• Thứ Ba, 28/06/2005 13:11 (GMT+7)

    Điểm tin ngày 28/6/2005

    Trước tình trạng thuê bao từ mạng Viettel gọi sang các mạng khác trở nên khó khăn, Viettel đã đề nghị Bộ BCVT có biện pháp khẩn cấp nhằm giải quyết tình trạng VNPT gây khó dễ trong việc kết nối giữa các mạng di động. Trong cuộc họp bàn về biện pháp chống buôn lậu ở TPHCM, Ban Chỉ Đạo Chống Buôn Lậu Quốc Gia 127 đã có đề xuất cấm nhập khẩu máy tính đã qua sử dụng.

    Mạng di động Viettel khó gọi đi các mạng khác

    Theo phản ánh của nhiều khách hàng, thời gian gần đây đã có hiện tượng các cuộc gọi từ mạng di động Viettel không thực hiện được tới các mạng khác của VNPT. Được biết, tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel) đã đầu tư 2.000 tỷ đồng cho việc phát triển mạng trên toàn quốc và trong 6 tháng đầu năm 2005 đã phát triển được 0,5 triệu thuê bao. Hiện tại, Bộ Quốc Phòng và Viettel đang làm việc với Bộ BCVT và VNPT để thúc đẩy việc kết nối nhanh chóng và kịp thời. (Lao Động 28/6/2005)

     

    GPC mua 4 tổng đài mới của Nokia cho mạng di động Vinaphone

    Ngày 27/6/2005, công ty Dịch Vụ Viễn Thông (GPC) đã ký kết hợp đồng mua 4 tổng đài MSC của Nokia để phục vụ mạng di động Vinaphone. 4 tổng đài này có tổng dung lượng 1,6 triệu số và hợp đồng vừa ký có giá trị xấp xỉ 3,2 triệu USD. Ông Phạm Quang Hảo, phó giám đốc công ty GPC cho biết, với việc trang bị thêm 4 tổng đài mới, tổng dung lượng của mạng Vinaphone được nâng lên 5 triệu số, đảm bảo từ nay đến cuối năm phát triển được thêm 600.000 thuê bao nữa, nâng tổng số thuê bao của mạng lên trên 4 triệu.(SGGP 28/6/2005)

     

    Các doanh nghiệp viễn thông mới đề nghị Bộ BCVT xem xét lại lộ trình giảm cước của VNPT

    Ngay sau khi VNPT quyết định giảm cước ADSL, lãnh đạo công ty Cổ Phần Dịch Vụ BCVT Sài Gòn (Saigon Postel) đã có cuộc họp khẩn cấp để bàn phương án đối phó. Còn với Viettel, ông Đỗ Minh Phương, giám đốc công ty Internet Viettel đã thừa nhận là quyết định này của VNPT đã làm phá sản kế hoạch áp dụng cước mới của Viettel vừa được áp dụng từ giữa tháng 6/2005.

    Riêng với việc tính cước điện thoại di động của VNPT theo phương án mới, Viettel cũng chỉ có thể giảm được 5-10% và nếu VNPT tiếp tục hạ thì Viettel khó lòng tiếp tục vì có thể phá sản.

    Trước tình hình này, các doanh nghiệp viễn thông ngoài VNPT đã chính thức có công văn đề nghị Bộ BCVT xem xét lại lộ trình giảm cước của VNPT nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của các doanh nghiệp mới. Về đề xuất này, ông Nguyễn Minh Sơn, phó vụ trưởng Vụ Kế Hoạch Tài Chính Bộ BCVT cho biết, bộ đang xem xét và đã tính tới khả năng biến động của thị trường nếu phê duyệt phương án như VNPT đề nghị. Rõ dàng, vai trò điều tiết nhà nước của Bộ BCVT tại thời điểm này là vô cùng quan trọng. (SGGP 28/6/2005)

     

    Viettel đề nghị Bộ Quốc Phòng và Bộ BCVT giải quyết tình trạng VNPT gây khó dễ kết nối giữa các mạng di động

    Trong những ngày gần đây, tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel) đã gửi công văn đến Bộ Quốc Phòng và Bộ BCVT đề nghị có biện pháp khẩn cấp nhằm giải quyết những khó khăn ngày càng nghiêm trọng từ đầu năm đến nay do họ bị VNPT gây khó dễ trong việc kết nối giữa mạng Viettel Mobile với các mạng Vinaphone và Mobi Fone của VNPT. Bộ Quốc Phòng đã có công văn gửi Thủ Tướng Chính Phủ nhấn mạnh, nếu để tình trạng tiếp tục kéo dài thì Viettel sẽ đứng trước nguy cơ phá sản.

    Được biết, VNPT mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu kết nối của Viettel và vì thế lưu lượng kết nối luôn ở mức cao, dễ bị nghẽn. Chính vì thế, nhiều khách hàng của Viettel đã ngừng đăng ký hoặc cắt hợp đồng và lượng đăng ký từ 7000 số/ngày đã giảm xuống còn 2000 số/ngày. Lý do VNPT đưa ra là khó khăn về đầu tư, chưa đáp ứng được dung lượng kết nối theo một lãnh đạo Viettel là không hợp lý. Trong khi đó, phó tổng giám đốc VNPT Trần Mạnh Hùng lại khẳng định rằng dung lượng của tổng đài đã hết nên không thể đáp ứng các yêu cầu của Viettel. Ông Hùng nói: “Ngay cả 9 tổng đài miền Trung cũng không có cổng để đấu nối hoà mạng. VNPT còn chưa đủ dùng nói gì đến các doanh nghiệp khác. Theo ông, việc VNPT phải cung cấp cổng cho các doanh nghiệp mới vô điều kiện là phi kinh tế. Ông khẳng định, trong giai đoạn cấp bách VNPT buộc phải thu xếp cắt giảm luồng của Viettel. Nhưng đó chỉ là vấn đề tạm thời chứ không phải lâu dài. (Tiền Phong 28/6/2005)

     

    Máy vi tính đã qua sử dụng có thể bị cấm nhập

    Ngày 27/6/2005, ban chỉ đạo 127 TW đã chủ trì cuộc họp chống buôn lậu và gian lận thương mại tại các tỉnh biên giới Tây Nam và TPHCM. Bên cạnh nhiều vấn đề bức xúc, ban chỉ đạo 127 đã kiến nghị một số biện pháp ngăn chặn buôn lậu. Trong đó, có đề nghị Bộ Thương Mại nên qui định điều kiện kinh doanh những mặt hàng nhập khẩu phi mậu dịch; Xem xét việc cấm nhập khẩu máy tính và động cơ nổ đã qua sử dụng. (Tiền Phong 28/6/2005)

     

    Máy tính bấm tay Fx 570 MS không được mang vào phòng thi đại học, cao đẳng

    Trong buổi tư vấn tuyển sinh sáng 26/6/2005, thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long đã cho biết, máy tính kỹ thuật Casio Fx 570MS không được phép mang vào phòng thi tuyển sinh đại học và cao đẳng 2005. Sở dĩ có quy định này vì máy có khả năng chứa được các công thức hoá học, công thức tính tích phân... nên Trung Tâm Tin Học của Bộ đã đề nghị không cho sử dụng.

    Về thực tế, rất nhiều thí sinh đã trót mua loại máy tính này để chuẩn bị cho kỳ thi và nếu phải sử dụng loại máy có ít tính năng hơn thì mới được mang vào phòng thi gây tốn kém chi phí, ông Long cho biết quy định đã ban hành cấm rồi là cấm, không thể có chuyện cho sử dụng lại được. (Tuổi Trẻ 28/6/2005)

     

    Đưa Internet vào ký túc xá: Làm thế nào để nhân rộng?

    Theo hợp đồng giữa Ban Quản Lý KTX ĐH Ngoại Ngữ - ĐHQG Hà Nội với cônh ty Cổ Phần Tư Vấn Tin Học và Viễn Thông Hà Nội thì doanh nghiệp này sẽ chịu trách nhiệm cung cấp hạ tầng mạng, phần mềm quản lý và duy trì hệ thống Internet được đấu nối tới từng phòng của sinh viên, còn ban quản lý KTX phải chịu trách nhiệm trang bị bàn ghế và máy tính đầu cuối. Mặc dù đã chuẩn bị suốt 6 tháng nhưng KTX cũng chỉ lo được 35 máy tính thế hệ cũ để đưa vào thử nghiệm tại 35 trên tổng số 200 phòng nội trú.

    Kể từ khi nối mạng Internet, Ban Quản Lý KTX đã nhận được nhiều đề nghị của sinh viên về nâng cao hiệu quả hoạt động. Qua một tháng thử nghiệm, cái lợi tuy nhiều nhưng khó khăn cũng là không ít. Việc tính phí sử dụng cho sinh viên được tính theo phần mềm riêng với tài khoản nạp tiền và người thân của họ có thể tặng tiền vào đó. Giá cước được tính 1.500 đồng/giờ. Tuy nhiên, thực tế đã nảy sinh là sinh viên CNTT đã sang đây để thực hành các kiến thức được học và máy chủ của mạng đã bị đột nhập. Để duy trì hệ thống, luôn cần đến một đội ngũ kỹ thuật và trước khó khăn đó, nhà đầu tư đã chủ động xin rútHaH lui và như vậy thì chưa thể nói đến việc nhân rộng mô hình.

    Giải pháp tình thế đã đạt được bằng việc ban quản lý quyết định mời các sinh viên CNTT tham gia đảm trách công tác kỹ thuật. Tuy nhiên, để trang bị thêm máy tính cho các phòng còn lại thì đó là vấn đề liên quan đến bài toán ngân sách. Anh Vũ Minh Quý, trưởng Ban Quản Lý KTX cho biết, không thể bỏ dở giữa chừng đề án này và sẽ lập đề án cụ thể để cấp trên xem xét đầu tư.

    Bước đầu lợi ích của việc đưa Internet đến phòng nội trú đã mang lại những lợi ích thiết thực cho sinh viên. Đây không phải là vấn đề gì mới mẻ vì tại các trường ĐH trên thế giới, đó là chuyện bình thường và tất nhiên phải có trong thời đại CNTT. (Giáo Dục & Thời Đại 25/6/2005)

                                                   

    Thương mại điện tử sẽ thúc đẩy nhu cầu hội nhập của doanh nghiệp Việt Nam

    Đứng trước việc sắp chính thức tham gia WTO, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng một số đối tác đã tổ chức hội thảo “Thương mại điện tử và doanh nghiệp” nhằm trang bị cho các doanh nghiệp cách thức tiếp cận thị trường thế giới thông qua Internet. TS Lê Mạnh Hà, giám đốc Sở BCVT TPHCM cho biết, quan điểm của sở là TMĐT phải đáp ứng nhu cầu thực tế và không thể thực hiện một cách áp đặt. Trong điều kiện môi trường pháp lý còn chưa đầy đủ, người dân chưa có tập quán thanh toán qua ngân hàng và hệ thống thanh toán thương mại chưa phát triển thì TMĐT phải thực hiện theo từng bước. Trước hết là đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, thực hiện giao dịch điện tử chứ chưa phải là TMĐT với doanh nghiệp và người dân. Việc triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước sẽ làm tăng khả năng giao dịch thông qua CNTT, tạo thói quen sử dụng giao dịch điện tử giữa người dân, doanh nghiệp với chính quyền. Đây sẽ là tiền đề rất tốt cho các giao dịch qua mạng khác như TMĐT. Ông cũng cho biết một cổng doanh nghiệp của thành phố đang được xây dựng nhằm mục đích tạo sân chơi lớn để các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm của mình với trong và ngoài nước. Thông qua cổng này, họ sẽ kết nối tới các tổ chức thương mại quốc tế, các đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, các đối tác đầu tư...Dự kiến trong năm 2005 sẽ có khoảng 15.000 doanh nghiệp TPHCM tham gia và năm 2006 sẽ có trên 30.000 doanh nghiệp.

    Về vai trò của ngân hàng, ông Phạm Văn Thiệt, tổng giám đốc Ngân Hàng Á Châu (ACB) cho biết, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giữa bên mua và bên bán như trong mọi hình thức thương mại khác. Ngân hàng phải có khả năng cho phép người bán hàng bất cứ ở đâu trên thế giới có thể liên hệ trực tuyến và phải có khả năng kiểm tra số dư của người mua một cách trực tuyến. Chính vì vậy ngân hàng đóng vai trò tạo ra cơ sở cho TMĐT.

    Ông Trần Công Quốc Trang, chủ tịch Hiệp Hội Nhựa TPHCM lại cho biết một thực tế là phần đa các doanh nghiệp chưa chuẩn bị cho hội nhập TMĐT, thói quen thanh toán qua mạng của khách hàng chưa được phổ cập, chưa có sự khuyến khích mạnh mẽ của hệ thống quản lý nhà nước. 2 năm nay, hiệp hội đã mạnh dạn xây dựng sàn giao dịch www.vnplas.com và đã đạt được thành công bước đầu. Các doanh nghiệp nhựa tham gia đều thừa nhận sàn giao dịch đã mang lại nhiều hiệu quả mới trong kinh doanh và tiếp cận được với thị trường thế giới.

    TS Võ Văn Huy, giám đốc Trung Tâm Hỗ Trợ Đào Tạo Quản Trị Doanh Nghiệp ĐHBK TPHCM cho biết đã thăm dò các doanh nghiệp và kết quả cho thấy tuy hầu hết họ đều lạc quan về lợi ích của TMĐT song chỉ có 30% cho là rất cần thiết ở thời điểm hiện nay. Một số khác nói rằng nó sẽ thật sự cần thiết trong vòng 2 - 3 năm tới. Các doanh nghiệp cũng nhận thức được những rủi ro tiềm ẩn là TMĐT có thể làm năng suất lao động và hiệu quả làm việc của nhân viên thấp, nếu không cẩn thận có thể bị lộ bí mật qua mạng... Đa số các doanh nghiệp vẫn còn e dè do chưa có luật hoặc luật chưa rõ dàng sẽ gây thiệt hại không lường trước được trong khi những chi phí ban đầu cho TMĐT là khá lớn. Mặt khác, việc xác định rõ ràng những lợi ích của TMĐT là một vấn đề không đơn giản nếu không muốn nói là ngoài khả năng của doanh nghiệp. 

    Ông Louis Nguyễn Thế Lữ, giám đốc điều hành công ty Vinacapital Corporate Finance thì bày tỏ sự tin tưởng vào sự phát triển và sử dụng TMĐT tại Việt Nam. Tuy nhiên, ông cũng đề cập đến một thực tế là tỉ lệ sử dụng Internet của người dân Việt Nam còn ít và số lượng thẻ tín dụng còn ít hơn. Bên cạnh đó còn có nhiều yếu tố khác về giá cước Internet, khuôn khổ pháp lý...Ông cho rằng nên bắt đầu làm TMĐT với những gì chúng ta có sẵn ngay cả khi chưa hoàn chỉnh. (TBKTVN 28/6/2005)

    ID: O0506_1