• Thứ Hai, 19/09/2005 16:35 (GMT+7)

    Điểm tin ngày 19/9/2005

    Sở BCVT TPHCM có thêm chức năng quản lý nhà nước với các hội chuyên ngành. Phú Yên chi thêm 2 tỷ đồng cho công tác tin học hoá quản lý nhà nước. 6/11 dự án của Việt Nam lọt vào chung khảo cuộc thi Samsung DigitAll Hope 2005. Thông tin trên website của các đại học quá nghèo nàn. Thị trường gia công xuất khẩu phần mềm cho Nhật Bản sắp bùng nổ.

    TPHCM: Sở BCVT có thêm chức năng quản lý nhà nước với các hội chuyên ngành
    Phó chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thiện Nhân vừa ký quyết định bổ sung thêm chức năng quản lý nhà nước với các hội chuyên ngành trên địa bàn TPHCM cho Sở BCVT thành phố. Theo đó, kể từ nay Sở sẽ là cơ quan quản lý nhà nước với Hội Tin Học TPHCM, Hội Vô Tuyến Điện Tử TPHCM và Hội Điện Tử & CNTT TPHCM. (SGGP 19/9/2005)

    TPHCM: Đưa vào hoạt động 2 điểm hướng dẫn du lịch bằng điện tử
    Sở Du Lịch TPHCM vừa đưa vào hoạt động 2 điểm thông tin du lịch hoạt động bằng hệ thống điện tử tại cổng chính Thương xá TAX ở quận 1 và tại công ty Du Lịch Tây Sơn ở quận 3. Hệ thống này sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh với giá trị đầu tư mỗi máy khoảng 50 triệu đồng.
    Trong thời gian tới, Sở Du Lịch TPHCM sẽ nâng cấp phần mềm để cung cấp thông tin chỉ dẫn sang nhiều thứ tiếng khác như Nhật, Pháp, Hoa, Hàn và đặt thêm nhiều máy tại các địa điểm khác. (SGGP 19/9/2005)

    Vĩnh Phúc: 100 giáo viên ở Việt Trì có trình độ tin học A,B
    Theo Sở GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc, toàn thành phố Việt Trì hiện có 100 giáo viên đạt trình độ A và B về tin học, 65 giáo viên khác tại đây có trình độ cao đẳng và đại học về CNTT, các cán bộ quản lý của nhà trường đều có trình độ A trở lên. Ngành giáo dục Việt Trì đã thành lập một tổ giáo viên cốt cán về tin học để làm công tác kiểm tra đánh giá và giải đáp những vướng mắc trong quá trình giảng dạy tin học. Ngoài ra, ngành còn kết hợp với bưu điện để nối mạng Internet cho các trường THPT và THCS; ứng dụng các phần mềm xếp thời khoá biểu, quản lý điểm, triển khai sách giáo khoa điện tử... (Giáo dục & Thời đại 17/9/2005)

    Phú Yên: 2 tỷ đồng cho tin học hoá quản lý nhà nước
    UBND tỉnh Phú Yên vừa quyết định tiếp tục đầu tư khoảng 2 tỷ đồng cho công tác xây dựng nhà xưởng và mua sắm trang thiết bị phục vụ Đề án tin học hoá quản lý nhà nước. Mục tiêu của đề án này là đến cuối năm 2005 có ít nhất 800 công chức tốt nghiệp chương trình tin học, đến cuối năm 2006 sẽ cơ bản đào tạo tin học cho công chức tại các cơ quan nhà nước. Được biết hiện tỉnh đã mở 7 lớp với trên 150 học viên đã hoàn thành chương trình đào tạo. (Tiền Phong 19/9/2005)

    6 dự án của Việt Nam vào chung khảo cuộc thi Samsung DigitAll Hope 2005
    Theo tin từ Thành Đoàn TPHCM, Ban giám khảo cuộc thi Samsung DigitAll Hope 2005, Việt Nam đã chọn ra 6/11 dự án để tham dự vòng chung khảo khu vực Châu Á. Đó là các sản phẩm Thư viện điện tử Âm nhạc dân tộc Việt Nam (Nhà văn hoá sinh viên TPHCM), Ứng dụng công nghệ trong việc thu hẹp khoảng cách giữa sinh viên thành thị với các vùng nông thôn (Trung tâm hỗ trợ sinh viên SAC), Xây dựng thư viện sách nói kỹ thuật số và trình đọc màn hình tiếng Việt (Trung tâm tin học vì người mù Sao Mai), Chắp cánh cho tương lai Samsung DigitAll Hope (Hội Thanh Niên Khuyết Tật TPHCM), Siêu thị việc làm cho thanh niên (Trung tâm Dịch vụ Việc làm Thanh niên) và Ngôi nhà kỹ thuật số - Ước mơ trở lại cuộc đời (Trung tâm công tác xã hội thanh niên TPHCM).
    Khẩu hiệu chính thức của cuộc thi năm nay là “Ngày mai tươi sáng từ ước mơ hôm nay”. Hãng điện tử Samsung (Hàn Quốc) sẽ dành 500.000 USD để tài trợ cho 7 quốc gia Châu Á tham gia cuộc thi. Kết quả chung cuộc sẽ được công bố vào tháng 10/2005. (Tuổi Trẻ 19/9/2005)

    Microsoft tham gia tổ chức triển lãm Số Hoá Doanh Nghiệp
    Công ty Microsoft Việt Nam vừa phối hợp với Intel, ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Viettel và các công ty máy tính CMS, FPT Elead tổ chức triển lãm Số Hoá Doanh Nghiệp tại TPHCM nhằm mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nâng cao tính linh hoạt trong hoạt động nhờ ứng dụng CNTT. (Nhân Dân 18/9/2005)

    Cần biết đâu là giới hạn của game online
    Hiện nay, dịch vụ game online đang bùng nổ tại Việt Nam và thu hút sự tham gia của đông đảo giới trẻ. Xung quanh thực tế này, TS Hồ Thiện Tùng, nguyên phó trưởng ban Tư Tưởng Văn Hoá Thành Ủỷ TPHCM cho rằng lợi hay hại tuỳ thuộc vào  ý thức và cách sử dụng của mỗi người. Vấn đề quan trọng là cả người chơi và nhà cung cấp cần biết đâu là giới hạn. Người chơi cũng cần phải biết tự đấu tranh với những ham muốn của bản thân khi tham gia.
    Đối với các nhà cung cấp, theo ông họ cần phân biệt rõ lợi nhuận chính đáng và lợi nhuận không chính đáng và luật pháp cần có quy định cụ thể. Ví như với kinh doanh dược phẩm, các loại thuốc có độc tố cao không được phép bán rộng rãi. Trong khi đó ở ta, người ta còn quan niệm game online là phương tiện giải trí và nhiều người cho là vô hại nên chưa có biện pháp quản lý, kiểm soát nào được đặt ra.
    Xung quanh việc quảng bá cho game online, theo ông đã đến lúc phải suy nghĩ vấn đề này. Nếu chỉ dừng ở việc tuyên truyền giới thiệu các chương trình game mới thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, nếu báo chí ca ngợi các game thủ và thậm chí trao giải thưởng cho họ là không cần thiết. Đặc biệt theo ông, những hoạt động rầm rộ như Đại Hội Võ Lâm thì không nên khuyến khích. (Tuổi Trẻ 19/9/2005)

    Thấy gì trên website các trường đại học Việt Nam?
    Theo quy chế của Chính Phủ về Điều lệ nhà trường đại giáo dục đại học và cao đẳng ban hành tháng 7/2003, các trường phải có website và đưa thông tin của mình lên đó để công bố rộng rãi. Tuy nhiên, theo một khảo sát mới đây với 70 trường đại học và cao đẳng, các kết quả cho thấy vẫn còn rất nhiều vấn đề...
    Theo nhận xét của một sinh viên CNTT năm cuối tại một trường đại học lớn ở TPHCM, nội dung website của các trường về cơ bản đều giống nhau: Giới thiệu trường, khoa, ngành, nhân sự các phòng ban và một ít tin tức thiếu cập nhật trong khi những thông tin sinh viên cần như lịch công tác và thời khoá biểu của trường thì thường không có. Về cơ bản, thông tin trên các website đại học và cao đẳng đều cập nhật chậm và ít nội dung. Theo kết quả khảo sát ngày 13/9/2005, chỉ có 11/70 trường cập nhật thông tin đến ngày 12/9/2005. Số còn lại đều từ cuối tháng 8 và cá biệt có trường để thông tin mới nhất từ tháng 7/2005. Nhiều mục tin được bố trí song khi truy cập vào thì không có gì cả. Cụ thể là chuyên mục Nghiên cứu Khoa học của website ĐH KHXH&NV TPHCM. Còn chuyên mục Thư viện của các trường hầu như chỉ giới thiệu thông tin và hình ảnh về thư viện chứ chưa có thư viện điện tử. Những tên sách của thư viện cũng hiếm khi được cập nhật và chưa giúp được gì nhiều cho sinh viên. Những tin tức thiết thực liên quan đến sinh viên khá là ít. Hầu như không thấy các thông tin về nhà trọ, quán ăn trên địa bàn của trường hoặc ký túc xá. Các thông tin mang tính chất tư vấn học tập và đời sống cho sinh viên lại càng hiếm hơn. Thông thường với các website, diễn đàn chính là nơi được nhiều thành viên tham gia nhất và chi phí đầu tư để duy trì nó cũng không quá tốn kém. Đáng tiếc là đa số website của các trường  không phát huy được tính tích cực của diễn đàn. Hoặc có tổ chức ra nhưng không thu hút được sự quan tâm cần thiết của sinh viên.

    Trong bức tranh có phần đơn điệu này, cũng có những điểm sáng nổi lên mà điển hình là website của ĐH An Giang tại địa chỉ www.agu.edu.vn. Điểm mạnh nhất của wesite này là khối lượng kiến thức được cung cấp khá nhiều và qua đó là các lớp học ảo với những hình ảnh sinh động rất thiết thực cho cả các ngành về nông nghiệp, ngư nghiệp...

    Có thể nói, với giáo dục đại học ngày nay thì Internet là một công cụ không thể thiếu. Với các nhà trường, việc thành lập ra website không khó nhưng cái khó là quản lý như thế nào để nó trở thành người bạn đường của sinh viên. Sinh viên vẫn đang chờ đợi và kỳ vọng rất nhiều vào những website của nhà trường. Mong muốn của các em là được tương tác với ban giám hiệu và các thầy cô thông qua Internet và ao ước được học tập trực tuyến thông qua website. (Thanh Niên 19/9/2005)

    Việt Nam thiếu nhiều chuyên gia thiết kế hệ thống có kinh nghiệm
    Theo ông Koichi Mukai, tổng giám đốc Liên Doanh Phần Mềm Việt - Nhật, các doanh nghiệp Nhật Bản đang quan tâm tới việc chuyển các đơn hàng gia công phần mềm tới Việt Nam. Ông cho biết, mục tiêu của liên doanh phần mềm Việt – Nhật là đưa kỹ sư tin học Việt Nam sang Nhật để đào tạo và làm việc cho các công ty Nhật trong vòng 2 năm. Sau đó họ sẽ trở về nước để phụ trách các dự án gia công phần mềm cho Nhật Bản.
    Về thế mạnh của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam ông cho rằng đó chính là giá thành bởi tuy Trung Quốc có nhiều ưu thế cạnh tranh song gần đây giá nhân công ở Trung Quốc đã tăng. Một lý do nữa chính là yếu tố con người bởi người Việt Nam siêng năng và cần mẫn, có nhiều điển tương đồng với người Nhật.
    Đề cập tới điểm yếu của Việt Nam, ông chỉ ra là các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang rất thiếu và rất ít những người có kinh nghiệm về thiết kế hệ thống ở trình độ cao. Trong khi đó, họ lại đang quá tập trung vào lập trình. Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam rất khó thực hiện được các dự án phần mềm quy mô lớn.
    Ông cũng cho biết thêm là nhiều năm nay các doanh nghiệp Nhật Bản thường chuyển hợp đồng gia công phần mềm sang Trung Quốc vì tại nước này có nhiều người biết tiếng Nhật. Vì thế, ông cũng hy vọng sẽ ngày càng có nhiều người Việt Nam biết tiếng Nhật để có thể tham gia làm phần mềm gia công cho các đối tác người Nhật. (Tuổi Trẻ 19/9/2005)

    Thị trường gia công và xuất khẩu phần mềm cho Nhật Bản sắp bùng nổ
    Theo TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội Tin Học TPHCM, tốc độ tăng trưởng gia công phần mềm của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cho thị trường Nhật Bản sẽ đạt khoảng 50%/năm. Trong vòng vài năm tới, tỷ trọng của thị trường này sẽ đạt con số lớn nhất. Theo quan sát của ông, năm nay sự bùng nổ đó đã bắt đầu và từ năm 2006 sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa. Ông cũng cho biết, một số doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đã mở văn phòng tại Nhật Bản.
    Còn theo bà Vàng Thuý Kim Tước, phó chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA), rào cản lớn nhất hiện nay với các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chính là ngôn ngữ. Giải pháp tình thế là họ phải tìm ra những “kỹ sư cầu nối” vừa biết tiếng Nhật vừa am hiểu CNTT. Con đường thứ hai với các doanh nghiệp là tuyển dụng được các kỹ sư đã từng du học tại Nhật Bản. Tuy nhiên, phía Nhật Bản vẫn mong muốn Việt Nam ngày càng có nhiều kỹ sư CNTT có thể làm việc trực tiếp bằng tiếng Nhật. (Tuổi Trẻ 19/9/2005)

     

    ID: O0509_1