• Thứ Năm, 07/07/2005 13:43 (GMT+7)

    Điểm tin ngày 07/7/2005

    Tiềm năng trong triển khai PMNM, áp dụng khai báo hải quan điện tử ở TPHCM, hiện đại hóa thông tin tín hiệu đường sắt là những thông tin tốt về ứng dụng CNTT ở Việt Nam. Song, tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm, cát cứ thông tin và sự ra đời chậm trễ của hội đồng cạnh tranh đang là những rào cản.

    Việt Nam có khả năng triển khai thành công phần mềm nguồn mở

    "Phần mềm nguồn mở (PMNM) là cơ hội tốt cho phát triển CNTT và Việt Nam đã hội tụ được một số điều kiện để đảm bảo việc khai thác tốt", ông Nguyễn Trung Quỳnh, giám đốc ban quản lý dự án PMNM, Bộ Khoa Học Công Nghệ đã nhận định như vậy tại hội thảo Toàn Cảnh CNTT Việt Nam 2005 đang diễn ra tại TPHCM.

    Dự án ứng dụng và phát triển PMNM đang trong giai đoạn chuẩn bị và hoàn thiện, nhưng đã có hơn 20 công ty, đơn vị tham gia triển khai PMNM như văn phòng Trung Ương Đảng, các trường đại học, công ty TMA Solutions... Hiện có một số sản phẩm ứng dụng PMNM cho máy tính để bàn như Vietkey Linux, Red Hat Linux, máy chủ và các hệ thống thông tin như cổng giao dịch điện tử, dịch vụ viễn thông, cơ sở dữ liệu... Sự phát triển cộng đồng PMNM ở một số trường đại học, diễn đàn JAVA Vietnam, Vietlux cũng đã tạo cơ sở cho việc triển khai dự án đạt kết quả.

    Trong giai đoạn 2004-2008, Bộ KHCN xác định đẩy mạnh ứng dụng và phát triển PMNM là mục tiêu hàng đầu nhằm tiến tới triển khai thử nghiệm PMNM với quy mô nhỏ, sau đó nhân rộng ra. Ban quản lý dự án PMNM khuyến khích mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển, đào tạo nghiên cứu và thử nghiệm các ứng dụng trong quản lý hành chính, ứng dụng chuyên nghiệp... Tập trung vào những sản phẩm PMNM chuẩn, Việt hoá, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận. Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực có trình độ CNTT cao cho đội ngũ giáo viên, các chuyên gia PMNM để phục vụ lại công tác đào tạo, nghiên cứu, phát triển và khai thác PMNM hiệu quả.

    Hiện nay, việc đào tạo này đã được tiến hành ở một số trung tâm, cơ sở nghiên cứu như Viện Tin Học Pháp Ngữ (IFI), trung tâm Aptech, các trường đại học, đồng thời thông qua đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm về PMNM. Bước đầu Bộ KHCN đã hợp tác với Intel, Sun, METI (Nhật Bản), KIPA (Hàn Quốc) và Asia-OSS. Ngoài ra, Bộ GD& ĐT cũng ký kết bản ghi nhớ với Sun về sử dụng PMNM Sun Microsystems StarOffice 7.

    Việc nhận thức chưa đúng về PMNM, chưa nhìn thấy lợi ích mà PMNM mang lại là một cản trở đối với phát triển PMNM. Nguồn nhân lực, các tài liệu hỗ trợ về kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng PMNM và giải quyết các vấn đề liên quan hiện rất ít, trình độ hiểu biết chung về mã nguồn mở hạn chế. Trong khi những ứng dụng chuyên nghiệp và số lượng các thiết bị hỗ trợ PMNM không nhiều, thiếu tính tương tác với các phần mềm đóng. Ông Quỳnh cho rằng người sử dụng đã quen thuộc với mã nguồn đóng thì không dễ dàng thay đổi sang mã nguồn mở. Ngoài ra, ông cho rằng PMNM sẽ khó trụ được nếu luật bản quyền không được thực thi một cách nghiêm túc. Cần phải tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa mã nguồn đóng và mở. (Vn Express 7/7/2005)

     

    Mật độ thuê bao điện thoại đạt 14,6 máy/100 người dân

    Theo Bộ BCVT, sáu tháng đầu năm, số thuê bao điện thoại đạt hơn 1,7 triệu. Như vậy,  tổng số thuê bao trên toàn mạng đến nay đạt hơn 12 triệu máy (thuê bao di động chiếm 49,5 %); đạt mật độ thuê bao 14,6 máy/100người dân, so với chỉ tiêu Đại Hội IX của Đảng đề ra (năm 2005 đạt 7-8 máy/100 người dân) thì tăng gấp hai lần. Tuy nhiên, vẫn còn 1,7% số xã trong cả nước ở vùng sâu vùng xa, hải đảo chưa có máy điện thoại. Dịch vụ bưu chính, viễn thông chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Chất lượng mạng lưới, chất lượng dịch vụ nhiều thời điểm còn kém. (Nhân Dân 7/7/2005)

     

    Tổng công ty Điện Lực thông báo sẽ khai trương dịch vụ điện thoại di động mới.

    Tổng công ty Điện Lực Việt Nam (EVN) vừa thông báo, dự kiến trong tháng 7 và 8/2005 sẽ lần lượt khai trương dịch vụ điện thoại cố định không dây và dịch vụ di động nội tỉnh tại tất cả các tỉnh. Dung lượng của mạng di động điện lực trong năm nay sẽ đảm bảo cho 2 triệu thuê bao điện thoại di động. Được biết, trong năm nay EVN đầu tư khoảng 3.184 tỉ đồng cho toàn hệ thống mạng viễn thông điện lực. (Lao Động 7/7/2005)

     

    Giới thiệu phần mềm tự động hoá phân tích, thiết kế nhà cao tầng Trung Quốc

    Sáng 6/7/2005 tại Hà Nội, Viện Khoa Học Công Nghệ Xây Dựng Việt Nam, công ty Tin Học Xây Dựng Việt Nam và Viện Hàn Lâm Xây Dựng Trung Quốc đã phối hợp tổ chức hội thảo “Phần mềm phân tích và thiết kế nhà cao tầng phù hợp với các tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (PKPM-VNBC)”. Dựa trên nghị định thư hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc và sự gần gũi về điều kiện xây dựng giữa hai nước; sản phẩm PKPM-VNBC đã được xây dựng là kết quả phối hợp nghiên cứu giữa ba đơn vị trên. Sản phẩm phần mềm PKPM-VNBC được đánh giá cao do nhu cầu phổ biến và cấp thiết về phát triển nhà cao tầng của ngành xây dựng Việt Nam hiện nay. (Quân Đội Nhân Dân 7/7/2005)

     

    TPHCM: 34 doanh nghiệp được chọn thông quan điện tử

    Theo ông Nguyễn Hữu Nghiệp, trưởng phòng Nghiệp Vụ, Cục Hải Quan TPHCM, sau một thời gian chuẩn bị về thủ tục, tập huấn và tiến hành lắp đặt thiết bị, đến nay công tác khai báo thông quan điện tử đã sẵn sàng hoạt động. Dự kiến, ngày 25/7/2005 sẽ chính thức khai trương chi cục Hải Quan Điện Tử tại địa chỉ 74 Hai Bà Trưng, Quận 1 để tiếp nhận hồ sơ khai báo. Trước mắt, đã có 34 doanh nghiệp được lựa chọn tham gia thông quan điện tử và sẽ được chia ra làm 3 đợt, trong đó đợt một tiếp nhận khai báo cho 12 doanh nghiệp bắt đầu từ ngày 27-31/7/2005. Dự kiến đến năm 2007, Cục Hải Quan TPHCM sẽ áp dụng khai báo điện tử cho 100% hàng hoá xuất nhập khẩu. (SGGP 7/7/2005)

     

    Triển lãm Vietnam ComputerWorld Expo 2005: Internet là sản phẩm mắc nhất

    Theo phản ánh bạn đọc báo Tuổi Trẻ, tại triển lãm Vietnam Computerworld Expo 2005, ban tổ chức đã không cung cấp Internet cho các doanh nghiệp (DN) tham gia vì không có nhà tài trợ. Hiện ban tổ chức chỉ có 30 đường truyền Internet dành cho những đơn vị tham gia các hoạt động tài trợ. Các doanh nghiệp khác có nhu cầu sẽ phải thuê lại của trung tâm Triển Lãm và Hội Chợ Quốc Tế- nơi diễn ra sự kiện này.

    Nhiều DN phàn nàn không hiểu sao triển lãm CNTT&TT lớn nhất nước mà không được hỗ trợ Internet, trong khi các triển lãm về CNTT&TT ở nhiều nước đều được hỗ trợ từ trong ra ngoài, đến quán cà phê còn có Internet miễn phí.

    Một DN tâm sự, do đơn vị này làm phần mềm nên rất cần Internet để trình diễn các sản phẩm. Liên hệ với trung tâm triển lãm thì được báo giá là 50USD/ngày, kỳ kèo mãi đến sáng 6/7/2005, gần ngày khai mạc triển lãm Vietnam Computerworld Expo 2005, trung tâm mới giảm giá xuống 120 USD/4 ngày. Doanh nghiệp này kết luận “còn mắc hơn khách sạn 5 sao”.

    Trong khi nhiều DN nước ngoài tham dự triểm lãm này đã sẵn sàng hạ giá để sản phẩm của họ đến được với người tiêu dùng, thì chúng ta lại làm khó DN. Thử hỏi cứ như vậy thì các chỉ số sẵn sàng cho CNTT&TT của Việt Nam bao giờ mới nhích lên được?. (Tuổi Trẻ 7/7/2005)

     

    Viettel nâng cấp băng thông Internet quốc tế

    Tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel) vừa đầu tư lắp đặt hai đường cáp quang quốc tế băng thông rộng lên 2Gbps và một đường vệ tinh qua trạm VSAT để đảm bảo băng thông cho tất cả khách hàng ADSL. Đồng thời Viettel đầu tư cho 600 trạm DSLAM (tổng đài cho ADSL) để cung cấp dịch vụ ADSL trên toàn quốc. Nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn, đầu tháng 9/2005 Viettel sẽ đầu tư tiếp loại ADSL2+ để tăng tốc độ đường truyền tới khách hàng đạt 8 Mbps download và 2 Mbps upload. Tại hội chợ Vietnam ComputerWorld Expo 2005 đang diễn ra ở TPHCM  từ ngày 7-10/7/2005, Viettel mở 30 điểm thử ADSL miễn phí cho khách hàng xem phim, chơi game, nghe nhạc... (Người Lao Động 7/7/2005)

     

    Vì sao các chỉ số sẵn sàng cho CNTT của Việt Nam tụt hậu?

    Theo báo cáo Toàn Cảnh CNTT Việt Nam 2005 của Hội Tin Học TPHCM vừa được trình bày, các chỉ số sẵn sàng cho CNTT Việt Nam nói chung đang ở các vị trí không phấn khởi, thậm chí, chỉ số chính phủ điện tử tụt 15 bậc so với năm 2003. Ông Lữ Hồng Chương, phó tổng giám đốc công ty cổ phần MISA cho rằng, tuy số người sử dụng Internet ở Việt Nam đã gần bằng mức trung bình của thế giới, song thực chất mới ở khúc dạo đầu (đọc báo, giải trí, liên lạc...), trình độ ứng dụng Internet còn thấp. Mặt khác, tỷ lệ vi phạm bản quyền cũng làm ảnh hưởng đến vị thế của Việt Nam. Với tình trạng sử dụng phần mềm “chùa” ở mức cao như hiện nay, sẽ khó kích thích các DN sáng tạo trong sản xuất phần mềm bởi hiệu quả kinh tế đem lại không cao.

    Theo các ước tính, cả nước hiện có khoảng gần 700 DN hoạt động về phần mềm, tuy nhiên số lượng DN có quy mô lớn còn rất hạn chế và giá trị xuất khẩu khá khiêm tốn với 45 triệu USD năm 2005. Sản lượng phần mềm xuất khẩu của FPT, Vietsoftware, CMC, Avasys... cũng chỉ đạt khoảng 7 triệu USD. Điều này cho thấy xuất khẩu phần mềm chưa có vai trò đáng kể và không dễ dàng mở rộng sản xuất. Theo lý giải của ông Nguyễn Mạnh Dũng, giám đốc Sở BCVT Hà Nội thì các sản phẩm phần mềm của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chưa đạt trình độ chuyên nghiệp mà mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu trong nước với chất lượng chưa cao.

    Ông Phạm Văn Bảy, nguyên chủ tịch Hội Tin Học TPHCM giải thích, sở dĩ CNTT Việt Nam tụt hậu vì cái gốc phát triển chưa vững chắc, cơ sở hạ tầng CNTT thường đi chậm hơn so với nhu cầu thực tế của người sử dụng. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp CNTT chỉ vì lợi ích riêng nên thiếu sự liên kết, chia sẻ dữ liệu.

    Riêng về sự phát triển chậm chạp của chính phủ điện tử, bà Phạm Thị Bích Hoa, trưởng bộ môn Ngoại Ngữ - Tin Học, Học Viện Hành Chính Quốc Gia tại TPHCM nhìn nhận là các website của nhiều bộ, ngành, địa phương mới chỉ cung cấp đơn giản một số thông tin về thủ tục hành chính. Theo bà, các nội dung đó đang thiếu một sự đầu tư mang tính hệ thống, chưa khai thác thế mạnh của công nghệ để tạo ra một phương thức giao tiếp hiệu quả trong mối quan hệ giữa công dân với nhà nước. Hiện trạng của phân nửa số website các tỉnh, thành phố là mới chỉ giới thiệu, quảng bá, kêu gọi đầu tư... mà chưa có phần liên quan đến chính phủ điện tử. Cũng về vấn đề này, ông Nguyễn Mạnh Dũng cảnh báo, quá trình phát triển chính phủ điện tử thời gian tới ở các địa phương sẽ phải đối mặt với tình trạng cát cứ thông tin trong việc chia sẻ dữ liệu dùng chung, nhất là dữ liệu nhạy cảm, những khó khăn trong công tác chuẩn hoá dịch vụ hành chính... (Lao Động 7/7/2005)

     

    Cần sớm thành lập công ty quản lý đường trục viễn thông quốc gia

    Trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ nhân sự việc mới đây về kết nối giữa tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel) và tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT), bà Phạm Chi Lan, chuyên gia tư vấn Ban Nghiên Cứu của Thủ Tướng Chính Phủ cho rằng cần phải nhanh chóng tách đường trục cho một công ty quản lý riêng. Đấy là điều kiện cần thiết cho các doanh nghiệp viễn thông phát triển. Vấn đề này đã được đặt ra gần một năm rồi và không hiểu thủ tục vướng mắc ở đâu mà chưa giải quyết được.

    Liệu rằng có hay không sự thiên vị với VNPT? Theo bà, chính Bộ BCVT hiểu rõ hơn ai hết. Nếu Bộ xử lý vụ việc vừa qua một cách nhanh chóng, kịp thời, công bằng thì không còn bị điều tiếng VNPT là “con đẻ”. Dù sao, VNPT cũng đang là đơn vị lớn nhất trong ngành nên bên ngoài dễ cho rằng anh to nhất dễ thuyết phục được bộ chủ quản ngành, chưa kể anh là đơn vị từ bộ đó đi ra. Như thế đòi hỏi Bộ phải giải quyết công bằng và càng phải quan tâm nhiều hơn đến các đơn vị nhỏ, đơn vị mới ra đời.

    Về việc Viettel kêu cứu lên tận Thủ Tướng, theo bà có lẽ vì quá bức bách do 5 năm trời VNPT không giải quyết được yêu cầu của họ. Bà cho rằng sau này những việc đó sẽ không phải lên đến Thủ Tướng. Bà đề cập đến việc đã có Luật Cạnh Tranh và mong Chính Phủ sớm thành lập hội đồng cạnh tranh theo quy định của luật để đứng ra giải quyết khi có khiếu nại. (Tuổi Trẻ 7/7/2005)

     

    68 triệu USD hiện đại hoá thông tin tín hiệu đường sắt

    Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam vừa báo cáo Bộ GTVT về dự án hiện đại hoá thông tin tín hiệu trên tuyến đường sắt Vinh- Sài Gòn. Đây là một phần trong chiến lược phát triển đường sắt Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt.

    Giai đoạn 1 của dự án sẽ được thực hiện trong năm 2005 và hoàn thành vào năm 2007 với tổng đầu tư 68 triệu USD, trong đó vốn vay của Trung Quốc gần 62 triệu USD, còn lại là vốn đối ứng của Việt Nam. Dự án sẽ đầu tư xây dựng mới hệ thống truyền dẫn cáp quang; một số tổng đài điện thoại số trên tuyến; hệ thống giám sát, cảnh báo; hệ thống thiết bị ga điện khí tập trung, hệ thống giám sát chạy tàu và đo kiểm vi tính. (SGGP 7/7/2005)

      

    Mỗi trường đại học cũng có thể làm một hệ thống trả lời tự động?

    Mỗi khi có kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng thì các cửa hàng net, đường dây nóng đều có nguy cơ quá tải. Thế nhưng một hệ thống cung cấp thông tin tự động với giá thành rất rẻ của hai sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội lại đang nằm dài cổ chờ khách hàng. Hai tác giả đó là Phạm Văn Tường và Nguyễn Ngọc Khánh. Họ đều là sinh viên khoa Điện Tử Viễn Thông.

    Theo Tường, ĐH Bách Khoa Hà Nội có số lượng sinh viên ngoại tỉnh rất lớn và mỗi dịp nghỉ hè, nghỉ Tết thì các sinh viên ở Hà Nội vẫn phải đến tận trường để xem điểm giúp họ. Chính vì thế mà Tường đã quyết định biến ý tưởng này thành một đề tài. Chỉ sau vài tháng nghiên cứu, hệ thống trả lời tự động của họ đã được giới thiệu và được sinh viên hưởng ứng nhiệt thành.

    Hệ thống có 3 hình thức gửi tin: trả lời bằng tin nhắn SMS, chủ động nhắn tin cho khách hàng, qua điện thoại cố định. Tuy nhiên các tác giả của đề án sẽ không dừng lại ở đó. Ngoài thông tin về điểm, các bậc phụ huynh cũng có thể tìm kiếm, tra cứu các thông tin khác. Các tác giả đã làm việc suốt 7 tháng với ít nhất 600 tin nhắn để hệ thống chạy thử mỗi tháng. Hệ thống sẽ không chỉ sử dụng trong mỗi mùa thi mà còn dùng để chuyển các thông báo của khoa và trường đến sinh viên, công bố lịch thi, lịch học, lịch thí nghiệm... và nhiều dịch vụ khác.

    Hệ thống cung cấp thông tin tự động của Tường và Khánh chỉ có một điện thoại với giá khoảng 700.000 đồng, một Voice Modem khoảng 700.000 đồng và một máy vi tính khoảng 8 – 10 triệu đồng. Như vậy, việc đầu tư là không đắt. Nhưng liệu sẽ có bao nhiêu trường đại học sẽ là khách hàng của hai sinh viên này. Nếu như mỗi trường đại học đều có một hệ thống cung cấp điểm tự động từ xa riêng thì chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng nghẽn mạng và nháo nhác đi mua thông báo điểm như mọi năm. Chỉ có điều, ở thời điểm hiện tại, mọi chuyện mới chỉ là “nếu như”... (Sinh Viên Việt Nam 6/6/2005)

     

    ID: O0507_1