• Thứ Ba, 02/02/2010 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 2/2/2010

    Các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương diễn tập chung về an ninh mạng. Còn 30 ngày để khôi phục số thuê bao trả trước. Báo điện tử Công Luận chính thức hoạt động. TP.HCM: Chưa đầy 30 người đăng ký sử dụng thẻ xe buýt thông minh. SCB bắt đầu đổi thẻ ATM. Hải Phòng: Quản lý phương tiện vận tải với VnTracking. Công nghệ tivi 3D phức tạp hơn nhiều so với chiếu phim 3D…

    Các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương diễn tập chung về an ninh mạng  

    Vừa qua, APCERT, Hiệp hội các tổ chức Cứu hộ máy tính khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đã hoàn thành cuộc diễn tập an ninh mạng kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ. Kể từ năm 2005, diễn tập an ninh mạng là hoạt động được tổ chức thường niên giữa các quốc gia trong khu vực, nhằm nâng cao khả năng ứng phó với các cuộc tấn công trên Internet. Chủ đề của cuộc diễn tập lần này là “Tấn công tội phạm mạng có động cơ nhằm vào các hệ thống tài chính” (“Fighting Cyber Crimes with Financial Incentives”). Các thành viên APCERT tham gia phối hợp trong việc phát hiện và phân tích mã độc, ngăn chặn các website lừa đảo và xử lý các cuộc tấn công DDoS xuyên biên giới nhằm vào các hệ thống ngân hàng của các quốc gia. Cùng với HKCERT (Hồng Kông), Trung tâm An ninh mạng Bách khoa Hà Nội (BKIS) đã tham gia diễn tập lần này với tư cách là đội thiết kế nội dung cho cuộc diễn tập. Đề bài được xây dựng để các thành viên APCERT có cơ hội rèn luyện khả năng phân tích các tình huống nhằm phản ứng lại các cuộc tấn công sẽ xảy ra như: phân tích các lỗ hổng của Adobe khi xử lý các file pdf, phân tích virus đánh cắp thông tin tài chính từ ngân hàng hay điều tra hệ thống Botnet sử dụng kỹ thuật ẩn máy chủ điều khiển… Cuộc diễn tập an ninh mạng năm nay có sự tham gia của 16 đại diện đến từ 14 nền kinh tế trong khu vực, bao gồm: Australia, Brunei, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam. Phát biểu sau cuộc diễn tập, ông Roy Ko, chủ tịch APCERT cho biết: “Vai trò của diễn tập an ninh mạng trong khu vực rất quan trọng, vì các cuộc tấn công hiện nay là không có biên giới và vô cùng nguy hiểm. Điều sống còn của tất cả các Tổ chức Cứu hộ an ninh mạng của mỗi nước thành viên là phối hợp chặt chẽ để chống lại các cuộc tấn công xảy trên Internet trong khu vực”. (Hà Nội mới Online 1/2/2010)

    Còn 30 ngày để khôi phục số thuê bao trả trước

    Hôm qua 1/2/2010, hàng chục ngàn thuê bao di động trả trước đã bị các mạng di động khóa hai chiều theo đúng yêu cầu của Bộ TTTT. Tuy nhiên các thuê bao này vẫn còn 30 ngày để khôi phục lại số thuê bao, số tiền trong tài khoản và số ngày sử dụng. Theo thông tin từ các mạng di động, Viettel là mạng có số thuê bao bị khóa lớn nhất và MobiFone là mạng không có thuê bao nào bị chặn. Theo ông Nguyễn Việt Dũng, Phó giám đốc Viettel Telecom, đã có khoảng 50.000 thuê bao Viettel có thông tin đăng ký trùng quá 3 thuê bao sau ngày 31/1/2010 chưa thực hiện việc đăng ký lại thông tin đã bị chặn 2 chiều kể từ lúc 15 giờ hôm qua (1/2/2010). Trong khi đó, đại diện Vinaphone cho biết có khoảng 2.000 thuê bao trả trước cũng đã bị "tạm treo" từ hôm qua. Nếu sau 30 ngày kể từ thời điểm chặn cắt, chủ thuê bao không thực hiện đăng ký sử dụng số thuê bao, các số thuê bao này sẽ bị thu hồi, xóa toàn bộ tiền còn lại cũng như ngày sử dụng. (Thanh Niên 2/2/2010)

    Báo điện tử Công Luận chính thức hoạt động

    Ngay sau lễ khai mạc Hội báo xuân Canh Dần 2010 tại Triển lãm Giảng Võ - Hà Nội sáng 1/2/2010, Hội Nhà báo Việt Nam đã khai trương báo điện tử Công Luận tại địa chỉ www.congluan.vn. Nhà báo Trần Đức Chính - Tổng biên tập báo Nhà báo & Công luận trực thuộc Hội là trưởng ban biên tập báo điện tử Công Luận. (Hà Nội mới 2/2/2010)

    TP.HCM: Chưa đầy 30 người đăng ký sử dụng thẻ xe buýt thông minh

    Ngày 1/2/2010, Trung tâm Quản lý và Điều hành Vận tải Hành khách Công cộng TP.HCM đã bắt đầu thí điểm sử dụng thẻ xe buýt thông minh trên tuyến Sài Gòn - chợ Bình Tây. Tuy nhiên, trong ngày đầu tiên chỉ có 1 – 2 hành khách trên mỗi chuyến xe. Ông Lê Hải Phong – Phó giám đốc Trung tâm cho biết, đã có khoảng 7.000 thẻ thông minh được chuẩn bị để phát hành nhưng hiện mới chỉ có chưa đến 30 hành khách đăng ký. Nguyên nhân do nhiều người chưa quen vàvẫn sử dụng vé giấy như lâu nay. (Lao Động 2/2/2010)

    SCB bắt đầu đổi thẻ ATM

    Sau Vietcombank, đến lượt NHTMCP Sài Gòn (SCB) vừa công bố chiến dịch thay mới toàn bộ số thẻ SCB Link cũ có số thẻ bắt đầu bằng số 157979 đang được lưu hành trên thị trường.
    Đợt thay mới kéo dài đến ngày 31/5/2010 bằng loại thẻ mới có số thẻ bắt đầu bằng 970429. Ngoài loại thẻ SCB Link mới, chủ thẻ có thể chọn các loại thẻ cao cấp hơn như Rose Card hoặc thẻ Tài, Lộc, Phú, Quý khi thực hiện thay đổi. Loại thẻ SCB Link cũ vẫn giao dịch trên ATM đến hết ngày 30/6/2011. (Lao Động 1/2/2010)

    Hải Phòng: Quản lý phương tiện vận tải với VnTracking

    Tháng 1/2010, VNPT Hải Phòng đã tung ra “VnTracking” - giải pháp quản lý phương tiện vận tải ứng dụng công nghệ định vị qua vệ tinh GPS.  VnTracking được ứng dụng công nghệ định vị qua vệ tinh (GPS) kết hợp với công nghệ GSM, GPRS, cho phép giám sát phương tiện theo thời gian thực từ trung tâm thông qua ĐTDĐ, máy tính kết nối Internet. Với bản đồ chi tiết của 63 tỉnh thành trong cả nước, đơn vị quản lý có thể biết được vị trí đỗ, tốc độ, quãng đường di chuyển, mức tiêu hao xăng dầu… Đặc biệt VnTracking còn có chức năng “hộp đen” cho phép xem lại toàn bộ lộ trình phương tiện đã đi qua. Đến nay, dù vẫn đang trong thời gian hoạt động thử nghiệm nhưng VnTracking đang thu hút được sự quan tâm của khá nhiều doanh nghiệp. Ông Nguyễn Đức Dũng, Giám đốc VNPT Hải Phòng cho biết: Phần mềm VnTracking do nhóm kỹ thuật thuộc Trung tâm tin học VNPT Hải Phòng nghiên cứu và phát triển, còn thiết bị được đặt hàng sản xuất từ nước ngoài. VnTracking hiện đã có hơn 200 khách hàng sử dụng, chủ yếu là các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng như công ty taxi Hoa Phượng, công ty Cổ phần vận tải TASA, các khách hàng cho thuê xe tự lái… Với việc cung cấp VnTracking, VNPT Hải Phòng đã trở thành đơn vị đầu tiên trong hệ thống đơn vị thành viên của Tập đoàn VNPT tại các tỉnh thành triển khai dịch vụ khá “hot” này. Tuy nhiên, do “sinh sau đẻ muộn”, VnTracking đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh... Về vấn đề này, ông Dũng khẳng định VNPT Hải Phòng sẽ cạnh tranh bằng giá thành sản phẩm, chất lượng dịch vụ… Với giá thành cho một gói sản phẩm của VnTracking dự kiến vào khoảng 250 đô la Mỹ và thiết bị lắp đặt trên mỗi phương tiện là 50 đô la Mỹ thì đây sẽ là mức khá cạnh tranh, do rẻ hơn so với nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng quyết định sự thành bại của việc cạnh tranh chính là chất lượng sóng GPRS của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và khả năng “bắt” GPRS của thiết bị. Thực tế cho thấy, nếu là sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh thiết bị và phần mềm độc lập như VietMap, khách hàng có quyền được lựa chọn sử dụng sóng GPRS của các nhà mạng như Viettel, Vinaphone hoặc Mobifone, thì với VnTracking do Viễn thông Hải Phòng cung cấp sử dụng dịch vụ GPRS của VinaPhone thì việc có đảm bảo chất lượng tín hiệu GPRS theo hành trình thực của các phương tiện vận tải tại các loại địa hình (nhất là tại vùng sâu vùng xa) hay không sẽ là một thách thức lớn. (Bưu điện Việt Nam 1/2/2010)

    Công nghệ tivi 3D phức tạp hơn nhiều so với chiếu phim 3D

    Theo GS Nguyễn Văn Ngọ, Chủ tịch Danh dự Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam, công nghệ phát hình của tivi 3D phức tạp hơn nhiều so với chiếu phim 3D. Chỉ cần một trong số các máy phát chậm hơn 1/1.000 giây là có thể làm cho hình ảnh bị gián đoạn, méo hình. Do đó trong giai đoạn đầu, việc méo hình, dừng hình rất dễ xảy ra. Điều này có thể khắc phục nếu đầu thu tích hợp tốt công nghệ. Tuy nhiên, người xem cũng không nên xem hình ảnh 3D quá 15 phút vì sẽ rất hại mắt. Chỉ nên xem cho các chương trình khám phá, giải trí chứ không sử dụng công nghệ 3D cho thời sự. Điều này, chính các nhà cung cấp dịch vụ phải lựa chọn để giữ khán giả với công nghệ 3D. (Khoa học & Đời sống 2/2/2010)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam bị hạn chế bởi mặt bằng chung về CNTT

    Trong bối cảnh số lượng thành viên tham gia thị trường chứng khoán (TTCK) ngày một gia tăng thì công nghệ hiện đại chính là chìa khoá để quản lý. Tuy nhiên, theo nhiều nhận xét thì TTCK Việt Nam đang bị hạn chế bởi mặt bằng CNTT của đất nước. Từ đó thiếu những quy định bắt buộc trong các văn bản pháp luật. TTCK là một trong các thị trường tiên tiến, hiện đại bậc nhất thì việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến sẽ phải trở thành đòi hỏi bắt buộc để có thể quản lý hiệu quả. (TBKTVN 2/2/2010)

    Việt Nam vẫn chậm chạp trong triển khai IPv6

    Theo ông Trần Minh Tân, Phó giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Tình trạng cạn kiệt tài nguyên IPv4 đã được báo hiệu từ năm 2005, 2006. Năm 2007, các cơ quan quản lý về IP trên toàn cầu như Trung tâm thông tin mạng châu Á - Thái Bình Dương (APNIC), LACNIC (khu vực Mỹ La tinh), RIPE NCC (khu vực châu Âu)… đã thống nhất ra nghị quyết về tình hình báo động này và đưa ra lộ trình cạn kiệt từ 2 - 4 năm nữa (2010 - 2012 là hết hoàn toàn). Hiện tại lượng tài nguyên IPv4 chỉ còn lại dưới 10%, tổ chức NRO (Cơ quan cấp phát địa chỉ Internet toàn cầu) đã ra một thông cáo chung đến các quốc gia. Để đối phó với vấn đề nghiêm trọng này, không chỉ riêng Việt Nam mà ngay cả APNIC cũng đã thắt chặt thêm quy trình cấp phát địa chỉ để duy trì sự tồn tại của địa chỉ IPv4 và chỉ cấp phát trong những trong trường hợp thực sự cần thiết. Các quốc gia đều phải thành lập Ban công tác thúc đẩy triển khai IPv6 thay cho IPv4. Việt Nam cũng đã thành lập Ban công tác vào đầu tháng 1/2009. Trong thời gian quá độ đến 2012, khi các ISP có nhu cầu xin cấp phép cần phải giải trình được đó là nhu cầu thực. Bên cạnh đó, các ISP cũng sẽ phải chuẩn bị chuyển đổi dần sang IPv6. Trong đó cần phải triển khai nghiên cứu, đào tạo cán bộ kĩ thuật những kiến thức cơ bản về IPv6, để có thể đáp ứng và sẵn sàng cho việc chuyển đổi. Cùng với đó còn phải nghiên cứu về dịch vụ để cung cấp trên nền tảng IPv6 thay thế cho IPv4. Hiện các ISP mới chỉ ứng dụng IPv6 ở mức độ thử nghiệm trong phòng lab. Nhưng để chuyển sang IPv6 từ IPv4 thì phải có thử nghiệm thực tế trên mạng diện rộng. Theo Chỉ thị về thúc đẩy sử dụng IPv6 của Bộ TTTT, toàn bộ số IP phải đấu nối đến mạng trung chuyển Internet của VNNIC để tiến hành thử nghiệm IPv6 trên diện rộng. VNNIC sẽ làm cầu nối cho các mạng này ra quốc tế. Ông cũng cho biết, về mặt công nghệ thì không có khó khăn gì cả. Các thiết bị sản xuất trong thời gian gần đây đều đã hỗ trợ IPv6 rất tốt. Vấn đề chỉ là chuyện quy hoạch và đánh số thế nào cho phù hợp bởi sẽ có giai đoạn tồn tại song song IPv4 và IPv6. Có những thiết bị hiện tại chạy tốt trên IPv4 và khách hàng còn nhu cầu sử dụng thì sẽ phải tiếp tục chạy trong thời gian tới. Nhưng dần dần thay thế vào đấy là các dịch vụ mới chỉ có trên IPv6. Điều này, dẫn đến tình trạng trong mạng sẽ có lai ghép giữa cả IPv4 và IPv6. Ưu thế là, IPv6 có đến 128 bit để đánh địa chỉ. Trên không gian rộng hơn như thế thì người ta sẽ sử dụng được nhiều bit hơn cho phần header của gói tin. Qua đó, người ta sẽ đưa ra một loạt các công nghệ mới. Ví dụ như bảo mật, trước đây, với IPv4 để giải quyết vấn đề bảo mật thì phải sử dụng firewall cũng như một loạt các công nghệ khác. Nhưng giờ đây với IPv6 thì có thể bảo mật trực tiếp từ máy tính nọ sang máy tính kia. Chính vì thế mà công nghệ bảo mật trên IPv6 rất phát triển. Ngoài ra, một số các dịch vụ khác như quảng bá định tuyến cũng sẽ rất phát triển trên IPv6… Có thể nói, với cách thiết kế, IPv6 tỏ ra ưu việt về không gian địa chỉ cũng như các công nghệ sử dụng trên đó. Trong quá trình triển khai, các doanh nghiệp sẽ dần dần hình dung và có các hướng, đề xuất các dịch vụ phát triển trên nền IPv6. Tuy nhiên, ngoài những yếu tố về mặt công nghệ, thị trường mới là đóng vai trò quyết định nhưng IPv6 sẽ tạo ra những nền tảng rất thuận lợi để triển khai dịch vụ, sản phẩm mà chỉ riêng IPv6 mới có được. Trước mắt, các dịch vụ IPv6 ở Việt Nam hầu như chưa có. Tuy nhiên, với dịch vụ IPTV đang phát triển ở Việt Nam nếu được sử dụng trên IPv6 thì sẽ rất hiệu quả. Đến thời điểm hiện tại, lượng đăng ký sử dụng IPv6 ở Việt Nam rất nhiều, đứng thứ 26 trên toàn cầu. Nhưng lại chưa có đơn vị nào thực sự triển khai IPv6 mà hầu hết mới chỉ dừng lại ở bước thử nghiệm trong nội bộ. Đấy là một điều cần phải nhấn mạnh để các doanh nghiệp khẩn trương thực hiện. Hy vọng trong thời gian tới, sau khi đã có Ban hành chương trình hành động quốc gia về IPv6 thì các doanh nghiệp sẽ phải xây dựng các kế hoạch phù hợp và tiến hành triển khai sử dụng thực thì mới kịp chuyển đổi bởi thời gian chỉ còn 1 - 2 năm nữa. Về những biện pháp để đẩy mạnh quá trình sử dụng IPv6, điều này phụ thuộc chủ yếu vào các ISP. Chính các ISP sẽ là người quyết định việc thực hiện. Ban chỉ đạo quốc gia về IPv6 chỉ đóng vai trò định hướng và thúc đẩy. Còn các ISP sẽ phải nhanh chóng triển khai. ISP nào triển khai trước thì sẽ được hưởng lợi thế về các dịch vụ cung cấp về sau này, và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạt động của các ISP. (Bưu điện Việt Nam 1/2/2010).

    ID: O1002_1