• Thứ Ba, 27/04/2010 09:32 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 27/4/2010

    Các nhà ngôn ngữ học đã nhập cuộc “sân chơi” CNTT. Lấy ý kiến về Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến. Yêu cầu các doanh nghiệp xem xét kỹ kế hoạch nhập khẩu thiết bị 3G…

    Các nhà ngôn ngữ học đã nhập cuộc “sân chơi” CNTT

    Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (VLS) vừa nhất trí cùng Hội Trí thức KHCN Trẻ Việt Nam (VAYSE) trong việc đóng góp ý kiến xây dựng “Đề án Tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT” do Bộ TTTT chủ trì soạn thảo. Theo đó, các nhà ngôn ngữ học cho rằng định hướng về Ngôn ngữ học phải được thực hiện một cách thoả đáng trong chương trình đào tạo ở bậc ĐH và sau ĐH về CNTT. Đồng thời, định hướng về CNTT cho việc đào tạo về Ngôn ngữ học và Ngữ văn ở bậc ĐH và sau ĐH cũng phải được thực hiện một cách thiết thực với đầy đủ các kiến thức nền tảng cần thiết. Riêng về các chương trình nghiên cứu khoa học, cần có sự tham gia của cả hai ngành CNTT và Ngôn ngữ học cùng những quá trình chuyển giao thực tiễn với sự hợp tác của doanh nghiệp với những đầu tư thoả đáng của Nhà nước. Đặc biệt, bên cạnh Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT và cơ quan quản lý Nhà nước về CNTT (Bộ TTTT), cần có một cơ quan của Chính phủ về Ngôn ngữ học để làm đầu mối quản lý và hoạch định chiến lược quốc gia cho Ngôn ngữ học. TS Dương Kỳ Đức - Tổng thư ký VLS nhận định: CNTT và ngôn ngữ học gắn bó chặt chẽ với nhau và không thể tách rời như hai mặt của một tờ giấy. Sự phát triển của CNTT không thể thiếu ngôn ngữ học và ngược lại. Đã đến lúc không thể chậm trễ hơn nữa, ngành ngôn ngữ học phải chủ động bước vào sân chơi của thời đại và ngành CNTT cũng phải quan tâm xứng đáng tới ngôn ngữ học để mở được cánh cửa tri thức cho mọi lĩnh vực khác. Được biết, VLS cùng VAYSE đã có kế hoạch tiếp xúc với Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Bộ TTTT để vận động cho định hướng chiến lược hết sức quan trọng này. (eFinance.vn 26/4/2010)

    Lấy ý kiến về Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến

    Bộ TTTT đã đưa nội dung của Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến (ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) lấy ý kiến của nhân dân trên trang thông tin điện tử www.mic.gov.vn. Ngoài ra, 3 văn bản khác liên quan đến tần số vô tuyến điện cũng được đưa ra lấy ý kiến là Dự thảo Thông tư ban hành “Quy hoạch băng tần cho hệ thống truy nhập vô tuyến băng rộng của Việt Nam trong dải tần 2300 – 2400 MHz”, Dự thảo “Quy hoạch băng tần cho hệ thống truy nhập vô tuyến băng rộng của Việt Nam trong dải tần 2500 – 2690 MHz” và Dự thảo Thông tư Hướng dẫn thủ tục cấp phép sử dụng, cho mượn và sử dụng chung tần số vô tuyến điện. (Bưu điện Việt Nam 26/4/2010)

    Yêu cầu các doanh nghiệp xem xét kỹ kế hoạch nhập khẩu thiết bị 3G

    Nhằm kiểm soát nhập siêu, Bộ TTTT vừa có văn bản 1124/BTTTT-QLCL đề nghị các doanh nghiệp (DN) khai thác mạng thông tin di động mặt đất xem xét kỹ kế hoạch nhập khẩu, kinh doanh thiết bị đầu cuối 3G (trong đó có máy điện thoại iPhone 3G) trên cơ sở chỉ nhập khẩu theo đúng nhu cầu của thị trường, tránh việc nhập khẩu ồ ạt. Văn bản này được ban hành nhằm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, đặc biệt liên quan việc nhập khẩu thiết bị 3G. Theo đó, các DN cần có định hướng cho khách hàng sử dụng các thiết bị phù hợp với dịch vụ cần sử dụng, tránh tạo thị hiếu mua thiết bị đắt tiền, gây lãng phí không cần thiết. Về việc xây dựng và phát triển hệ thống 3G, trên cơ sở cam kết của DN trong hồ sơ thi tuyển, Bộ TTTT yêu cầu các DN xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể theo từng thời kỳ trên cơ sở tối ưu hoá mạng lưới bằng việc sử dụng triệt để tài nguyên sẵn có từ mạng 2G, 2,5G cùng các vật tư, thiết bị sản xuất trong nước để xây dựng hệ thống 3G với mục đích giảm thiểu chi phí nhập khẩu thiết bị mới, giảm giá thành đầu tư, qua đó tăng hiệu quả vốn đầu tư. DN cũng cần xây dựng chiến lược phát triển phù hợp trên cơ sở hiện trạng mạng lưới, nhóm dịch vụ chiến lược và các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ từ phía người sử dụng để có kế hoạch mua sắm thiết bị phù hợp, tránh việc nhập khẩu thiết bị ồ ạt, gây lãng phí. (Nhân dân Điện tử 26/4/2010)

    FPT IS nhắm vào thị trường Myanmar

    Công ty Cổ phần Hệ thống Thông tin FPT (FPT IS) đang có nhiều hoạt động tích cực hướng đến thị trường tiềm năng Myanmar. Cuối tháng 3/2010, ông Phùng Việt Thắng, Phó Tổng giám đốc FPT IS và ông Alexis Delevaux, Giám đốc Công ty EGGL, công ty thương mại được cấp phép chính thức hoạt động ở Hồng Kông, đã cùng ký kết thỏa thuận về việc EGGL sẽ là đại diện bán hàng cho FPT IS tại Myanmar. Theo thỏa thuận này, với vai trò là đại lý chính thức của FPT IS tại Myanmar, EGGL sẽ nỗ lực để tìm kiếm khách hàng, phát triển thị trường cho các sản phẩm, dịch vụ của FPT IS tại nước này. Thời hạn hiệu lực của thỏa thuận này là 2 năm và sẽ tự động gia hạn 2 năm/lần trừ phi có các thỏa thuận khác của các bên. (Bưu điện Việt Nam 26/4/2010)

    Thừa Thiên - Huế: Đưa CNTT vào CCHC tuyến huyện

    Sở KHCN Thừa Thiên - Huế vừa phê duyệt dự án kết nối mạng tin học diện rộng đến các phòng của UBND các huyện trên địa bàn. Mục tiêu của dự án này là nhằm đẩy mạnh tin học hóa hoạt động quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện; tăng cường sử dụng văn bản điện tử, nâng cao một bước công tác tổ chức, quản lý, điều hành qua môi trường mạng; xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thông tin quản lý hành chính nhà nước của tỉnh… Thời gian triển khai dự án là từ nay đến hết năm 2010 với tổng kinh phí 1,6 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước. (Bưu điện Việt Nam 26/4/2010)

    TP.HCM: MobiFone nghẽn mạng kéo dài

    Trong buổi chiều 26/4/2010, nhiều khách hàng sử dụng ĐTDĐ mạng MobiFone tại khu vực chợ Bà Chiểu, P.2, Q.Bình Thạnh (TP.HCM) đã phản ảnh về tình trạng tắc nghẽn mạng kéo dài, gây thiệt hại và phiền phức cho khách hàng. Theo ghi nhận của chúng tôi, nhiều cuộc gọi đến thuê bao MobiFone ở khu vực trên luôn trong tình trạng mạng quá tải hoặc không liên lạc được. Sự cố này kéo dài từ khoảng 17 giờ đến tận 21 giờ cùng ngày vẫn chưa được khắc phục. Trao đổi với Thanh Niên, đại diện MobiFone cho biết chỉ vừa mới nhận được thông tin thông qua phản ảnh của khách hàng nên chưa tiến hành kiểm tra để khẳng định chính xác nguyên nhân sự cố. Vị đại diện này cũng cho biết sẽ kiểm tra ngay và trong sáng 27/4/2010 sẽ có thông báo chính thức. (Thanh Niên 27/4/2010)

    Hội thảo về chuẩn tiếng Việt trên máy tính sẽ được tổ chức vào tháng 7/2010

    Về kiến nghị của Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và Hội Trí thức KHCN Trẻ Việt Nam đã gửi Bộ trưởng Bộ GDĐT xung quanh việc cần có sự thống nhất các chuẩn mực cho tiếng Việt trên môi trường máy tính và sách giáo khoa, TS Quách Tuấn Ngọc - Cục trưởng Cục CNTT Bộ GDĐT cho biết, Bộ trưởng đã giao trách nhiệm cho Cục CNTT phối hợp với các vụ chức năng của bộ chủ trì xây dựng thông tư hướng dẫn để lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học và chính thức ban hành sớm ngay trong năm nay. Dự kiến tháng 7/2010 sẽ có hội thảo tại Hà Nội về vấn đề này. Một hội đồng khoa học với sự tham gia của đại diện hai ngành CNTT và ngôn ngữ học cũng sẽ ngồi lại để cùng nhất trí những nội dung cơ bản cho dự thảo thông tư. (Sài Gòn Tiếp Thị 26/4/2010)

    CNTT “đói” chuẩn tiếng Việt

    Xung quanh kiến nghị nói trên, ông Nguyễn Đức Hoàng - người phát ngôn của Hội Trí thức KHCN Trẻ Việt Nam cho biết, CNTT là công cụ hiện đại nhưng để sử dụng được phải cần đến phương tiện là ngôn ngữ. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, ngành CNTT vẫn coi nhẹ chuẩn tiếng Việt, còn ngành ngôn ngữ thì tự mình chưa vượt qua ngưỡng. Đưa ra ví dụ, ông Hoàng cho biết, điểm dễ thấy nhất hiện nay là dấu huyền phải đánh vào “o” hay “a”, cụ thể với “hoà” hay “hòa” đều chưa thống nhất. Để tìm kiếm “hoàn” và “hoàng” trên google thì rõ ràng phải đánh vào “a” mới hợp lý nhưng có nhiều nơi vẫn cố tình đánh dấu vào nguyên âm đứng trước với lý do để thuận mắt và đẹp hơn. Chuyện “i” hay “y” cũng đang gặp phải phản đối của giới nghệ sĩ bởi việc quy về một mối theo họ sẽ làm mất đi cái bay bổng, ngâm nga trong sáng tác. TS Đào Hồng Thu, giảng viên ngôn ngữ học khối liệu, ĐH Bách khoa Hà Nội (người có nhiều năm nghiên cứu chuẩn tiếng Việt trên máy tính) cũng chia sẻ việc không có một chuẩn thống nhất cho cho chuyện này đã cản trở phát triển các hệ thống dịch máy. Nếu không có chuẩn, việc dạy học sinh, sinh viên cũng rất khó, khi các sinh viên ra trường họ sẽ dùng lung tung, để lại hậu quả tới nhiều năm sau. Chưa kể không có chuẩn sẽ gây biến thiên ngôn ngữ trong hành văn, lời nói. Giao thoa ngôn ngữ sẽ bị ảnh hưởng khi giao lưu với nước ngoài. KS Đặng Minh Tuấn, Trưởng nhóm Vietkey cho biết, không có chuẩn tiếng Việt tất yếu sẽ làm cho việc trao đổi văn bản dữ liệu gặp khó khăn, nhất là trong thời đại mọi người trao đổi thông tin trên mạng là một xu thế, “Không có ngôn ngữ chung cho máy tính, tất nhiên sẽ không thể khai thác được cơ sở dữ liệu, chính phủ điện tử, thương mại điện tử sẽ không có môi trường để phát triển”, ông Tuấn nói. TS Lương Chi Mai, Phó Viện trưởng Viện CNTT, Viện KHCN Việt Nam cũng cho rằng, nếu bài toán chuyển đổi tiếng Việt trong CNTT không được giải sớm thì người Việt Nam sẽ bị hạn chế trong tiếp cận với các nguồn tri thức quý giá khổng lồ của thế giới trên môi trường mạng. Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu bước đầu về vấn đề này nhưng phần đông đơn lẻ, còn giới hạn thời gian và điều kiện. Các nghiên cứu ứng dụng còn đang chập chững trong khi trên thế giới và nhiều nước khác đã có một lịch sử hơn nửa thế kỷ. Việc xử lý tiếng Việt chỉ có thể do người Việt chúng ta làm. (Sài Gòn Tiếp Thị 26/4/2010)

    Việt Nam nên đẩy mạnh ngành dịch vụ CNTT

    Theo PGS TS Bùi Thế Duy, Chủ nhiệm Khoa CNTT ĐH Công nghệ - ĐHQG Hà Nội, sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành CNTT tại Việt Nam không ít, song doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng nhân lực ngành này. Nguyên nhân có thể nằm ở chỗ nhân lực CNTT nhưng chỉ có kiến thức CNTT là không đủ, mà cần nhiều kỹ năng, kiến thức về các chuyên ngành khác. Những kiến thức, kỹ năng đó càng đặc biệt quan trọng với ngành dịch vụ CNTT, một ngành còn khá mới ở Việt Nam song đang có xu hướng tăng lên trên thế giới. “Rõ ràng xu hướng thế giới đang chuyển nhiều sang nền dịch vụ”, ông Duy nói và cho biết một số tập đoàn CNTT hàng đầu như Intel, Microsoft, IBM bắt đầu chọn Việt Nam như một đối tác để phát triển thị trường cung cấp dịch vụ CNTT cho toàn cầu. Từ 2 năm nay, IBM cùng một số công ty lớn trên thế giới hợp tác với các trường, trong đó có ĐHQG Hà Nội và TP.HCM, để giới thiệu chương trình dịch vụ CNTT. Hiện nay, hầu hết các trường ĐH hàng đầu trên thế giới đều triển khai chương trình cử nhân dịch vụ CNTT. “Nếu chúng ta chậm trong mảng này sẽ bị tụt hậu xa về CNTT so với thế giới”, PGS TS Bùi Thế Duy nói. Trường ĐH Công nghệ - ĐHQG Hà Nội, đang tiến hành triển khai đào tạo chuyên ngành Dịch vụ CNTT với sự hỗ trợ của IBM. Nhân lực ngành dịch vụ CNTT phải hiểu sâu về các ngành khác. Theo đó, trường sẽ trang bị cho sinh viên kiến thức sâu về CNTT, rộng về quản lý, kinh doanh, xã hội, đào tạo cán bộ giảng dạy các môn học có tính liên kết giữa CNTT và kinh tế, quản trị kinh doanh. Chuyên ngành dịch vụ CNTT sẽ được triển khai trong năm học 2010 – 2011. Với chuyên ngành này, 2 năm đầu, sinh viên vẫn học các môn cơ bản như lập trình nâng cao, cơ sở dữ liệu, công nghệ phần mềm, mạng máy tính… Các năm học sau sẽ học các môn mới như khoa học dịch vụ, quản lý gia công (outsourcing), kiến trúc hướng dịch vụ - đây là những kiến thức trước đây chưa được đào tạo hoặc đào tạo chưa bài bản trong nhà trường. Việt Nam với lượng nhân lực lớn, có tri thức không nên chỉ hướng đến các công việc gia công, mà phải hướng đến thị trường CNTT ở mức cao hơn, tạo ra thu nhập cao hơn. Các trường ĐH có ngành đào tạo về CNTT cần quan tâm thêm định hướng dịch vụ CNTT, giúp đào tạo tốt hơn theo nhu cầu xã hội. Điều đó có nghĩa các trường cần chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng và kiến thức để hướng đến những công việc về CNTT có định hướng quản lý và kinh doanh. (Bưu điện Việt Nam 26/4/2010).