• Thứ Năm, 05/01/2012 15:25 (GMT+7)

    Tăng chất cho dự án CNTT

    Nguyễn Tuấn Hoa
    Vào mỗi năm, các địa phương đều cần tuyển chọn dự án theo yêu cầu phát triển. Nhưng số dự án đề xuất còn ít, chưa nói đến chất lượng. Sau đây là đề xuất cách làm mới...
     

    Cứ vào khoảng tháng 10 – 11 hàng năm, các tỉnh, thành phố tổ chức họp để tuyển chọn các dự án ứng dụng CNTT cho năm sau. Thông thường, các địa phương thông báo trước yêu cầu để các tổ chức, đơn vị (trường đại học, viện – trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp…) gửi những đề xuất của mình theo mẫu quy định (mẫu đăng ký dự án triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật).

    Theo bối cảnh chung, một dự án được gửi đi nhều nơi và chờ đợi phản hồi. Vì thế, nếu là dự án hay thì chủ dự án sẽ không đủ sức thực hiện khi được nhiều địa phương chấp thuận. Ngược lại, chính đơn vị gửi đề xuất sẽ vừa tốn kém (vì phải đi nhiều nơi để trình bày), vừa thất vọng vì không được chấp thuận.

    Để tránh tình trạng này, có đơn vị tìm cách vận động hành lang. Nếu sự vận động đó thành công, chắc ai cũng rõ, dự án sẽ được thông qua, cấp kinh phí, thực hiện, nghiệm thu và kết thúc và rơi vào lãng quên.

    Để đảm bảo chất lượng của các dự án ứng dụng vào thực tiễn, từ góc nhìn của một chuyên gia CNTT lâu năm, tác giả mạn phép đề xuất cách đổi mới quy trình thực hiện như sau:

    Từ đầu Quý 3 hàng năm, Bộ TTTT lập và cập nhật trang “Các dự án ứng dụng CNTT đề xuất cho năm tiếp theo…”. Ở đó đăng tải tất cả các dự án được các tổ chức, đơn vị đề xuất. Các chủ dự án cần chứng minh năng lực của mình với Sở TTTT địa phương (hoặc các Sở tổ chức xét tuyển dự án đủ điều kiện giới thiệu trên trang thông tin của Bộ để các địa phương chọn lựa). Như thế, chúng ta sẽ có một danh sách phong phú, hàng chục thậm chí hàng trăm dự án để lựa chọn, tránh được nạn “vận động hành lang” thường dựa vào quen biết hay vì lợi ích cá nhân.

    Cách này sẽ tạo sân chơi cho các đơn vị khẳng định mình, và trên hết là Nhà nước chọn được những dự án chất lượng nhất, hứa hẹn những kết quả tốt nhất.

    Các dự án từ trường, viện nghiên cứu thường hàn lâm hơn là thực tế. Trong khi các doanh nghiệp lại gửi các dự án rất thực tế nhưng thiếu chặt chẽ, kể cả cách hành văn.
    Các dự án có thể được chia theo nhóm: Như các nhóm “Thương mại điện tử”, “Giáo dục - Đào tạo”, “Chính phủ điện tử”, “GIS - GPRS”, “Mô hình tính toán”, “Kiến trúc tổng thể - EA”, “Logistics”…

    Mẫu giới thiệu dự án nên giống nhau, bao gồm các thuộc tính cơ bản như: Tên dự án, ký hiệu, đơn vị cung cấp, nội dung, phạm vi ứng dụng, khả năng mở rộng…

    Sau mỗi năm, danh sách được cập nhật thêm kết quả bình chọn của các địa phương về chính các dự án đã được đầu tư triển khai. Các dự án cũ (nhưng mới đối với nhiều tỉnh) sẽ được chấm điểm theo nhiều tiêu chí và những dự án tốt nhất luôn nằm ở đầu danh sách. Với cách làm này, một đơn vị nhỏ mà có dự án hay vẫn có khả năng triển khai trên diện rộng vì chắc chắn sẽ có nhiều tổ chức chuyên nghiệp sẵn sàng liên kết thực hiện.

    Ví dụ:

    Trong lĩnh vực Logistics, dự án “Xây dựng hệ thống thông tin logistics tỉnh…” có nội dung đại thể như sau:

    Tên dự án: “Xây dựng hệ thống thông tin logistics tỉnh…”.

    Ký hiệu: (Do cơ quan quản lý cấp để phục vụ mục đích quản lý về sau).

    Đơn vị cung cấp: ABC…

    Nội dung: Xây dựng HTTT phản ánh mọi hoạt động liên quan đến chuỗi các dịch vụ hỗ trợ vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu từ khâu xác nhận nguồn gốc hàng hóa, bao bì, dán nhãn, vận tải nội địa, kiểm hóa, kho bãi, vận tải quốc tế (hàng không, đường biển…) cho đến khi giao hàng cho người nhận. Hệ thống phải phản ánh được đầy đủ và trung thực tất cả những gì diễn ra và liên quan từ chủng loại, số lượng, chất lượng hàng hóa, trạng thái của hạ tầng cơ sở, phương tiện vận tải, tổ chức cung cấp dịch vụ, chi phí và thời gian kiểm hóa, lưu kho, vận tải hàng không hay vận tải biển đến các chính sách, quy chế áp dụng trong lĩnh vực Logistics…

    Thông qua hệ thống thông tin logistics, người ta cảm nhận được một cách sinh động “hơi thở” của nền kinh tế địa phương: từ năng lực sản xuất của các doanh nghiệp (mặt hàng, khối lượng, chất lượng) đến trạng thái phát triển hạ tầng, từ các thủ tục hải quan đến năng lực vận tải, từ các chính sách, khung pháp lý đến thực trạng phát triển nguồn nhân lực… Đây không chỉ là công cụ hữu hiệu phục vụ quản lý nhà nước (đặc biệt là với Sở Công Thương) mà còn rất hữu ích đối với các doanh nghiệp.

    Phạm vi ứng dụng: Trong nội bộ một tỉnh.

    Khả năng mở rộng: Mở rộng ra phạm vi một vùng. Ví dụ vùng kinh tế trọng điểm.

    Địa chỉ liên hệ: Số điện thoại, email, tên người liên lạc.

     

    Từ khóa: dự án CNTT
    ID: B1112_32