• Thứ Ba, 01/06/2010 11:06 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 1/6/2010

    Tân Khoa
    Các địa phương đã sẵn sàng cho cuộc tổng điều tra về dịch vụ viễn thông, nghe nhìn. VINASAT-1 tiếp tục được bảo hiểm. Bàn giao bộ phim 3D về trận đấu voi - hổ cho cố đô Huế…

    Các địa phương đã sẵn sàng cho cuộc tổng điều tra về dịch vụ viễn thông, nghe nhìn

    Hôm nay 1/6/2010, cuộc điều tra, thống kế về dịch vụ viễn thông, nghe nhìn do Bộ TTTT chủ trì thực hiện sẽ bắt đầu được triển khai trên toàn quốc. Tính đến ngày 27/5/2010, 100% các Sở TTTT đã in xong phiếu điều tra và chuyển phát nhanh cho các xã, thôn. Nhiều tỉnh đã tiến hành xong tập huấn cho cấp xã và thậm chí cả cấp thôn. Hiện nay, Ban chỉ đạo cuộc điều tra đã xây dựng xong phương án tài chính để chuyển cho Bộ Tài chính và Bộ KH-ĐT. Ban chỉ đạo đã đề nghị Bộ Tài chính tạm ứng kinh phí đợt đầu cho các tỉnh, thành phố với số tiền lên tới 22 tỷ đồng và sẽ phân bổ trên cơ sở tiêu chí thôn cho các đơn vị. (Bưu điện Việt Nam 31/5/2010)

    VINASAT-1 tiếp tục được bảo hiểm

    Ngày 31/5/2010, tại Hà Nội, Công ty Viễn thông Quốc tế (VTI), đơn vị được Tập đoàn VNPT giao nhiệm vụ quản lý, khai thác vệ tinh VINASAT-1, đã tổ chức Lễ ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho vệ tinh VINASAT-1 trên quỹ đạo giai đoạn 2010-2011. Đây là năm thứ 3 vệ tinh VINASAT-1 được cung cấp dịch vụ bảo hiểm. Với tổng trị giá hợp đồng là 147,7 triệu USD (~ 2.806 tỷ đồng), PTI và Bảo Việt tiếp tục là nhà đồng bảo hiểm gốc cho VINASAT-1. PTI là nhà bảo hiểm đứng đầu với tỷ lệ bảo hiểm lên đến 70% tổng giá trị hợp đồng. Cũng như nội dung hợp đồng bảo hiểm cho VINASAT-1 trong 2 năm qua, hợp đồng giai đoạn này sẽ tiếp tục đảm bảo giá trị bảo hiểm những tổn thất hoặc hư hại xảy ra cho vệ tinh VINASAT-1 trong quá trình hoạt động trên quỹ đạo. Ông Nguyễn Hữu Khánh - Giám đốc VTI cho biết, trong 2 năm qua, VNPT đã hai lần thực hiện kiểm tra “sức khỏe” của VINASAT-1. Kết quả cho thấy VINASAT-1 đạt được các yêu cầu về kỹ thuật và được đánh giá là vệ tinh hoạt động hiệu quả nhất khu vực cả về chất lượng dịch vụ cũng như về tuổi thọ, mức tiêu hao nhiên liệu... Đây chính là một trong những điều kiện để các nhà cung cấp dịch vụ tham gia bảo hiểm với giá thành ưu đãi cho VINASAT-1 trong giai đoạn 2010-2011. Sau 2 năm hoạt động, VINASAT-1 đã cung cấp dịch vụ cho nhiều đơn vị, đối tác trong và ngoài nước như: Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài Tiếng nói Việt nam (VOV), Tổng cục Kỹ thuật (Bộ Công an), Binh chủng Thông tin liên lạc (Bộ Quốc phòng), mạng VSAT, đường trục thông tin cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo…, Lao Telecommunications (Lào), Websat (Singapore), Thaicom (Thái Lan)... Tính đến nay, hơn 80% dung lượng vệ tinh VINASAT-1 đã được cho thuê, sử dụng. Với nhu cầu dung lượng tiếp tục tăng cao như trên, VTI dự kiến toàn bộ băng tần còn lại của VINASAT-1 sẽ nhanh chóng được lấp đầy trong 2 năm 2010-2011. Hiện nay, trạng thái hoạt động của VINASAT-1 trên quỹ đạo ổn định và đảm bảo tốt các yêu cầu về kỹ thuật. Đặc biệt, hiện 100% công việc vận hành, điều khiển VINASAT-1 đều do đội ngũ cán bộ VNPT đảm nhiệm. (ICT News 31/5/2010)

    Bàn giao bộ phim 3D về trận đấu voi - hổ cho cố đô Huế

    Ngày 31/5/2010, tại TP Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã tổ chức tiếp nhận bộ phim Hổ quyền từ phía đại diện Tổng cục Di sản văn hóa Hàn Quốc. Bộ phim dài 8 phút, tái hiện di tích Hổ quyền và một trận đấu giữa voi và hổ như từng diễn ra tại di tích Hổ quyền dưới thời Nguyễn, theo công nghệ kỹ thuật số 3D, do Viện Khoa học công nghệ kỹ thuật cao Hàn Quốc thực hiện từ tháng 6-2009 đến nay. Tổng kinh phí của bộ phim vào khoảng 100.000 USD, do Tổng cục di sản văn hóa Hàn Quốc tài trợ. Việc tái hiện phim Hổ quyền dựa vào thực trạng di tích Hổ quyền đang tồn tại, vào các nhân chứng lịch sử, kết quả khai quật khảo cổ học nền móng và kết quả nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. Hổ quyền được xây dựng từ năm 1934 dưới thời Minh Mạng, là một trong 16 cụm di tích thuộc hệ thống di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận tại Huế, và là di tích đấu trường duy nhất ở khu vực Đông Nam Á còn tồn tại. Bộ phim sẽ được chiếu tại điện Thái Hòa - Đại nội Huế phục vụ du khách miễn phí (xem phim thông qua kính chuyên dụng) trong dịp Festival Huế 2010. (Tuổi Trẻ 1/6/2010)

    Sàn chứng khoán Hà Nội bị nghẽn giao dịch trực tuyến

    Ngày 31/5/2010, giao dịch tại sàn chứng khoán Hà Nội đã bị gián đoạn khi nhiều mã cổ phiếu không hiển thị được khối lượng bên mua, bên bán trên bảng điện tử. Đến 9h30 sáng, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã có thông báo về sự cố này. Theo đó, từ 8h30 – 9h00, do lỗi dữ liệu về mã thành viên nên việc chuyển lệnh qua hệ thống từ công ty niêm yết đến HNX bị ảnh hưởng. Từ 9h00, HNX đã hoàn tất việc sửa lỗi và các giao dịch đã trở lại bình thường. (Thanh Niên 1/6/2010)

    TP.HCM: Tiếp tục giải đáp thắc mắc về thuế qua mạng

    Theo tổng kết của Cục Thuế TP.HCM, tuần lễ “Lắng nghe ý kiến người nộp thuế” (từ 24-30/5/2010), cơ quan thuế tiếp nhận và giải đáp hơn 4.000 thắc mắc của người dân và doanh nghiệp. Ông Nguyễn Đình Tấn - Cục trưởng Cục Thuế TP.HCM cho biết, sau tuần lễ này, cơ quan thuế sẽ tiếp tục tiếp nhận và giải đáp các ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp qua website và qua các cơ quan thông tấn. Cục Thuế sẽ tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế, xử lý những cán bộ có thái độ ứng xử gây phiền hà cho người nộp thuế. Đồng thời, ngành thuế sẽ đổi mới phương pháp làm việc để phục vụ người nộp thuế ngày càng tốt hơn. (SGGP 1/6/2010)

    882 huy chương thi giải toán qua Internet quốc gia

    Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Vinh Hiển vừa ký Quyết định công nhận các cá nhân và tập thể đạt thành tích trong kỳ thi cấp quốc gia giải toán qua Internet dành cho học sinh lớp 5 và lớp 9, năm học 2009 - 2010. Trong số các tỉnh, Thái Bình dẫn đầu về số huy chương vàng với 28 huy chương. ViOlympic là cuộc thi giải Toán trên mạng đầu tiên ở Việt Nam do Bộ GD-ĐT và tập đoàn FPT phối hợp tổ chức. Ra đời chưa đầy 2 năm với kênh thi trực tuyến, ViOlympic đã thu hút trên 1,7 triệu thành viên là phụ huynh, giáo viên, học sinh tiểu học và THCS trên toàn quốc. (Giáo dục & Thời đại 1/6/2010)

    TP.HCM: Bắt đầu bán vé tự động trên xe buýt

    Từ 1/6/2010, 150 xe buýt của Liên hiệp Hợp tác xã Vận tải TP bắt đầu đưa máy bán vé tự động vào sử dụng. Theo đó, hành khách đi xe chỉ cần lên cửa trước, bỏ tiền vào máy sẽ nhận được vé. Nếu hành khách đưa tiền có mệnh giá lớn vào, máy sẽ xuất vé và lái xe bấm nút để máy trả lại phần tiền dư. Trước mắt, việc bán vé tự động được thực hiện trên năm tuyến xe buýt là: Lê Hồng Phong - ĐH Quốc Gia (tuyến số 53); Bến xe Miền Tây - ĐH Quốc Gia (10); Bến xe An Sương - Chợ Lớn (66); Bến xe Hiệp Thành - Công viên Đầm Sen (145) và Bến xe Củ Chi - chợ Bến Thành (13). Trong thời gian thí điểm, nhân viên bán vé vẫn đi theo xe để hướng dẫn hành khách mua vé qua máy. (Pháp luật TPHCM 1/6/2010)

    Viettel sản xuất máy điện thoại HomePhone

    Sau hơn 1 năm nghiên cứu, Công ty Cổ phần Công nghệ Viettel (Viettel Technologies) đã chế tạo thành công máy điện thoại cố định không dây Homephone với tên sản phẩm HP 6800. 250.000 máy HP 6800 đầu tiên bắt đầu được đưa ra thị trường Việt Nam thông qua hệ thống kênh bán hàng của Viettel trên toàn quốc kể từ tháng 6/2010. HP 6800 là sản phẩm do Viettel Technologies nghiên cứu, thiết kế, phát triển. Toàn bộ quá trình sản xuất tại Hàn Quốc đều do Viettel làm chủ trong việc lựa chọn đối tác cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, giám sát quá trình sản xuất, kiểm tra chất lượng đầu ra. Ông Nguyễn Đình Công, Phó Giám đốc Viettel Technologies cho rằng sản xuất thành công máy HP 6800 là một bước tiến trong việc nghiên cứu, chế tạo và phát triển sản phẩm viễn thông của Viettel. Đây là bước tiền đề để Viettel tiếp tục tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt. (ICT News 31/5/2010)

    1VS giới thiệu phần mềm quản lý nhà thuốc

    Ngày 29/5/2010, Công ty Cổ phần hệ thống 1V (1VS) đã phối hợp với Hội Tin học Viễn thông Hà Nội tổ chức hội thảo về ứng dụng phần mềm 1C trong quản lý nhà thuốc hướng tới tiêu chuẩn GPP. Cụ thể là phần mềm 1C: HIỆU THUỐC 8 hướng tới quy trình quản lý nhà thuốc theo tiêu chuẩn GPP được quy định theo quyết định 11/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Theo đó, 31/12/2010 là thời hạn cuối cùng để các nhà thuốc phải đạt chuẩn GPP. Được biết, ở thời điểm cuối năm 2009, toàn Hà Nội mới chỉ có 400 nhà thuốc đạt chuẩn GPP, chiếm tỷ lệ 20%. Tham dự hội thảo, ông Nguyễn Văn Đình – Phó Chủ tịch Hội Dược học Việt Nam, nguyên Giám đốc Sở Y tế Hà Nội đã nhấn mạnh tới việc phải ứng dụng CNTT trong quản lý nhà thuốc. Việc này cũng giúp các cơ quan quản lý của ngành y tế kiểm tra thuận tiện hơn. 1C: HIỆU THUỐC 8 hiện đã được bán chính thức ra thị trường với giá 3 triệu đồng/bản đối với phiên bản cơ bản; 8 triệu đồng/bản với phiên bản mở rộng (được tặng gói hỗ trợ 6 tháng). Ngoài ra, với các hiệu thuốc lớn sẽ có gói sản phẩm 1C: HIỆU THUỐC 8++ dành cho bộ 3 máy có bao gồm 1 bộ cài đặt chính với giá bán 10 triệu đồng. (TBKTVN 1/6/2010)

    Phần mềm thẩm định CMND

    Một nhóm chuyên gia CNTT ở trường ĐH Bách khoa Hà Nội vừa nghiên cứu thành công phần mềm thẩm định giấy chứng minh nhân dân (CMND) ứng dụng công nghệ nhận dạng vân tay tự động. Khi thẩm định, mẫu vân tay sống của 2 ngón trỏ sẽ được đối chiếu với mẫu vân tay đã lăn và in trên CMND. Tuỳ theo ứng dụng và yêu cầu của khách hàng, thông tin sinh trắc học có thể được đưa ra hay không. Hiện tại, nhóm chuyên gia này đang tiếp tục hoàn thiện để đưa phần mềm vào ứng dụng rộng rãi. (Khoa học & Đời sống 1/6/2010)

    TP.HCM: Đánh giặc lửa bằng kỹ thuật số

    Để phục vụ tốt công tác phòng cháy chữa cháy (PCCC), Sở Cảnh sát PCCC TP.HCM đã áp dụng kỹ thuật số trong tiếp nhận và hướng dẫn thông tin. Đến nay, chương trình đã phát huy hiệu quả tích cực. Cụ thể là kết hợp bản đồ số với việc sử dụng hệ thống thông tin liên lạc giữa chỉ huy và xe cứu hoả làm nhiệm vụ cùng thông tin về kẹt xe trên sóng phát thanh, thiết bị định vị GPS. Trong đó, quan trọng nhất là bản đồ số chỉ dẫn về họng nước chữa cháy, điểm lấy nước tự nhiên có thể. Việc xây dựng một trung tâm thông tin chỉ huy PCCC hiện đại cũng đang là nhu cầu bức thiết trước thực tế của tốc độ đô thị hoá rất nhanh của TP.HCM. (SGGP 1/6/2010)

    Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt: Cần mạnh tay

    Theo bà Nguyễn Tú Anh – Tổng Giám đốc công ty Cổ phần dịch vụ thẻ Smartlink cho biết, có thể khẳng định thói quen sử dụng tiền mặt của hầu hết cá nhân và tâm lý “ngại” minh bạch tài chính ở đối tượng doanh nghiệp đang là những rào cản lớn hiện nay đối với Việt Nam. Phần lớn các doanh nghiệp lâu nay vẫn luôn bằng mọi cách khai doanh thu giảm đi so với thực tế để trốn thuế. Chính vì thế, những lợi ích khi giao dịch qua ngân hàng (như giảm bớt chi phí trong quản lý tiền mặt, việc sử dụng vốn linh hoạt hơn, độ an toàn cao hơn…) đã bị bỏ qua, vấn đề với họ là nếu thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) qua ngân hàng thì sẽ đồng nghĩa với chuyện mọi nguồn thu của họ sẽ “bị” minh bạch. TTKDTM rất khó được đón nhận tại phần lớn doanh nghiệp là vậy. Vì thế, một biện pháp mạnh do Chính phủ đưa ra nhằm áp vào vấn đề TTKDTM tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Kinh nghiệm tại các quốc gia phát triển TTKDTM trên thế giới cho thấy, khi có sự chỉ đạo quyết liệt, đúng mức của Chính phủ cũng như các cơ quan chức năng, các kênh giao dịch TTKDTM sẽ nhanh chóng tạo được bước chuyển biến hiệu quả. Hàn Quốc là một ví dụ điển hình, hiện quốc gia này đang triển khai rất nhanh do Chính phủ thực hiện mạnh tay, bắt buộc các doanh nghiệp phải áp dụng TTKDTM, yêu cầu các doanh nghiệp bán lẻ khi đăng ký kinh doanh phải trang bị hệ thống, phương tiện hỗ trợ TTKDTM... Tại Việt Nam, Chính phủ và các cơ quan khác như Bộ Tài chính cần nghiên cứu, đưa ra những quy định về hạn mức nhất định quy định người dân, doanh nghiệp không được phép dùng tiền mặt để thanh toán (ví dụ, từ mức 5 triệu trở lên), mà phải thông qua các phương tiện như thẻ, chuyển khoản. Đồng thời, để các phương tiện thanh toán thuận tiện hơn cho người dân, thì các ngân hàng cần phải tạo được phương tiện hỗ trợ, kết nối TTKDTM thực sự tiện dụng. Các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ hay các ngân hàng không chỉ đơn thuần biết hô hào người dân “hãy chấp nhận các phương tiện TTKDTM”, mà cần phải có trách nhiệm đưa ra các phương tiện, kênh thanh toán (như Mobile Banking, Internet Banking…) phù hợp, hữu dụng và xây dựng mạng lưới liên kết đồng bộ, rộng khắp, nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo nhiều điều kiện tối đa cho mọi đối tượng sử dụng. Nếu không có sự kết hợp đồng bộ thì nỗ lực của các doanh nghiệp hay chỉ riêng các ngân hàng sẽ chỉ như hạt muối bỏ biển, và thực trạng TTKDTM tại Việt Nam sẽ còn khó phát triển. (Bưu điện Việt Nam 31/5/2010).