đường khá dài, máy ảnh số với sự vượt trội của công nghệ đã gần như loại bỏ hoàn toàn máy ảnh phim ra khỏi thị trường tiêu dùng. Máy ảnh số bây giờ đã được ứng dụng vào nhiều phân khúc từ thiết bị di động cho đến các thiết bị chuyên dụng trên tàu vũ trụ.

    Dưới đây là các máy ảnh kĩ thuật số đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiếp ảnh kĩ thuật số và định hình dòng sản phẩm mà chúng ta đang sử dụng ngày nay.

    Sony Mavica (1981)

    Sony Mavica (Magnetic Video Camera) là máy ảnh kĩ thuật số đầu tiên xuất hiện trên thị trường tiêu dùng. Và sản phẩm này đã gợi mở một tương lai sáng lạng cho máy ảnh số khi bắt đầu loại bỏ phim. Máy này dựa trên công nghệ truyền hình analog để chụp ảnh.

    Sony Mavica

    Về bản chất thì các Mavica ban đầu không phải là một máy ảnh kĩ thuật số bởi vì nó được sản xuất để phục vụ làm video, nhưng đi kèm đó là việc tạo ra các hình ảnh điện tử và được lưu trữ vào đĩa mềm 2-inch có tên là Mavipacks. Ảnh của Mavica có độ phân giải tương đương màn hình TV là 570x490pixel. Các điểm ảnh của Mavica được tạo ra từ tín hiệu video tương tự trong các định dạng NTSC. Những hình ảnh tạo ra được xem trên màn hình truyền hình. Có ba ống kính hoán đổi sẵn cho Mavica: ống kính 25mm f/2, 50mm f/1.4 và ống kính zoom 16-64mm f/1.4.

    Logitech Fotoman (1990)

    Máy ảnh kỹ thuật số Logitech FotoMan hay còn gọi là Dycam Model 1, được phát triển bởi Logitech Thụy Sĩ, năm 1990 và là máy ảnh kĩ thuật số đích thực được bán ra cho người dùng cá nhân. Trước đó tại Photokina năm 1988 thì Fuji đã giới thiệu một máy ảnh kĩ thuật số khác là Fuji Fujix DS-1P nhưng sản phẩm này không xuất hiện trên thị trường.

    Fotoman

    Máy ảnh Fotoman chụp ảnh đơn sắc độ phân giải 320x240 pixel và có thể lưu trữ 32 hình ảnh vào 1MB bộ nhớ trong. Giá của máy ảnh này vào năm 1990 là khoảng 600 USD và , khách hàng chủ yếu là những nhà kinh doanh bất động sản và bảo hiểm.

    Kodak DCS 100 (1991)

    Đây là máy ảnh kĩ thuật số SLR đầu tiên bán ra thị trường người tiêu dùng và chủ yếu nhắm vào các phóng viên ảnh. DCS 100 với thân máy là của Nikon F3 và sử dụng cảm biến CCD 1.3MP kích thước 20,5x16,4mm của Kodak với một dải lọc màu phát minh bởi Bryce Bayer. Cảm biến nhỏ của DCS 100 có nghĩa là chiều dài tiêu cự có độ phóng đại khoảng 2,86, ví dụ khi quy đổi ra chuẩn 35mm thì việc sử dụng ống kính tiêu cự 28mm sẽ trở thành 80mm.

    Kodak DCS 100

    Giá thành vào khoảng 30 ngàn USD và kèm theo đó người chụp cần phải có một thiết bị lưu trữ riêng Digital Storage Unit- gắn trên dây đeo ở vai, kết nối thông qua cáp. Thiết bị này chứa bộ nhớ, pin và một màn hình xem lại ảnh.

    Trong quãng thời gian khá dài là từ năm 1991 đến năm 1999 cũng xuất hiện nhiều thế hệ máy ảnh số ấn tượng như máy ảnh định dạng medium và large-format Leaf Digital Camera Back I, Fuji DS-200F sử dụng bộ nhớ flash dạng rắn hay Kyocera VP-210- hiện thực hóa giấc mơ máy ảnh tích hợp trên thiết bị di động… Tuy nhiên tất cả mọi thứ về máy ảnh số thời điểm này đang trong quá trình hoàn thiện.

    Nikon D1 (1999)

    Nikon D1 là máy ảnh kĩ thuật số DSLR đầu tiên được tích hợp các công nghệ hoàn thiện. Và đây cũng chính là lúc máy ảnh số thách thức các máy ảnh SRL chụp phim chuyên nghiệp. Nikon D1 có thiết kế tương tự như máy phim SLR Nikon F5, hệ thống hoạt động, điều khiển đều có tính năng giống nhau. Hệ thống lấy nét rất nhanh, tốc độ chụp liên tiếp đạt 4,5fps và ưu điểm của D1 là có thể tương thích với toàn bộ ống kính Nikon F-mount kể cả các loại sản xuất từ những năm 70, 80.

    Nikon D1

    Nikon D1 sử dụng cảm biến CCD 2,7 Megapixel kích thước 23,7 × 16mm, có nghĩa là độ phóng đại tiêu cự là 1,5x- đây cũng chính là độ phóng đại phổ biến của các dòng máy ảnh số sau này. Nikon D1 chưa đến 5.000 USD đã tạo nên cuộc cách mạng giá cả của một chiếc máy DSLR và cho chất lượng ảnh, hoàn thiện và hiệu năng đáp ứng được nhu cầu của những phóng viên ảnh chuyên nghiệp. Vào những năm kế tiếp là sự ra mắt các dòng máy DSLR bán chuyên nghiệp đáng chú ý như Fujifilm Finepix S1 Pro, Olympus E-10 vào năm 2000.

    Canon EOS 300D (2003)

    Canon EOS 300D hay Canon EOS Digital Rebel là dòng máy ảnh kĩ thuật số thương mại đầu tiên có giá bán lẻ dưới 1.000 USD bao gồm cả ống kit. Đây được xem là lúc cuộc cách mạng kĩ thuật số trong nhiếp ảnh thực sự bắt đầu.

    Canon EOS 300D

    Thời điểm 2003 thì số tiền 1.000 USD vẫn còn khá lớn nhưng Canon EOS 300D đã lôi kéo rất nhiều tay máy bán chuyên chuyển từ chụp phim sang định dạng số. EOS 300D sử dụng cảm biến 6,3 Megapixel, định dạng CMOS APS-C (22,7 × 15,1mm), hệ thống lấy nét 7-point và bộ xử lý Digic cho phép tốc độ chụp liên tục tối đa 2,5fps, dải ISO đạt từ 100-1600. Ảnh chụp được lưu trữ trên thẻ nhớ CompactFlash và 300D được trang bị màn hình LCD 1,8-inch độ phân giải 118.000-dot .

    Olympus E-1 (2003)

    Olympus E-1 được đánh giá là mẫu máy nền tảng dành cho nhiếp ảnh số. E1 cũng là máy ảnh đầu tiên giới thiệu định dạng cảm biến Foủr Thirds (4:3) đồng thời tạo ra một tiêu chuẩn mở khuyến khích các nhà sản xuất khác cùng tham gia. Các đối tác công nghệ của Olympus tại thời điểm đó bao gồm Sanyo, Kodak, Fujifilm, Panasonic Sigma và Leica đã có những kí kết hợp tác nhưng chỉ Panasonic và Leica đã đi vào sản xuất máy ảnh. Ngoài ra Sigma cũng giới thiệt một vài ống kinh hỗ trợ định dạng máy ảnh Four Thirds này.

    Olympus E-1

    Một trong những lợi thế quan trọng của hệ thống Four Thirds là ống kính và thân máy có thể nhỏ hơn so với dòng máy SLR nhờ cảm biến định dạng 4:3 CCD, kích thước 18 x 13,5mm. Cảm biến này nhỏ nên có độ phóng đại tiêu cự là 2x, con số này tốt cho tele nhưng gây phiền toái với nhiếp ảnh góc rộng. Cảm biến CCD được làm sạch bằng phương pháp lọc sóng siêu âm Supersonic Wave Filter. Phương pháp này hoạt động bằng cách kích thích cho CCD rung liên tục với tốc độ cao khiến bụi bẩn rơi xuống một chất liệu mềm được thiết kế để hút bụi bẩn.

    Canon EOS 5D (2005)

    Canon EOS 5D là máy ảnh DSLR full-frame đầu tiên dành cho giới bán chuyên nghiệp- những người đam mê nhiếp ảnh. EOS 5D không tích hợp grip nên nhỏ gọn hơn hầu hết máy ảnh số full-frame trước đó. Máy ảnh số này với sự kết hợp giữa giá thành thấp, khả năng xử lý mạnh mẽ và chất lượng hình ảnh cao đã tạo ra bước đột phá mới trong làng nhiếp ảnh.

    Canon EOS 5D

    EOS 5D sử dụng cảm biến CMOS 12,8Mp, kích thước 35,8 × 23,9mm và bộ xử lý Digic II cho phép tốc độ chụp liên tục tối đa đạt 3fps và phạm vi độ nhạy sáng ISO 100-1600. EOS 5D đã được chọn là “chiếc camera của năm 2005” thống lĩnh phân khúc bán chuyên nghiệp cho đến năm 2008  trước khi Nikon, Sony ra mắt D700 và Alpha 900.