• Thứ Ba, 13/07/2010 14:55 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 13/7/2010

    Tân Khoa
    Chưa được giảm cước di động. Tuyển sinh đại học và cao đẳng 2010: Máy tính sẽ làm tròn điểm…

    Chưa được giảm cước di động

    Bộ TTTT vừa có công văn yêu cầu các DN viễn thông thực hiện việc điều chỉnh giá cước dịch vụ thông tin di động theo đúng các nguyên tắc đã được Bộ quy định tại công văn định hướng quản lý giá cước đã được ban hành hồi cuối tháng 6/2010. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Bộ tạm thời chưa chấp nhận các phương án giảm cước của Viettel và VNPT đệ trình đầu tháng 7/2010. Theo ông Phạm Hồng Hải, Vụ trưởng Vụ Viễn thông, Bộ đang xây dựng phương pháp tính giá thành dịch vụ viễn thông. Vì vậy trước khi chưa ban hành được quy định về tính giá thành, các DN sẽ tiếp tục thực hiện điều chỉnh giá cước dịch vụ di động phù hợp với mức điều chỉnh giá cước kết nối (tối đa từ 10% - 15%). Trong khi đó, các mạng nhỏ phản ứng khá dè dặt trước thông tin các “ông lớn” chiếm thị phần khống chế xin giảm cước. Bà Elizabeth Fong, Tổng giám đốc điều hành Vietnamobile cho biết nhà mạng này hiện đang theo dõi chặt chẽ tình hình thị trường, từ đó có những chính sách kịp thời, tuy nhiên cũng đề nghị Bộ TTTT nên có các biện pháp quản lý để thúc đẩy các mạng cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thay vì cạnh tranh bằng giá cước. (Thanh Niên 13/7/2010)

    Tuyển sinh đại học và cao đẳng 2010: Máy tính sẽ làm tròn điểm

    Tại thời điểm này, các trường ĐH và CĐ đang chấm thi tuyển sinh. Theo chỉ đạo của Bộ GDĐT với các môn thi tự luận, các ý nhỏ được chấm điểm lẻ đến 0,25 điểm với thang điểm 10. Riêng các môn năng khiếu và thi theo phương pháp trắc nghiệm có thể theo thang điểm khác nhưng phải quy về thang điểm 10. Việc tính hệ số sẽ do máy tính thực hiện. Chỉ có các môn năng khiếu và ngoại ngữ mới nhân hệ số. Trong giấy chứng nhận kết quả thi sẽ chỉ ghi điểm môn thi chưa nhân hệ số và ghi rõ môn được nhân với hệ số cụ thể. (Lao Động 13/7/2010)

    ĐH Công nghệ - ĐHQG Hà Nội trao bằng Thạc sĩ “Thông tin, Hệ thống và Công nghệ”

    Chiều 12/7/2010, Trường ĐH Công nghệ - ĐHQG Hà Nội cùng với Đại học Paris-Sud 11 và Trung tâm ĐH Pháp tại Hà Nội đã trao bằng thạc sĩ Thông tin, Hệ thống và Công nghệ cho các học viên khóa II (2007-2009). Buổi lễ có sự tham dự của đại diện Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Đại học Paris Sud 11, Trung tâm Đại học Pháp, Tập đoàn Orange France Telecom tại Việt Nam. Khóa học là một chương trình đào tạo chất lượng cao, do Đại học Paris-Sud 11, Pháp - phối hợp với trường ĐH Công nghệ tổ chức trong khuôn khổ hợp tác giữa 2 chính phủ Pháp và Việt Nam nhằm tăng cường chất lượng giáo dục đại học và sau đại học tại Việt Nam. Sáu học viên đã hoàn thành tốt 2 năm học, trong đó có 2 học viên xuất sắc đã được học bổng thực tập 5 tháng tại Pháp. Học viên được cung cấp những kiến thức khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực Điện tử, Viễn thông, Mạng và Truyền thông, Xử lý tín hiệu. Theo đó, năm thứ nhất học viên sẽ được trang bị các kiến thức nền tảng, cơ bản và năm thứ hai được thiết kế nhằm giúp học viên có thể lựa chọn theo hai hướng: tiếp tục nghiên cứu (làm nghiên cứu sinh tiến sĩ) hoặc thực hành nghề (làm việc ngay) sau khi hoàn thành chương trình. PUF Hà Nội, ĐH Công nghệ và các nhà tài trợ (Tập đoàn Orange France Telecom, Quỹ tài trợ Odon Vallet) có chính sách học bổng cho những học viên đạt kết quả học tập tốt. Sau Lễ trao bằng, trong Hội thảo thông tin đại diện của ĐH Paris Sud 11 và Đại học Công nghệ đã diễn ra, đại diện phía Pháp đã cung cấp thông tin về các chương trình đào tạo Thạc sĩ liên kết với các đại học uy tín của Pháp, gồm 2 chương trình: Thạc sĩ Thông tin, Hệ thống và Công nghệ (IST) với hai chuyên ngành “Mạng và Truyền thông” và “Hệ thống Điện tử cho viễn thông”, phối hợp với Đại học Paris-Sud 11; "Thạc sĩ Công nghệ Thông tin" với hai chuyên ngành “Công nghệ Thông tin và Web” và “Xử lý Ảnh”, phối hợp với ĐH Claude Bernard Lyon 1. (Nhân Dân Điện tử 12/7/2010)

    Đà Nẵng định vị thương hiệu CNTT

    Ngày 9/7/2010, Sở TTTT Đà Nẵng đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Theo ông Phạm Kim Sơn, Giám đốc Sở TTTT Đà Nẵng, trong thời gian qua, ngành CNTT và truyền thông Đà Nẵng đã có tốc độ phát triển nhanh, đang trở thành động lực thúc đẩy phát triển KTXH của TP. Đà Nẵng. Doanh thu toàn ngành năm 2009 đạt 5.700 tỷ đồng, tăng 6,5 lần so với năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 63%/năm. Sau 5 năm đầu tư phát triển đã xuất khẩu được 22 triệu USD (trong đó năm 2009 tăng hơn 20 lần so với năm 2005)… Ông Phùng Tấn Viết – Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, với việc TP đã tập trung đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng CNTT (từ 2004-2010 đầu tư trên 300 tỷ đồng), nỗ lực tạo dựng môi trường sử dụng, ứng dụng CNTT một cách minh bạch vào mọi mặt cuộc sống… đã góp phần định vị vị trí, thương hiệu của Đà Nẵng. Trong 2 năm 2008 - 2009, Đà Nẵng đã vươn lên dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh trạnh, điều đó đã góp phần nâng cao thương hiệu cho Đà Nẵng trong việc thu hút các nhà đầu tư. (Bưu điện Việt Nam 12/7/2010)

    Hội An là nơi thích hợp cho trung tâm phần mềm

    Theo một chuyên gia phần mềm, thành phố Hội An (Quảng Nam) là nơi rất thích hợp để đội ngũ về phần mềm có thể làm việc (bởi vì họ vừa cần tĩnh tâm, lại vừa cần các ý tưởng đột phá trong công việc). Chuyên gia này khao khát tới một ngày sẽ tụ hội được bạn bè, đồng nghiệp để xây dựng nên một thương hiệu phần mềm là Hoian hay Phohoi cũng nổi tiếng như Java hay Solomon. (Sài Gòn Tiếp Thị 12/7/2010)

    Nông dân làm gì với máy tính và Internet?

    Diễn ra trong 18 tháng, từ tháng 2/2009 đến tháng 7/2010, “Dự án thí điểm nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam” do Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam chủ trì thực hiện tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh. Theo Báo cáo đánh giá tác động của Dự án, gần 85% người dân được hỏi cho biết họ đã từng sử dụng máy tính và Internet tại các điểm Bưu điện văn hóa xã (BĐVHX) để đọc báo, cập nhật tin tức kinh tế, văn hóa, xã hội. Có 78,4% cho biết máy tính và Internet đã giúp họ nâng cao hiểu biết nói chung. Ngoài ra, người dân cũng sử dụng Internet để tiếp cận các thông tin về chính sách. Có tới 91% công nhận lợi ích của Internet trong mục đích tìm kiếm thông tin về qui định, chính sách của nhà nước. Trên 62,4% trả lời đã từng sử dụng máy tính Internet tại BĐVHX để phục vụ mục đích giải trí ở các mức độ khác nhau, với các hoạt động như nghe, tải nhạc (81,8%), chơi game (46,2%). Trong khi 2 nhóm tuổi 15 - 25 và 25 - 35 lựa chọn nghe, tải nhạc online nhiều nhất thì lợi ích chơi game lại thu hút những người ở nhóm tuổi nhỏ hơn. Tuy nhiên, tại các điểm thư viện, việc sử dụng máy tính để chơi game hạn chế hơn, do các phòng máy nằm trong thư viện, đặc biệt là thư viện tỉnh, nhân viên quản lý thường ngăn chặn triệt để việc chơi game của người sử dụng. Với nhóm người dân từ 35 - 45 tuổi, chỉ có 7,7% dùng máy tính và Internet để giải trí. Chỉ 2,1% nhóm những người trên 45 tuổi giải trí trên Internet. Có khoảng 50% trả lời đã sử dụng máy tính và Internet phục vụ cho mục đích học tập ở các mức độ khác nhau, trong đó có 82,1% cho biết đã tìm tài liệu sách báo. Học sinh sinh viên là những đối tượng học tập chính và những lợi ích cụ thể mà họ nhận được nhiều nhất là tìm các tài liệu, sách báo và tìm đọc, tải bài giảng điện tử. Tuy nhiên, tỷ lệ người dân sử dụng Internet cho mục đích tìm kiếm thông tin việc làm và cơ hội buôn bán giao thương còn thấp. Chỉ có 12 người được hỏi (tương đương 5,4%) trả lời đã từng sử dụng máy tính và Internet tại BĐVHX để tìm kiếm các cơ hội buôn bán giao thương ở các mức độ khác nhau. Tại thư viện, tỷ lệ này còn thấp hơn. Chỉ có 6 người (tương đương 4,4%) trong tổng số 136 người được hỏi trả lời đã từng sử dụng máy tính và Internet tại thư viện để tìm kiếm các cơ hội buôn bán giao thương ở các mức độ này khác nhau. Như vậy có thể thấy rằng người dân địa phương chưa sử dụng được nhiều Internet cho mục đích buôn bán giao thương. Trong số 221 người sử dụng Internet tại các điểm BĐVHX, chỉ có 37 người (tương đương 16,7%) đã từng tìm kiếm thông tin về việc làm, trong đó tỉ lệ người thường xuyên sử dụng chỉ có 1,8%, tỉ lệ người thỉnh thoảng sử dụng là 12,2%. Còn tại thư viện, có 11,7% người dân cho biết đã từng sử dụng máy tính và Internet để tìm kiếm thông tin việc làm, trong đó tỉ lệ thường xuyên sử dụng là 5,1%, thỉnh thoảng sử dụng là 5,9%. Tỷ lệ này quá thấp, cho thấy mục đích tìm kiếm thông tin việc làm chưa được nhiều người sử dụng. Dẫu vậy, tỷ lệ người dân sử dụng máy tính và Internet để tìm kiếm các thông tin về sản xuất nông nghiệp khá cao với 35%, trong đó trên 80% thông tin về quy trình và kỹ thuật sản xuất. Ngoài ra, máy tính và Internet cũng được người dân dùng để tìm kiếm các thông tin y tế, chăm sóc sức khỏe. Trên 35,3% đã dùng Internet vào mục đích tìm kiếm thông tin y tế và chăm sóc sức khỏe. Trong đó tỷ lệ người thường xuyên sử dụng là 17,9% và thỉnh thoảng sử dụng là 19%. Có gần 90% người dân ghi nhận Internet giúp họ biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Trong số những người quan tâm đến lợi ích của việc phòng và chữa bệnh thì những người trong độ tuổi 25-35 là những người lựa chọn nhiều nhất còn ít nhất là nhóm những người dưới 15 tuổi. (Bưu điện Việt Nam 12/7/2010).