• Thứ Sáu, 25/06/2010 15:18 (GMT+7)

    BSA công bố tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm 2009: Một đánh giá thiếu công bằng!

    Tân Khoa
    Khảo sát của Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) và Công ty Dữ liệu Quốc tế (IDC) cho thấy tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm (BQPM) của Việt Nam năm 2009 vẫn ở mức 85% như các năm 2008 và 2007. Kết quả khảo sát này là sự đánh giá thiếu công bằng khi Việt Nam đã cố gắng sử dụng các phần mềm (PM) có bản quyền.

    Sau khi nhận được thông tin này, Hội Tin học Việt Nam (VAIP) đã tổ chức ngay một cuộc tọa đàm vào ngày 7/5/2010. Ông Lê Hồng Hà, Phó Chủ tịch VAIP cho rằng, việc 2 tổ chức BSA và IDC không “đếm xỉa” gì tới PM mã nguồn mở là một sai lầm tai hại, có thể ảnh hưởng đến tính chính xác của báo cáo. Ông Hà cũng cho rằng cách tính tỷ lệ phần mềm trung bình cài trên mỗi máy tính áp dụng đồng đều cho tất cả các quốc gia là không thực tế.

    Ông Bùi Hữu Cư, Chủ tịch CLB Doanh nghiệp Tin học Hà Nội, nơi đại diện cho 50 công ty bán lẻ máy tính trên địa bàn đã ước tính số máy tính nhập khẩu cài sẵn PM Microsoft có bản quyền là khoảng 70-80%. Số còn lại được cung cấp sẵn PM nguồn mở Linux. Nhiều công ty bán lẻ và lắp ráp máy tính tại Hà Nội cũng chủ động mua các PM ứng dụng (có bản quyền) với giá ưu đãi để cài sẵn trong số máy tính được bán ra thị trường.

    “Có thể nói, gần như 100% máy tính xách tay bán ra ở Việt Nam đã được cài sẵn PM diệt virus có bản quyền”, ông Bùi Hữu Cư nhấn mạnh. Hầu hết các đối tượng sử dụng bản quyền từ cơ quan chính quyền, khối giáo dục, các doanh nghiệp đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong vài năm gần đây. Cụ thể, Chính phủ đã tiên phong mua BQPM văn phòng của Microsoft, nhiều doanh nghiệp cũng đã tôn trọng bản quyền. Các công ty bán lẻ máy tính cho rằng hầu hết máy tính bán ra hiện nay đều có phần mềm Microsoft có bản quyền hoặc PM nguồn mở. Từ những phân tích trên, VAIP khẳng định tỷ lệ vi phạm BQPM ở Việt Nam trong năm vừa qua chắc chắn sẽ phải giảm so với 2008, không thể là 85%!


    Một lễ ký kết mua BQPM tại Việt Nam
    Các ý kiến góp ý trong tọa đàm này đã được VAIP tổng hợp để kiến nghị lên Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm phản biện lại báo cáo của BSA và IDC, để qua đó họ có đánh giá sát thực tế hơn. Chính phủ qua đó cũng cần nghiên cứu đánh giá về vấn đề tôn trọng bản quyền phần mềm của riêng mình để có số liệu chính xác và đầy đủ.

    Ông Nguyễn Trọng Đường, Vụ trưởng Vụ CNTT của Bộ TTTT đã hỏi BSA về cách thức đánh giá để đưa ra con số 85%. BSA cho biết họ lấy mẫu và hỏi người dùng cài những PM gì trên máy tính; sau đó hỏi nhà cung cấp các PM đó bán được bao nhiêu giấy phép; từ đó suy ra khoảng bao nhiêu người sử dụng PM và bao nhiêu phần trăm có bản quyền, sau đó họ đưa làm con số tỷ lệ.

    Ông Đường chất vấn BSA: Chắc chắn phải có biến động lên hoặc xuống, chứ không thể nào 3 năm liên tiếp lấy mẫu như vậy mà lúc nào cũng cho ra kết quả 85%. Câu hỏi này BSA không trả lời được. Với cách thức tính như vậy, kết quả của BSA không đáng tin cậy.

    Theo đúng lộ trình đã định, ngày 11/5/2010 tại Hà Nội, BSA đã công bố báo cáo vi phạm BQPM toàn cầu năm 2009 và BSA vẫn khẳng định lại các số liệu về Việt Nam. Tỷ lệ vi phạm BQPM của Việt Nam vẫn không thay đổi sau 3 năm, giữ mức 85% mặc dù đầu tư cho BQPM đã tăng lên 62 triệu USD trong năm 2009 so với 45 triệu USD của năm trước đó.

    Ông Đào Anh Tuấn, người phát ngôn của BSA tại Việt Nam cho biết: Việt Nam tuy đã có những tiến bộ đáng kể nhưng tình trạng vi phạm BQPM tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như ở người dùng cá thể và các đại lý Internet vẫn đáng ngại. Nguyên nhân là mức tiêu thụ máy tính tăng trưởng mạnh ở nhóm người tiêu dùng cá nhân trong năm 2009, tăng 52% so với năm 2008. Một số báo chí đã đề nghị đại diện BSA trả lời những bất cập về phương pháp tính vi phạm BQPM trong báo cáo của họ như VAIP đã từng chỉ ra, nhưng chưa nhận được phản hồi.

    Rất tiếc, các cơ quan nhà nước hay tổ chức xã hội nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và ngay cả các chuyên gia sở hữu trí tuệ với tư cách cá nhân cũng chưa thấy ai lên tiếng (!). Theo ông Nguyễn Long, Tổng thư ký VAIP, những tổ chức xã hội nghề nghiệp như VAIP có thể phối hợp với nhau xây dựng cách tính độc lập để đưa ra con số về tỷ lệ sử dụng BQPM của Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần có sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý nhà nước với số liệu tổng kết của các chương trình sử dụng PM có bản quyền hay PM nguồn mở hiện nay. Không hy vọng có được những con số mang tính tuyệt đối, nhưng đó là cơ sở để tính toán và đưa ra bức tranh toàn diện, đánh giá mức độ và nỗ lực của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Nam trong việc sử dụng BQPM

    ID: B1006_8