• Thứ Hai, 26/04/2010 07:22 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 26/4/2010

    Khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo ĐH. Việt Nam được coi là thị trường viễn thông triển vọng nhất ASEAN. Khai trương dịch vụ truyền hình MyTV tại Quảng Ninh…

    Khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo ĐH

    Gần 1.000 giảng viên, sinh viên các khoa, trường thành viên ĐH Huế tham dự hội thảo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, diễn ra sáng 24/4/2010, do Đoàn ĐH Huế tổ chức. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đến dự và đối thoại cùng sinh viên.Trước những ý kiến, đề xuất của đông đảo giảng viên, sinh viên ĐH Huế về vấn đề đổi mới quản lý giáo dục, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân lưu ý: Nên thường xuyên kêu gọi, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, bình quân mỗi trường có ít nhất từ 3 doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào đào tạo, coi doanh nghiệp như là đối tác chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó đi đầu là doanh nghiệp nhà nước. (Tiền Phong 25/4/2010)

    Việt Nam được coi là thị trường viễn thông triển vọng nhất ASEAN

    Mạng tin trực tuyến Channel NewsAsia (CNA) ngày 23/4/2010 cho biết, tập đoàn viễn thông hàng đầu của Mỹ AT&T coi Việt Nam là thị trường nhiều triển vọng nhất trong khu vực ASEAN. Theo đánh giá của AT&T, Việt Nam là nơi có nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và AT&T đang cố gắng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ở Việt Nam bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông, nhất là trong những khu vực có số lượng lớn khách hàng. Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, doanh số kinh doanh của tập đoàn AT&T tại thị trường ASEAN tăng 18% năm 2009, so với mức tăng 16% năm 2008. Năm 2010, tập đoàn này đã dành 1 tỷ USD để triển khai thêm nhiều ứng dụng, dịch vụ và hỗ trợ cho khách hàng trên toàn cầu. (Đại biểu Nhân dân 24/4/2010)

    Khai trương dịch vụ truyền hình MyTV tại Quảng Ninh

    Ngày 22/4/2010, tại khách sạn Grand Hạ Long (TP Hạ Long), Viễn thông Quảng Ninh (VNPT) chính thức khai trương dịch vụ truyền hình MyTV (dịch vụ truyền hình qua giao thức Internet) và trao thưởng chương trình quay số may mắn “Mega VNN chào mừng 1.000 năm Thăng Long". Khác với công nghệ truyền hình truyền thống chỉ có khả năng cung cấp thông tin định tuyến một chiều thì dịch vụ MyTv có khả năng tạo ra tính tương tác 2 chiều giữa khách hàng với dịch vụ. Thông qua vật dụng phổ biến trong gia đình là chiếc ti vi, chỉ cần đầu tư thêm thiết bị đầu cuối cho phép thu, giải mã, hiển thị nội dung và một đường truyền Internet băng rộng của VNPT, chúng ta có thể tận hưởng những dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích, mang tính hội tụ số của MyTv như: các dịch vụ quảng bá, dịch vụ theo yêu cầu và đặc biệt là các dịch vụ tương tác. Việc cho ra đời dịch vụ mới MyTv đánh dấu nỗ lực của VNPT Quảng Ninh trong việc đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Nhân dịp này, VNPT Quảng Ninh đã trao 1 giải nhất là 1 MTXT trị giá 10 triệu đồng và trên 90 giải nhì cho các khách hàng của Viễn Thông Quảng Ninh may mắn trúng thưởng chương trình dịch vụ “Mega VNN chào mừng 1000 năm Thăng Long” được quay số tại Hà Nội vừa qua. (báo Quảng Ninh 24/4/2010)

    Văn học mạng là cơ hội mở cho người viết nghiệp dư

    Theo nữ nhà văn, dịch giả Trang Hạ, nếu không phải là văn học mạng thì không ít tác phẩm sẽ không được biết đến rộng rãi như thế. Hình thức văn học mạng là một lựa chọn thông minh với bất kỳ nhà văn nào, cho dù không phải là nhà văn mạng. Thực tế, văn học mạng là một cơ hội mở cho mọi người viết nghiệp dư có thể thành nhà văn và tại sao ta lại từ chối nó? (Hải Quan 25/4/2010)

    Chưa quen dùng ATM liên mạng

    Đến nay, tuy hệ thống máy ATM của các NH đã liên thông với nhau nhưng nhiều người sử dụng thẻ vẫn giữ thói quen rút tiền tại chính máy ATM của NH phát hành thẻ. Ngoài lý do tránh bị phiền phức khi gặp sự cố, nhiều chủ thẻ còn ngại phải trả phí. Theo ông Lê Trí Thông, Phó Tổng giám đốc NH Đông Á, phí giao dịch ngoại mạng sẽ do NH phát hành thẻ đứng ra thu hộ. Sau đó trên mỗi giao dịch NH phát hành thẻ phải trích 1.100 đồng trả cho tổ chức chuyển mạch, phần còn lại 2.200 đồng trả cho NH thanh toán. Tính đến cuối tháng 3 số khách hàng của liên minh thẻ Smartlink rút tiền tại máy ATM của NH Đông Á đã tăng gấp ba lần so với đầu năm 2010. Điều đó có nghĩa mở rộng mạng lưới NH đồng thời phải gia tăng chi phí đầu tư hệ thống, đường truyền, đặc biệt mật độ tiếp tiền phải dày hơn để đảm bảo hệ thống vận hành thông suốt. Các NH cũng phải tăng số tiền tiếp quỹ cho các máy ATM. Trước đây một máy ATM được nạp trung bình khoảng 700 triệu đồng thì nay phải tăng lên 1 tỉ đồng. Với những NH có thị phần máy ATM lớn như Vietcombank, Agribank, Vietinbank, Đông Á... lượng tiền tồn trong máy lên đến cả nghìn tỉ đồng/NH, trong khi đó nếu đưa vào kinh doanh số tiền này sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn. Còn theo ông Ngô Ngọc Đông, Tổng giám đốc Công ty Chuyển mạch tài chính quốc gia VN (Banknetvn), chi phí thực tế mà các NH phải bỏ ra để phục vụ những giao dịch rút tiền liên mạng thực tế lên đến gần 10.000 đồng/giao dịch. Ngay cả với giao dịch nội mạng chi phí cũng lên tới 5.000 đồng/giao dịch. Do đó mức phí mà các NH thanh toán đang thu chỉ mang tính tượng trưng chứ chưa thể gọi là đủ bù đắp các chi phí. Theo các NH, chính sách miễn phí với giao dịch rút tiền nội mạng vô hình trung đã khuyến khích khách hàng sử dụng tiền mặt trong khi các NH lại gặp khó khăn trong việc giải quyết nguồn thu để tái đầu tư phát triển mạng lưới cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ. Ông Lê Trí Thông cho rằng, trong điều kiện chưa thể tăng phí rút tiền ngoại mạng ngay, các NH phát hành thẻ có thể tận dụng cơ sở hạ tầng sau khi các liên minh thẻ kết nối với nhau để tiết kiệm chi phí đầu tư. Tới đây NH Đông Á sẽ bố trí lại vị trí máy rút tiền cho phù hợp hơn. Trước đây NH thường bố trí 2 - 3 máy ATM 1 chỗ để người rút tiền khỏi phải chờ đợi, do đó dẫn đến có những địa điểm tập trung hàng loạt máy ATM của các NH khác nhau. Nay các mạng đã kết nối liên thông, NH sẽ dời bớt máy ATM đến lắp đặt ở những điểm chưa có máy. Như vậy vừa giảm đáng kể kinh phí đầu tư lắp đặt thêm máy mới, vừa tạo thuận lợi cho người sử dụng thẻ. (Tuổi Trẻ 26/4/2020)

    Bao giờ hết “chưa gắn...”?

    Chất lượng nhân lực CNTT kém cả về ngoại ngữ lẫn chuyên môn. cho dù hiện cả nước có 235 cơ sở đào tạo có ngành liên quan đến CNTT, nhưng yếu kém về chất lượng vẫn là chuyện hàng ngày. Hiện nay, quy mô đào tạo CNTT bậc đại học đang tăng mạnh từng năm, tuy nhiên các trường khó tuyển dụng được người giỏi làm giảng viên, giáo viên. Việc nghiên cứu, dự báo phân tích nhu cầu và đào tạo lao động CNTT ở mọi cấp - từ quy mô quốc gia đến quy mô vùng, địa phương - chưa được thực hiện.Trong khi đó, nguồn tài chính phục vụ phát triển nguồn nhân lực CNTT cũng như chương trình đưa tin học vào nhà trường "còn hạn chế". Môn tin học trong trường phổ thông (bắt buộc ở cấp THPT và tự chọn ở cấp THCS và tiểu học) hiện chỉ nặng về lý thuyết. Cả chương trình đào tạo cũng như đội ngũ giảng viên... chưa sẵn sàng - đây là đánh giá của Tổng Thư ký Hội Tin học Việt Nam. Kết quả chúng ta có gì: Đầu ra chất lượng kém, không kiểm soát được và... không thể kiểm soát. Câu hỏi đặt ra: Đào tạo chưa gắn với nhu cầu xã hội - mà không chỉ là câu chuyện của riêng lĩnh vực CNTT - hậu quả của nó như thế nào? Câu trả lời đã rõ. Xin dẫn thêm ví dụ khác: Trong một đợt tuyển dụng nhân sự, nhà máy của Intel tại TP.HCM chỉ "chấm" được 40 người, trong khi nhu cầu lên tới 3.000 lao động. Rất nhiều ứng viên bị "chặn đứng trước cổng nhà máy" là kỹ sư tốt nghiệp trường lớn, như ĐH Bách khoa TP.HCM chẳng hạn. Và chúng ta có vô số cử nhân, kỹ sư, công nhân... không xin nổi việc làm, bởi yếu tố chuyên môn; và rồi chúng ta có vô số cử nhân, kỹ sư, công nhân... làm trái ngành, trái nghề... Vậy, bao giờ điệp khúc "chưa gắn..." mới chấm dứt? (Hà Nội mới 25/4/2010)

    Địa phương xây dựng portal, website: Vẫn chỉ là phong trào?

    Từ đầu những năm 2000 tới nay, hầu hết các tỉnh, thành, bộ, ngành đã xây dựng cổng thông tin, hoặc website cho riêng mình. Việc xây dựng và duy trì tính ra phải “ngốn” hàng tỷ đồng, thế nhưng phần lớn gây lãng phí không nhỏ. Nhiều ý kiến cho rằng, việc các địa phương xây dựng web/portal hiện nay vẫn đang theo phong trào chứ chưa phải xuất phát từ nhu cầu thực tế. Theo Báo cáo tình hình ứng dụng CNTT năm 2008-2009, tính đến tháng 12/2009, đã có 60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có website/portal (chỉ còn 3 tỉnh chưa có website là Đắk Nông, Ninh Bình và Hòa Bình). 44/63 tỉnh báo cáo có cung cấp dịch vụ công trực tuyến; 19 Bộ, cơ quan ngang Bộ có Website/Portal và có cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, với những gì thể hiện trên các Website/Portal, việc cung cấp thông tin chủ yếu để phục vụ người dân và doanh nghiệp (theo tiêu chí của các web/portal) của đa số địa phương còn rất hạn chế. Con số đưa ra chắc khiến nhiều người phải giật mình. Ngoài những website/cổng thông tin được đánh giá là điển hình như Website/Portal của Chính phủ - www.chinhphu.vn, UBND TP.HCM - www.hochiminhcity.gov.vn, UBND tỉnh Quảng Bình - www.quangbinh.gov.vn, Bộ GDĐT - www.moet.gov.vn, Bộ NN và PTNT - www.agroviet.gov.vn..., hầu hết các trang thông tin điện tử khác vẫn chủ yếu để… làm cảnh. Đến tháng 12/2009, 100% các Bộ ngành vẫn chưa cung cấp đầy đủ thông tin chủ yếu lên Website/Portal theo quy định. Mới chỉ có 57,89% Website/Portal có thông tin giới thiệu của cơ quan và của từng đơn vị trực thuộc. Con số còn thấp hơn rất nhiều về thông tin các thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến (5,26%). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và văn bản quản lý hành chính có liên quan cũng chỉ mới có 10,53% Website/Portal đáp ứng. Thông tin tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách, chiến lược, quy hoạch chuyên ngành có khả dĩ hơn, cũng chỉ ở mức 63,16%. Khả dĩ nhất là cập nhật đầy đủ và kịp thời thông tin, đạt 73,68%. Tình hình cung cấp thông tin tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng không mấy khả quan. Mới có 3,33% địa phương có thông tin về thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến; Mục lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân cũng mới chỉ 3,33% địa phương, tỉnh thành có. Chức năng cập nhật đầy đủ và kịp thời thông tin đạt 6,67%... Xây dựng được một website hay portal, trung bình mỗi bộ ngành phải bỏ ra tới vài trăm triệu đồng, ấy là chưa kể tiền duy trì hàng năm, cũng ngót nghét vài chục triệu đồng. Thế nhưng, với những gì hiện diện trên những trang thông tin, cổng thông tin này, cho thấy vẫn chưa xứng tầm với chi phí bỏ ra. Việc xây dựng xem ra vẫn mang nặng tính phong trào theo kiểu "cho bằng anh bằng em". Thiết nghĩ, việc “đánh trống, bỏ dùi” như thế này cần phải sớm được khắc phục trong thời gian tới để không chỉ giải quyết được bài toán lãng phí mà hơn hết, website/portal được mang đúng “trọng trách” của nó đó là ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp. (VnMedia 25/4/2010).