• Thứ Sáu, 18/04/2014 07:52 (GMT+7)

    Google Glass xâm nhập lĩnh vực chăm sóc y tế

    Huy Thắng
    Các bác sĩ tại bệnh viện Beth Israel (Mỹ) đã được huấn luyện và trải qua một chương trình thí điểm từ tháng 12/2013 nhằm sử dụng Google Glass để kết nối thông tin của bệnh nhân.

    Khi một bác sĩ phòng cấp cứu đến thăm khám một bệnh nhân, ông liếc nhìn một mã QR trên cửa phòng của bệnh nhân và ngay lập tức có thể xem lịch sử y tế của bệnh nhân cùng các ghi chú trước đó của y tá. Bác sĩ có thể nhìn thấy thông tin được truy cập trên Google Glass mà không bao giờ rời mắt khỏi các bệnh nhân, có thể tiếp tục khám hay thực hiện phẫu thuật giúp cứu sống bệnh nhân.

    Đây không phải là một kịch bản mơ ước đối với các bác sĩ tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center ở Boston (Mỹ). Bác sĩ khoa cấp cứu của bệnh viện này đã trải qua bốn tháng của một chương trình thí điểm, trong đó họ được sử dụng mẫu kính đeo mắt thông minh của Google để giúp điều trị cho bệnh nhân.

    Thiết bị điện toán công nghệ đeo này của Google tuy vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm và chưa được thương mại hóa, nhưng nó đang giúp các bác sĩ có thể kết nối với bệnh nhân của mình bằng cách truy cập các thông tin mà họ cần để điều trị cho bệnh nhân một cách nhanh chóng.

    Tiến sĩ Steve Horng cho biết ông giao tiếp với Google Glass bằng lệnh giọng nói, nhưng vẫn có thể sử dụng khả năng cảm ứng của thiết bị.
    Thách thức lớn nhất đối với lĩnh vực CNTT trong ngành y tế luôn luôn là vấn đề cung cấp thông tin chính xác đến đúng người vào đúng thời điểm, Tiến sĩ Steven Horng, một bác sĩ cấp cứu và trợ lý giám đốc khoa cấp cứu của bệnh viện Beth Israel cho biết. "Chúng tôi cần tương tác rất nhiều để kết nối với bệnh nhân và làm cho họ cảm thấy thoải mái. Chúng tôi càng có thể duy trì giao tiếp bằng mắt và những cuộc trò chuyện nhiều hơn, bệnh nhân càng cảm thấy tốt hơn. Google Glass đã giúp chúng tôi làm điều đó". Google Glass sẽ đem lại dữ liệu cho các bác sĩ thay vì các bác sĩ phải đi tìm dữ liệu.

    Patrick Moorhead, một nhà phân tích của Moor Insights & Strategy, cho biết ông nhìn thấy một tương lai lớn cho các thiết bị điện toán công nghệ đeo trong lĩnh vực chăm sóc y tế. "Các thiết bị đeo, chẳng hạn như Google Glass, nếu được thực hiện một cách chính xác trong lĩnh vực cấp cứu có thể là một bước đột phá cho các bệnh nhân và nhân viên bệnh viện", ông Moorhead cho biết. "Nó sẽ giúp tiết kiệm thời gian và làm cho các bác sĩ tập trung hơn vào bệnh nhân hơn thay vì tập trung vào máy tính để tìm kiếm dữ liệu".

    Beth Israel là một bệnh viện có nhiệm vụ giảng dạy đồng thời hiện xử lý chữa trị 75% của một triệu lượt bệnh nhân mỗi năm tại Mỹ. Bệnh viện này đã được chạy một chương trình thí điểm với mẫu kính thông minh Google Glass kể từ tháng 12 năm ngoái.

    Chương trình bắt đầu với hai bác sĩ Khoa cấp cứu chia sẻ sử dụng 4 cặp kính Google Glass. Tuần trước, bệnh viện đã mở rộng chương trình bao gồm tổng cộng 10 bác sĩ. Chương trình tiếp theo có thể sẽ mở rộng đến Khoa tim mạch và Khoa phẫu thuật, tuy nhiên trọng tâm của chương trình này hoàn toàn là vào Khoa cấp cứu trong 6 tháng đầu tiên, theo John Halamka, một bác sĩ đồng thời là Giám đốc CNTT tại Beth Israel.

    Halamka cho biết, 10 năm trước ông đã tưởng tượng một thiết bị mà các bác sĩ có thể sử dụng để cung cấp cho họ các thông tin quan trọng của bệnh nhân, chẳng hạn như lịch sử y tế, phim chụp X-quang, danh sách thuốc, ghi chú của y tá, các báo cáo phòng thí nghiệm,… trong khi vẫn có thể tương tác với các bệnh nhân.

    Trước khi có Google Glass với một màn hình nhỏ đặt trên mắt phải của người dùng, các bác sĩ tại bệnh viện đã sử dụng iPad của Apple khi thăm khám bệnh nhân. Mặc dù vậy, việc sử dụng máy tính bảng có những vấn đề riêng. Các bác sĩ phải liên tục nhìn xuống vào chiếc iPad để có được những thông tin y tế cần thiết và sẽ thỉnh thoảng quên nhìn bệnh nhân, phá vỡ giao tiếp bằng mắt với bệnh nhân. Đồng thời do phải cầm thiết bị trên tay, các bác sĩ sẽ phải liên tục làm vệ sinh iPad sau khi sử dụng.

    "Trong công việc hàng ngày, chúng tôi thường phải gặp nhiều bệnh nhân nói rằng họ không nhớ liều lượng của một loại thuốc hoặc không thể nhớ họ đã chích ngừa uốn ván hay chưa", Tiến sĩ Horng cho biết. "Đối với chúng tôi, điều đó có nghĩa là chúng tôi phải rời khỏi phòng và tìm kiếm các thông tin đó thay vì được thực sự tiếp tục nói chuyện với bệnh nhân. Thậm chí nếu có một máy tính trong phòng, chúng tôi phải mất thời gian bật máy tính và đăng nhập, khi đó thường là chúng tôi phải quay lưng lại với bệnh nhân".

    Đối với bệnh viện Beth Israel, Google Glass là một cách để chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. Bên cạnh đó, bác sĩ ở các bệnh viện khác cũng quan tâm đến dự án mắt kính số hóa này. Halamka cho biết, ông nhận được khoảng 20 yêu cầu mỗi ngày từ các tổ chức chăm sóc y tế khác muốn tìm kiếm thông tin về chương trình thí điểm kính Google Glass này. Khoa phẫu thuật tại Trung tâm y tế UC Irvine Medical Center ở Orange, California (Mỹ) là một ví dụ. Khoa này cũng đang sử dụng Google Glass và các ứng dụng tùy biến để truyền trực tuyến âm thanh và hình ảnh, giúp bác sĩ giám sát bệnh nhân trong khi phẫu thuật.

    Các bác sĩ cũng đang xem xét một chương trình mà khi y tá đến thăm bệnh nhân cũng có thể sử dụng kính Google Glass, cho phép các bác sĩ trong bệnh viện có thể xem bệnh nhân và nhận được quan sát thời gian thực của y tá.

    Tiến sĩ Steve Horng nhìn vào một mã QR qua Google Glass để lấy thông tin bệnh nhân tại Bệnh viện Beth Israel.
    Theo ông Ryan Junee, đồng sáng lập của tổ chức Wearable Intelligence có trụ sở tại San Francisco (Mỹ) và cũng là công ty tích hợp các ứng dụng Android cho chương trình thí điểm Google Glass của Beth Israel, họ đang đàm phán với rất nhiều các bệnh viện hàng đầu ở Mỹ về việc tích hợp phần mềm cho các thiết bị đeo. Tuy nhiên, ông Junee không cho biết cụ thể có bao nhiêu bệnh viện cũng như không cho biết bệnh viện nào đã đồng ý hợp tác với họ.

    Wearable Intelligence là một tổ chức đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc đưa thiết bị Google Glass vào sử dụng cho các bác sĩ phòng cấp cứu tại Beth Israel, mà còn trong việc đưa ra các thiết bị phù hợp với bệnh viện và sự riêng tư cùng các quy định bảo mật.

    Bác sĩ John Halamka cho biết, hầu hết các ứng dụng đi kèm với Google Glass đã được gỡ bỏ khỏi thiết bị. Ví dụ, các bác sĩ không thể sử dụng kính để chụp ảnh hoặc quay video do lo ngại rằng những hình ảnh sẽ được chia sẻ và vi phạm sự riêng tư của bệnh nhân. Các bác sĩ cũng không thể sử dụng kính để lên mạng xã hội hoặc đọc email. Các bác sĩ chủ yếu vận hành thiết bị bằng lệnh thoại nhưng thiết bị vẫn được giữ lại tính năng cảm ứng như một phương án dự phòng.

    Bệnh viện Beth Israel cũng đảm bảo rằng thông tin bệnh nhân, chẳng hạn như hồ sơ y tế hoặc danh sách thuốc, không được lưu trữ cục bộ trên kính. Các bác sĩ chỉ có thể truy cập thông tin được lưu trữ trên các máy chủ bảo mật của bệnh viện. Để mức độ bảo mật chặt chẽ hơn, Halamka và nhóm của ông thiết lập kính để chỉ có những bác sĩ cụ thể mới có thể sử dụng thiết bị và họ chỉ có thể sử dụng nó trong phòng cấp cứu. Nếu bạn mang nó bên ngoài Beth Israel, nó sẽ không hoạt động Nó dùng để liên kết với mạng nội bộ của chúng tôi như là một thiết bị bảo mật.

    Ông nói thêm rằng, mỗi bác sĩ trong chương trình có một mã số người dùng cụ thể. Các bác sĩ đeo kính lên và nhìn vào huy hiệu ID riêng của mình để thiết bị nhận ra rằng đó là một người sử dụng được chấp nhận.

    Khi bệnh nhân nhập viện vào phòng cấp cứu, bác sĩ được phân công vào một phòng cụ thể. Mỗi phòng đều có một mã QR gần cửa ra vào, vì vậy khi đến phòng một bệnh nhân mới, bác sĩ chỉ cần nhìn vào mã QR và kính Google Glass sẽ nhận ra bệnh nhân và lấy thông tin y tế của người đó. Nhờ các mã số phòng, Google Glass cũng sẽ cho biết nơi mà bác sĩ điều trị của phòng đang ở đâu. Nếu bạn bị mất Google Glass, dữ liệu không có trên chúng, bác sĩ Halamka lưu ý. Nếu không có mặt trong phòng cấp cứu với một huy hiệu, bạn không thể sử dụng thiết bị để lấy thông tin.

    Tiến sĩ Horng nói rằng, có một số thách thức kỹ thuật đối với Google Glass khi sử dụng trong bệnh viện. Vấn đề lớn nhất là hạn chế pin cho một thiết bị mà màn hình của nó luôn phải hoạt động. Để giải quyết vấn đề này, một thỏi pin gắn ngoài đã được bổ sung nhằm kéo dài thời gian sử dụng cho kính hơn 14 giờ, vốn là khoảng thời gian mà các bác sĩ cấp cứu thường phải thực hiện một ca phẫu thuật bình thường. Pin gắn ngoài này kết nối với kính thông qua một cáp micro USB và có thể được bỏ gọn trong túi áo của bác sĩ.

    Cả hai bác sĩ Halamka và Horng cho biết rằng, trong chương trình thí điểm này, không có bệnh nhân nào yêu cầu các bác sĩ không sử dụng Google Glass khi điều trị họ. "Chúng tôi cho rằng một số bệnh nhân có thể nghĩ rằng thiết bị Google Glass sẽ gây bất lợi cho họ. Nhưng họ đang tò mò về nó và biết ơn rằng chúng tôi có cách tiếp cận tốt hơn với thông tin y tế của họ", Tiến sĩ Horng nói. "Một khi chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện về việc đã vô hiệu hóa tính năng chụp ảnh và các tính năng khác có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư, mọi người rất thoải mái với nó".

    Ông Horng cũng thừa nhận rằng, kính Google Glass cho đến nay đã giúp ông cứu sống ít nhất một bệnh nhân. Vì bác sĩ có thể nhanh chóng truy cập hồ sơ mà không cần dừng lại việc cứu chữa với bệnh nhân, ông Horng cho biết bệnh nhân không chỉ sống sót mà còn tiến triển khá tốt.