• Thứ Ba, 22/12/2009 10:04 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 22/12/2009

    Đưa dự án Internet cộng đồng lên cấp Quốc gia. Khai trương website phục vụ Hội nghị Quốc phòng và An ninh ASEAN 2010. Công nghệ đồ hoạ - định hướng hấp dẫn cả về nội dung và hình thức. CMC sẽ chào sàn TP.HCM vào tháng 1/2010. Báo Sài gòn Giải phóng tặng thư viện điện tử cho học sinh vùng cao Sìn Hồ. Hà Nội: 19 quận huyện chưa hoàn thành kết nối Internet học đường…

    Đưa dự án Internet cộng đồng lên cấp Quốc gia

    Sáng ngày 18/12/2009, Bộ TTTT đã tổ chức họp với các bên liên quan về công tác chuẩn bị đề xuất nâng cấp “Dự án Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng” lên mức Quốc gia. Được biết, dự án này do Quỹ Bill và Melinda Gates Foundation (BMGF) tài trợ. Sau 10 tháng thực hiện, Dự án thí điểm đã thu được những thành công ban đầu tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh. Tính đến thời điểm này dự án đã bước đầu đạt được các mục tiêu đề ra. Việc đề xuất Dự án Quốc gia sẽ căn cứ vào đặc thù của Việt Nam, nhu cầu thực tế của những người dân được hưởng lợi trực tiếp ở các điểm dự kiến đưa vào chương trình. Tại buổi họp, ông Michael Chertok, đại diện cho Quỹ BMGF đã đánh giá cao tác động của Dự án thí điểm đối với đời sống người dân nông thôn tại 3 tỉnh đang thí điểm. Bộ TTTT sẽ là đơn vị triển khai dự án cấp quốc gia. Công tác phối hợp liên Bộ, ngành là rất quan trọng. Những đề xuất của Dự án Quốc gia phải phù hợp kế hoạch kinh tế, chiến lược, chính sách phát triển của Chính phủ Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn 2010 – 2015. Cũng tại buổi họp, đại diện của Bộ VH-TT-DL và Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) - Đơn vị quản lý các điểm đặt điểm truy cập Internet công cộng là thư viện và điểm BĐVHX - đều bày tỏ mong muốn dự án được nâng cấp, mở rộng trên phạm vi toàn quốc và cam kết thực hiện tốt các điều kiện đặt ra. Các doanh nghiệp như VNPT, Viettel, VNPost, EVN Telecom đều có cam kết phối hợp và đóng góp nguồn lực thích hợp trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu, đóng góp ý kiến và tham gia cung cấp đường truyền cho Dự án Quốc gia. (Bưu điện Việt Nam 21/12/2009)

    Khai trương website phục vụ Hội nghị Quốc phòng và An ninh ASEAN 2010

    Chiều 21/12/2009, Bộ Quốc phòng đã khai trương website phục vụ các hội nghị quốc phòng – an ninh ASEAN 2010 tại địa chỉ www.admm.vnwww.admm.org. Đây là một trong những kênh thông tin chính thức của Bộ Quốc phòng Việt Nam về hội nghị trên trong năm mà Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN. (Thanh Niên 22/12/2009)

    Công nghệ đồ hoạ - định hướng hấp dẫn cả về nội dung và hình thức

    Ngày 19/12/2009, tại Thái Nguyên đã diễn ra hội thảo lần đầu tiên về công nghệ 3D và ứng dụng trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế xã hội do Viện CNTT - Viện KHCN Việt Nam và Khoa CNTT - ĐH Thái Nguyên phối hợp tổ chức. TS Lương Chi Mai, Phó Viện trưởng Viện CNTT cho biết, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ đồ hoạ là hết sức cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh nhiều định hướng khác, công nghệ đồ hoạ và thực tại ảo là một trong các định hướng được Viện CNTT ưu tiên đầu tư phát triển. Riêng với ĐH Thái Nguyên, TS Phạm Việt Bình, Chủ nhiệm Khoa CNTT cho biết, là một trường ĐH vùng với vị thế còn chưa mạnh so với các ĐH lớn trong cả nước, ĐH Thái Nguyên rất coi trọng ứng dụng CNTT và công nghệ đồ hoạ là một định hướng hết sức hấp dẫn cả về nội dung lẫn hình thức. Để đẩy mạnh định hướng này, Khoa CNTT – ĐH Thái Nguyên sẽ chủ động hợp tác với các ngành kiến trúc, mỹ thuật, xây dựng… và trong tương lai, khi hoàn thành thủ tục trở thành một ĐH trực thuộc ĐH Thái Nguyên, chuyên ngành đồ hoạ sẽ trở thành một khoa riêng. Tại hội thảo, bên cạnh các báo cáo, thuyết trình thuần tuý kỹ thuật, phần trình diễn về ứng dụng công nghệ đồ hoạ để tái dựng các bối cảnh Thăng Long – Hà Nội của nhóm 3D Hanoi đã được các đại biểu hết sức chú ý. (Diễn đàn Doanh nghiệp 21/12/2009)

    CMC sẽ chào sàn TP.HCM vào tháng 1/2010

    Ngày 17/12/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) đã chấp thuận về nguyên tắc việc niêm yết 63.536.267 cổ phiếu của Tập đoàn công nghệ CMC. Dự kiến, phiên giao dịch cổ phiếu đầu tiên của CMC với mã chứng khoán CMG trên sàn giao dịch HOSE sẽ diễn ra vào giữa tháng 1/2010. CMC hiện là tập đoàn công nghệ lớn thứ 2 tại Việt Nam sau FPT. Trong năm 2008, CMC đạt doanh thu là 2.277 tỷ đồng, tăng trưởng 84% so với năm 2007 và dự kiến tăng trưởng hơn 50% để đạt doanh thu 3600 tỷ trong năm 2009. CMC đặt mục tiêu trở thành tập đoàn hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực CNTT, viễn thông và thương mại điện tử với doanh thu 500 triệu USD vào năm 2012. (ICT News 21/12/2009)

    Báo Sài gòn Giải phóng tặng thư viện điện tử cho học sinh vùng cao Sìn Hồ

    Ngày 21/12/2009 tại huyện vùng cao Sìn Hồ (Lai Châu), đại diện báo Sài Gòn Giải phóng đã trao tặng thư viện điện tử có tổng giá trị 150 triệu đồng cho Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú huyện. Phòng thư viện điện tử gồm 10 bộ máy tính nối mạng ADSL, bàn ghế và các thiết bị đi kèm. Món quà này xuất phát từ ý tưởng của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban chỉ đạo Tây Bắc nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập tỉnh Lai Châu hồi tháng 10/2009. Sìn Hồ có độ cao 1.600 m và là một trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước rất cần được hỗ trợ. Tại lễ trao tặng, ông Đỗ Văn Hán, Giám đốc Sở GDĐT tỉnh Lai Châu cho rằng, đây là món quà đầy nghĩa tình với trường học vùng cao, biên giới còn nhiều khó khăn. Ban giám hiệu nhà trường cũng cam kết sử dụng thư viện điện tử đúng mục đích, đáp ứng nhu cầu của học sinh. (SGGP 22/12/2009)

    Hà Nội: 19 quận huyện chưa hoàn thành kết nối Internet học đường

    Theo thống kê của Sở GDĐT Hà Nội, tính đến nay còn 19 quận, huyện trên địa bàn thành phố chưa hoàn thành việc kết nối Internet tới các trường học, chủ yếu tập trung vào các trường mầm non mặc dù Viettel miễn phí. Lãnh đạo Sở cho biết, khó khăn chính bởi ở một số thôn, xã, chính quyền và người dân cản trở việc xây dựng các trạm viễn thông, không cho kéo cáp, không cho lắp thiết bị, không cấp điện cho các trạm... Bên cạnh đó, nhiều trường không có phòng để máy tính, điện lưới yếu, không có hệ thống bảo vệ chắc chắn, không đủ giáo viên dạy tin học. Những khó khăn này sẽ gây trở ngại cho việc xây dựng và triển khai đề án ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo. (Hà Nội mới 22/12/2009)

    Viettel miễn phí cước thử nghiệm dịch vụ 3G

    Từ nay đến hết ngày 31/12/2009, Viettel tiếp tục thử nghiệm dịch vụ 3G ra các tỉnh, thành phố  trên cả nước. Để tham gia, khách hàng tại các khu vực đã phủ sóng 3G chỉ cần soạn tin: 3G ON gửi tới tổng đài 161. Sau khi đăng ký thành công, thuê bao được giữ nguyên tính chất gói cước cũ, bảo lưu các dịch vụ giá trị gia tăng đã đăng ký trên 2G (trừ dịch vụ Data không được bảo lưu gói cước và tài khoản lưu lượng miễn phí). Các dịch vụ Viettel cung cấp cho thuê bao 3G từ ngày 8/12/2009  bao gồm 2 dịch vụ cơ bản: Video Call, Mobile Internet và 9 dịch vụ giá trị gia tăng như: MobileTV, Imuzik 3G, Mclip, Vmail, Websurf, Dịch vụ Mstore, Wapsite tiện ích 3G, Game online, Mobile Broadband. Khách hàng tham gia thử nghiệm sẽ được miễn phí cước đăng ký và duy trì dịch vụ 3G (10.000đ/tháng). Và còn được tặng 300 MB lưu lượng data (để truy cập Internet, nhận, gửi mail, sử dụng dịch vụ iMuzik 3G, chơi game online, xem video theo yêu cầu-VOD). Ngoài ra, khách hàng cũng sẽ được miễn phí cước thuê bao các dịch vụ giá trị gia tăng 3G như MobiTV, VMail, Imuzik 3G, Mstore. Các dịch vụ ngoài phạm vi khuyến mãi trên sẽ tính theo cước thử nghiệm dịch vụ Viettel 3G. Đặc biệt, khách hàng được sử dụng dịch vụ Video Call nội mạng với giá bằng với giá dịch vụ Voice Call nội mạng thông thường. Giá cước đối với thuê bao trả sau cao nhất chỉ là 990 đồng/phút và trung bình là 1.390 đồng/phút đối với thuê bao trả trước. (Tuổi Trẻ Online 21/12/2009)

    ĐH Sư phạm Huế: 63% sinh viên không biết tra cứu thông tin trên mạng

    Trường ĐH Sư phạm Huế - ĐH Huế, vừa thực hiện cuộc khảo sát về những biểu hiện tiêu cực trong học tập của sinh viên. Kết quả cho biết, 41% cho biết lười đọc sách báo, tạp chí khoa học, 37% không có thói quen đến thư viện, 63% không biết tra cứu thông tin từ mạng Internet. Đáng lo ngại là có 15,63% từng sao chép bài tập, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp. (Người Lao Động 21/12/2009)

    Phát triển lên mô hình tập đoàn, thị trường sẽ nhìn Viettel khắt khe hơn

    Sau việc Thủ tướng Chính phủ có quyết định cho phép Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) thí điểm chuyển đổi sang mô hình tập đoàn, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Viettel cho biết, từ tháng 8/2009, Viettel đã thực hiện tái cấu trúc theo mô hình tập đoàn, dự kiến quá trình chuyển đổi sẽ được hoàn tất vào trước Tết Âm lịch. Một số công ty thành viên sẽ chuyển đổi thành tổng công ty. Viettel sẽ xây dựng Đề án và trình Chính phủ thông qua. Số lượng tổng công ty thành viên sẽ được thay đổi theo quá trình phát triển của Tập đoàn Viettel. Nhưng, trước mắt có thể nhìn thấy ngay một số tổng công ty như tổng công ty đầu tư ra nước ngoài, tổng công ty bất động sản, tổng công ty sản xuất thiết bị. Còn viễn thông là lĩnh vực kinh doanh chính của Tập đoàn sẽ do công ty mẹ quản lý. Ông cũng cho biết, phát triển lên mô hình tập đoàn, thị trường sẽ nhìn Viettel khắt khe hơn, Chính phủ cũng sẽ yêu cầu cao hơn. Hơn nữa, bản thân lãnh đạo Viettel cũng thấy cần phải làm gì để đảm bảo phù hợp với mô hình mới. Có một điều chắc chắn là sức ép thường tạo ra sự phát triển. (Đầu Tư Online 22/12/2009)

    Dell mở rộng kênh phân phối tại Việt Nam

    Theo ông Ng Tian Beng, Tổng giám đốc khu vực Đông Nam Á của hãng máy tính Dell, hiện chương trình Partner Direct của Dell đã có hơn 50.000 đối tác đăng ký và khoảng 1.500 đối tác chứng nhận tại 148 quốc gia và vùng lãnh thổ. Riêng tại Việt Nam, gần như 100% sản phẩm của Dell được bán hàng qua đối tác. Dell có 8 đối tác là Tecapro, Lạc Việt, iTech, FIS, IDC, Hanel, Digiworld, FDC là nhà phân phối đăng ký cho mảng dự án và 4 đối tác cho mảng tiêu dùng cá nhân là Digiword, Petrosecco, FDC và Minh Thông. Trong năm 2010, Dell tiếp tục mở rộng kênh phân phối, đem lại lợi ích cho khách hàng Việt Nam nhiều sự lựa chọn, linh hoạt và lợi ích từ mô hình trực tiếp. Sự đầu tư của Dell và các Partner Direct phản ánh cam kết lâu dài với các đối tác phân phối và vai trò của họ trong việc phát triển thị trường Việt Nam. (TBKTVN 22/12/2009)

    Chưa tới 10% các phụ kiện cho nhà máy của Intel được mua từ các doanh nghiệp trong nước

    Một trong những mục tiêu lớn của TP.HCM khi thu hút Intel vào đầu tư là kích thích phát triển công nghiệp phụ trợ (CNPT) nội địa, cơ hội càng lớn hơn khi Intel công bố đóng cửa 2 nhà máy ở Malaysia và Philippines. Nhưng nay, Nhà máy Intel ở Khu công nghệ cao TP.HCM sắp đi vào hoạt động, cả Intel lẫn Jabil (1 công ty sản xuất công nghệ cao khác) đều thừa nhận chưa tới 10% nguyên liệu sản xuất được mua từ các doanh nghiệp Việt Nam. Khẳng định chắc chắn rằng chiến lược lâu dài của Intel là phát triển nguồn cung cấp nội địa để giảm chi phí sản xuất, ông Rick Howarth, Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam, cho biết Intel đang nỗ lực tìm kiếm các nhà sản xuất nội địa đạt yêu cầu của Intel thông qua việc tổ chức “ngày nhà cung cấp” để các công ty Việt Nam hiểu rõ hơn về nhu cầu của Intel. Điều quan trọng để trở thành nhà cung cấp cho Intel là công ty phải có khả năng thực hiện hoạt động thương mại điện tử bởi hầu hết giao dịch đều được thực hiện trên Internet. Ngoài ra, Intel cần hàng triệu đơn vị sản phẩm mỗi ngày, vì thế cần những công ty có quy mô đủ lớn nhưng rất khó tìm ra những công ty ở Việt Nam có khả năng đáp ứng được yêu cầu như vậy. Intel có thể tìm ra những công ty Việt Nam có năng lực về kỹ thuật nhưng lại không đủ khả năng về tài chính lâu dài, không đủ cơ sở hạ tầng tự động hóa hay điện tử hóa để thực hiện giao dịch thương mại điện tử. Cho đến thời điểm này, Intel mới chỉ tìm được những nhà cung ứng địa phương trong các lĩnh vực cung cấp thực phẩm, làm vệ sinh phòng ốc, dịch vụ Internet, viễn thông, vận chuyển, đóng gói đơn giản... Trong khi đó, chỉ với những sản phẩm là nguyên liệu gián tiếp, Intel cần hàng trăm mặt hàng. Đó là các loại nguyên vật liệu đóng gói, bao bì cho các sản phẩm điện tử, vi điện tử, nguyên vật liệu tránh nhiễm từ (EMI), các sản phẩm cách nhiệt, hệ thống kết nối không dây và giải pháp anten truyền thông... Với những sản phẩm này cung ứng cho Intel, có công ty hàng năm thu được đến 250 triệu đô la Mỹ. (Tuổi Trẻ 22/12/2009)

    Công nghiệp điện tử Việt Nam: hơn 10 năm chỉ làm được vỏ máy

    Bản quy hoạch phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 rất “hoành tráng” với doanh số sản xuất đạt 4 - 6 tỷ đô la Mỹ, xuất khẩu 3 - 5 tỷ đô la Mỹ... Nhưng nhận xét về quy hoạch này, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương lại cho rằng đây chỉ là kế hoạch trên giấy bởi hơn 2 năm kể từ khi quy hoạch được phê duyệt, không 1 kế hoạch hay chương trình hành động nào được đưa ra triển khai, còn ngành công nghiệp phụ trợ (CNPT) thì hiện vẫn đang trong tình trạng manh mún, kém phát triển. Theo một chuyên gia trong ngành, đến thời điểm hiện tại các mục tiêu đề cập nói trên vẫn giậm chân tại chỗ vì một trong những yếu tố khó khăn cơ bản của nền công nghiệp điện tử là thiếu một nền tảng của ngành CNPT cơ bản, điều mà chúng ta không làm được qua suốt thời kỳ bảo hộ mậu dịch trong nước. Bài học rất lớn từ Malaysia, Thái Lan, Indonesia và đặc biệt từ Trung Quốc đã không được áp dụng tốt ở Việt Nam, hoặc là đã được áp dụng một cách máy móc và phiến diện. Một doanh nghiệp chuyên sản xuất đầu karaoke đã có thương hiệu trong nước khẳng định chắc nịch: “Chỉ đặt sản xuất trong nước được mỗi vỏ máy bên ngoài, còn linh phụ kiện bên trong đều nhập từ Trung Quốc!”. Ông Trần Quang Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam, thừa nhận hậu quả của việc không có ngành CNPT đã được phơi bày khá ê chề kể từ khi sự kiện Sony Việt Nam ngưng hoạt động sản xuất. Mất hơn 10 năm nhưng chúng ta chẳng có gì ngoài một công nghệ liên doanh lắp ráp giản đơn. Theo ông Nguyễn Văn Đạo, Phó Tổng giám đốc Samsung Vina, đặc điểm của ngành CNPT nói chung là đầu tư đường dài trong sản xuất, bao gồm nhà xưởng, thiết bị máy móc. Nhưng sản phẩm của CNPT thường chỉ là những linh kiện, vật tư có giá trị không cao, và như vậy cần phải có một lượng sản xuất (tức đơn đặt hàng) khá lớn và ổn định trong một thời gian dài để có thể thu hồi vốn và tạo ra lợi nhuận. Hình thức này phù hợp với loại hình DN vừa và nhỏ, như mô hình thường thấy ở Đài Loan. Tuy nhiên ở Việt Nam sẽ rất khó đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử trong nước cung ứng hàng rẻ và có chất lượng hơn so với vật tư linh kiện nhập ngoại một khi họ không được giúp đỡ, khuyến khích, hưởng ưu đãi tài chính một cách cụ thể. Với một thị trường nội địa còn nhỏ thì không thể có đòi hỏi đó, nhất là khi toàn cầu hóa đang diễn ra. Trung Quốc có thể làm được điều đó bằng thu hút đầu tư FDI vào ngành CNPT vì thị trường nội địa quá lớn. Chính quy mô khổng lồ của thị trường đã giúp Trung Quốc có thể trong một thời gian, tự thu hút và phát triển ngành CNPT song song với các DN công nghệ điện tử khác để tiến tới bước cung ứng cho thị trường toàn cầu. (Tuổi Trẻ 22/12/2009)

    Đưa ứng dụng CNTT vào giáo dục: Không thể làm theo phong trào

    Nhân sự kiện Công ty Điện toán & Truyền số liệu (VDC) triển khai dự án “Kết nối tri thức học đường” và trao tặng 1.260 máy tính, kết nối đường truyền Internet cho 126 trường THCS trên cả nước, ông Vũ Hoàng Liên, Giám đốc VDC đã cho biết, theo khảo sát của VDC, trong 10.500 trường THCS trên toàn quốc, có khoảng 60% trường chưa có máy tính, chưa được nối mạng Internet. Chính vì vậy, việc khuyến khích sử dụng Internet như một phương tiện hỗ trợ việc dạy và học của giáo viên, học sinh đang trở nên cấp thiết, đặc biệt là hỗ trợ những trường khó khăn ở vùng sâu, vùng xa có thêm điều kiện tiếp cận với CNTT, khai thác nguồn tri thức trên mạng Internet đáp ứng nhu cầu giáo dục phổ thông. Theo dự án, mỗi tỉnh, thành sẽ có 2 trường THCS (do Sở GDĐT chọn) được hỗ trợ với mức mỗi trường được tặng 10 bộ máy tính kết nối MegaVNN tốc độ cao, tổng trị giá khoảng 40 triệu đồng. Triển khai một dự án với gần 1.300 máy tính, cung cấp đường truyền Internet tốc độ cao đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn. Vậy biện pháp nào để chương trình đạt hiệu quả? Theo ông,  câu hỏi này cũng là trăn trở lớn. Việc đưa máy tính, đường truyền đến trường học chỉ là chuyện trang bị phương tiện ban đầu, điều quan trọng là làm sao để giáo viên, học sinh sử dụng có hiệu quả. Xác định đây là thách thức, VDC đã lập kế hoạch phối hợp với các đơn vị liên quan để định hướng, hỗ trợ đào tạo tại chỗ, quản lý phòng máy và cả đánh giá hiệu quả chương trình. Cụ thể, VDC sẽ phối hợp với Cục CNTT (Bộ GDĐT) để cùng xây dựng kế hoạch triển khai với nhiệm vụ sẽ phải làm, đánh giá từng bước đã làm được, các vấn đề cần điều chỉnh. Bên cạnh đó là sự phối hợp giữa VDC với VNPT tại các tỉnh thành để triển khai đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật thực hiện chương trình. Và thứ ba, có thể xem đây là sự phối hợp mang tính chất quyết định, khó khăn nhất là giữa VNPT các tỉnh thành với các trường THCS. Nếu việc phối hợp thường xuyên không tốt, chắc chắn dự án sẽ không thể thành công. Tuy nhiên, với mục tiêu cuối cùng là đem lại lợi ích cho giáo viên, học sinh - những người trực tiếp đón nhận chương trình, một vấn đề cũng rất quan trọng đó là các nhà trường cũng cần chủ động xây dựng biện pháp, kế hoạch khoa học để việc ứng dụng CNTT đạt hiệu quả, tránh lãng phí. VDC coi dự án này như một sự khởi đầu thí điểm để rút ra những bài học cho việc thực hiện các dự án rộng hơn ở thời gian tiếp theo. Cũng cần nói thêm rằng làm ứng dụng CNTT, đưa máy tính, đường truyền Internet cho ngành giáo dục, thực sự chúng ta không thể coi đây là chuyện làm theo phong trào. Mà trước hết, cần phải nghĩ đến lợi ích giáo viên, học sinh, phải trả lời được câu hỏi họ sẽ nhận được gì sau các chương trình, dự án. (Bưu điện Việt Nam 21/12/2009).

    ID: O0912_1