• Thứ Hai, 07/03/2011 10:59 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 7/3/2011

    Tân Khoa
    Viettel sẽ lập công ty phần mềm. Khó quản lý việc học sinh sử dụng ĐTDĐ. Ra mắt ấn phẩm truyền hình điện tử. Doanh nghiệp Việt làm máy tính bảng: “Quá khó!”…

    Viettel sẽ lập công ty phần mềm

    Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa điều chuyển Trung tâm Phần mềm (thuộc Công ty Viễn thông Viettel) trở thành một đơn vị trực thuộc Tập đoàn, tiến tới sẽ trở thành công ty phát triển phần mềm. Được biết, mục tiêu của đơn vị này là phải đáp ứng được 100% nhiệm vụ CNTT hóa toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hành quản lý của Tập đoàn trong và ngoài nước. Đơn vị mới có tên gọi Trung tâm Phần mềm Viettel là đơn vị hạch toán phụ thuộc trực thuộc Tập đoàn. Sản phẩm được định hướng chủ yếu là những giải pháp chiến lược trên thị trường viễn thông như: phần mềm kinh doanh viễn thông, phần mềm quản lý mạng viễn thông, phần mềm quản lý doanh nghiệp, giải pháp viễn thông và giá trị gia tăng, thương mại điện tử, phần mềm chính phủ điện tử…

    Song song với nhiệm vụ đó là tiến tới phục vụ những khách hàng ngoài Viettel. Trước mắt, Trung tâm sẽ thông qua công ty Viễn thông Viettel để xây dựng sản phẩm và tiếp cận nhóm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng chính phủ. Trong quá trình hoạt động, Trung tâm xây dựng đội ngũ kinh doanh, chủ động tìm kiếm khách hàng và nắm bắt xu hướng thị trường. Dự kiến đến năm 2015, tỷ lệ doanh thu từ khách hàng ngoài Viettel sẽ lớn hơn 50%. Quá trình hoạt động của Trung tâm là cơ sở để đánh giá và lên phương án hình thành Công ty TNHH Một thành viên Phát triển phần mềm Viettel, hạch toán độc lập có lợi nhuận trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh phần mềm và giải pháp CNTT. (ICT News 4/3/2011)

    Khó quản lý việc học sinh sử dụng ĐTDĐ

    Quay clip, ghi âm và chụp ảnh không lành mạnh rồi tung lên mạng là những dấu hiệu cảnh báo về văn hóa sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) trong giới học sinh. Trong khi luật pháp chưa thể mạnh tay do học sinh là “vị thành niên” thì ngành giáo dục lại ở thế khó. Một lần nữa song hành với “bạo lực học đường”, vấn đề văn hóa sử dụng ĐTDĐ của HS lại là bài toán cần có lời giải đáp. Hầu hết các bậc phụ huynh có con đang học phổ thông khi được hỏi vì sao đồng ý cho con em mình sử dụng ĐTDĐ đều có chung câu trả lời: Thời đại công nghệ, nhu cầu sử dụng ĐTDĐ là cần thiết bởi thông qua đó có thể giám sát được con cái, tạo điều kiện tốt hơn trong học tập...

    Mục đích ban đầu là vậy nhưng trên thực tế số HS sử dụng ĐTDĐ vào mục đích học tập khá hãn hữu. Điều này không khó để kiểm tra nếu chúng ta đi thực tế ở một số trường THPT hoặc đặt câu hỏi đại loại như tiêu chí chọn điện thoại của em là gì. Đứng dưới góc độ nhà quản lý, ông Mai Sỹ Nhật - Trưởng phòng công tác HS, SV - Sở GDĐT Hà Nội chia sẻ: “Hiện nay luật pháp không cấm HS sử ĐTDĐ nên rất khó để quản lý các em. Ngành giáo dục mới chỉ có quy định cấm HS không được sử dụng ĐTDĐ trong giờ học, chứ chưa có những quy định cụ thể về vấn đề này”.

    Thượng tá Vũ Minh Chính, Phó trưởng phòng an ninh chính trị nội bộ TP.Hà Nội, phụ trách về giáo dục đào tạo chia sẻ: Vấn đề sử dụng ĐTDĐ hiện nay đang là một tiêu điểm cần phải có cơ chế để xử lý chấn chỉnh. Hiện nay phần lớn các vụ kích động, đánh nhau… đều xuất phát từ việc gọi điện, nhắn tin. Chính vì thế vấn đề không chỉ dừng lại ở việc HS sử dụng điện thoại như thế nào mà cần phải làm cho các em thấy rõ tính nguy hại của phương tiện này trong đạo đức lối sống, an ninh chính trị của toàn xã hội.

    Cũng theo thượng tá Chính, qua nghiên cứu cho thấy khi các clip thiếu lành mạnh được HS đưa lên mạng thì chắc chắn đã lưu trong máy ĐTDĐ một thời gian. Có thể là 6 tháng, 3 tháng hoặc ngắn nhất là 2 ngày. Bên cạnh đó phần lớn những người tung clip lên mạng là những HS không giỏi, không ngoan. Chính vì thế cũng đến lúc cần đặt ra vấn đề là: Có nên kiểm tra nội dung trong điện thoại của HS hay không? Nếu chúng ta kiểm tra định kỳ thì sẽ sớm phát hiện được các hình ảnh, clip xấu và có thể ngăn chặn khi HS chưa kịp phát tán lên mạng. Tuy nhiên chúng ta cần phải nghiên cứu xem cơ chế kiểm tra như thế nào. Vì nếu chúng ta cứ tự ý kiểm tra thì lại xâm phạm quyền riêng tư của các em mà luật lại không cho phép.

    Về giải pháp của Thượng tá Chính, nhiều thầy, cô nhận định: “Cách làm này có thể mang lại hiệu quả trong giai đoạn đầu khi mà các em thiếu cảnh giác. Hiện nay các máy điện thoại đều có thẻ nhớ, các hình ảnh hay video clip thường được lưu ở đây. Chính vì thế nếu chúng ta tiến hành kiểm tra thì các em có thể “lách luật” bằng cách tháo thẻ nhớ. Do đó, ngoài các biện pháp phòng ngừa, giáo dục thì cần có chế tài xử lý nghiêm khắc. Các em cần phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình gây ra”. (Dân Trí 6/3/2011)

    Ra mắt ấn phẩm truyền hình điện tử

    Tạp chí Phát Thanh, Truyền Hình & Thông Tin Ðiện Tử (E-INFO) www.e-info.vn trực thuộc Cục Phát thanh Truyền hình & Thông tin Điện tử (Bộ TTTT) vừa giới thiệu đến người xem chuyên mục mới mang tên TVguide. TVguide (do E-INFO và Trung tâm truyền hình cáp Ðài truyền hình TP.HCM hợp tác thực hiện) là ấn phẩm điện tử đầu tiên tại Việt Nam cung cấp đầy đủ lịch phát sóng, danh mục kênh, gói cước, các chương trình khuyến mãi và hướng dẫn kỹ thuật của các nhóm kênh truyền hình trong và ngoài nước đến với khán giả xem đài. (Tuổi Trẻ 7/3/2011)

    Ra mắt trang thông tin về du lịch Quảng Nam

    Ngày 5/3/2011, tại TP.Hội An, trang thông tin điện tử có địa chỉ www.qta.org.vn của Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Nam đã chính thức ra mắt người dân và du khách. Hiệp hội này cho biết đã có 41 doanh nghiệp tham gia hiệp hội và cung cấp các thông tin cho du khách. Trong năm 2011, hiệp hội sẽ hoàn thành dự án Sơ đồ du lịch Hội An. Trang thông tin điện tử này sẽ cung cấp thông tin, giới thiệu các hoạt động của hiệp hội và cập nhật các thông tin cần biết liên quan đến ngành du lịch, dịch vụ, thương mại tại Quảng Nam đến người dân, du khách. Các hội viên hiệp hội cũng được cập nhật thông tin hoạt động chính của đơn vị mình bằng nhiều ngôn ngữ trên website hiệp hội và thông tin nội bộ. (Pháp luật TP.HCM 6/3/2011)

    Phú Yên: Lắp đặt sớm thiết bị giám sát hành trình xe buýt

    Sở GTVT tỉnh Phú Yên đã yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xe buýt trên địa bàn chấn chỉnh ngay hoạt động để bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Các doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ, quản lý lệnh vận chuyển xe buýt; niêm yết, thông tin đầy đủ về số hiệu tuyến, hành trình để hành khách, cơ quan chức năng dễ dàng nhận biết, giám sát. Các doanh nghiệp xe buýt phải thực hiện việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trước ngày 1/7/2011 (sớm hơn sáu tháng so với lộ trình của Chính phủ)... Trong ba tháng gần đây, trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã xảy ra hơn 10 vụ tai nạn giao thông do xe buýt gây ra, làm một người chết, hơn 40 người bị thương, gây bức xúc trong dư luận. (Pháp luật TP.HCM 7/3/2011)

    Doanh nghiệp Việt làm máy tính bảng: “Quá khó!”

    Tháng 10/2010, Công ty Điện tử Hà Nội (Hanel) ra mắt chiếc máy tính bảng mang thương hiệu Việt đầu tiên, và dự kiến một tháng sau đó sẽ chính thức đưa sản phẩm ra thị trường. Nhưng đến giờ, sản phẩm máy tính bảng Hanel Pad của Hanel vẫn "bặt vô âm tín"... Một đơn vị khác là Công ty Máy tính CMS (thuộc Tập đoàn Công nghệ CMC) cũng lên kế hoạch sản xuất máy tính bảng và tiến tới thương mại hóa, nhưng giờ cũng chưa có tín hiệu gì rõ ràng.

    Để cho ra đời những sản phẩm cùng dòng với chiếc iPad, các hãng công nghệ Việt Nam đang vấp phải những khó khăn gì? Ông Nguyễn Phước Hải, Tổng giám đốc CMS cho biết, máy tính bảng (tablet PC) không phải là khái niệm mới trong làng máy tính, nhưng làm thế nào để nó thành công đến bây giờ vẫn là bài toán khó, kể cả sau khi mẫu iPad của Apple đã thành công rồi. Trong vòng vài năm nữa, bất kể 5 hay 10 tập đoàn công nghệ có lao vào cạnh tranh, nhưng cộng tất cả lại thì cũng sẽ khó chiếm được một nửa thị trường, và đa số thị phần sẽ vẫn là do iPad chiếm giữ. Chắc chắn là nó quá khó. Làm ra được cái máy thì đơn giản, nhưng có bán được như iPad không mới là vấn đề. Nếu để có một cái máy tính xong gắn logo của mình lên thì chỉ cần 10 ngày nữa là CMS cũng có, nhưng nó là cái gì và cạnh tranh như thế nào, thì cái quá khó chính là ở chỗ đó.

    Tất cả các hãng công nghệ có thể làm được từ bộ vi xử lý, phần mềm, phần cứng, giao diện, màn hình to hay nhỏ... Đó không phải là vấn đề về công nghệ. Thách thức của các công ty công nghệ khi tiếp cận với máy tính bảng, có gì đấy giống như việc smartphone (điện thoại thông minh) phải làm thế nào để cạnh tranh với iPhone, thậm chí, trong trường hợp này còn khó khăn hơn. Vì thế, về bản chất, nó không chỉ là thách thức về vấn đề phần cứng, không chỉ là nhồi nhét nhiều công năng mà là cạnh tranh như thế nào để giành giật khách hàng mục tiêu từ iPad. Nó là bài toán không đơn giản, kể cả những người có 1 tỷ USD đầu tư thì bây giờ cũng chưa tìm được lời giải thích hợp.

    Là một nhà xuất có quan hệ gần gũi với Intel và Microsoft, CMS đang làm việc với các hãng này, dù họ cũng chậm chân trên thị trường máy tính bảng, để có thể có những phiên bản phù hợp với thị trường máy tính bảng. Đấy là một trong những lựa chọn ưu tiên của CMS khi định giới thiệu sản phẩm ra thị trường. Điều quan trọng là, giống như smatrphone bây giờ, nó thông minh như thế nào là ở các ứng dụng tiếp theo. Đề án này không thể nào nhanh như một số các sản phẩm khác của CMS được. CMS cũng sẽ không định trở thành người tiên phong trên thị trường máy tính bảng thương hiệu Việt. Cách tiếp cận của CMS là làm khâu nào trong cả chuỗi tạo ra sản phẩm đó. Thiết kế ban đầu thì iPad đã định ra xu hướng rồi, các hãng không phải làm nữa. Bây giờ hoặc là các hãng phải chọn giảm các công năng đi, để giá rẻ hơn, hoặc tăng các phần đó lên, phức tạp hơn, hấp dẫn người dùng để cạnh tranh.

    Vấn đề tiếp theo là thiết kế ra các ý tưởng và thiết kế sản phẩm. Các hãng làm máy tính bảng đều đang làm ở khâu này. Thứ ba là đi thuê sản xuất, trong trường hợp của CMS sẽ thuê tại Đài Loan. Sau khi có sản phẩm rồi, phần mềm rồi, mình sẽ kết hợp với các nhà ứng dụng, phát triển dịch vụ và đưa vào kênh phân phối. Đồng thời, mình tổ chức các dịch vụ cho người dùng, để họ mua sản phẩm không phải như mua một cái TV, mà nó sẽ tương tác với những dịch vụ mà mình sẽ cung cấp tiếp theo, kiểu như của Apple Store.

    Có lẽ một vài sản phẩm mang tính ý tưởng, hoặc định vị chuẩn của sản phẩm mới của CMS có thể xuất hiện trên thị trường cuối quý 2 hoặc đầu quý 3 năm nay, nhưng ở dạng thành phẩm sẽ muộn hơn. Chúng tôi cũng không quá lo lắng, vì thị trường Việt Nam về mặt công nghệ cao luôn luôn đi chậm hơn thế giới một chút, đó cũng là cơ hội để mình nghiên cứu các giải pháp. Mặt khác, các sản phẩm iPad ở thị trường Việt Nam đã có, nhưng mà chưa nhiều lắm. (Vn Economy 7/3/2011)

    Đề nghị nâng cấp Cao đẳng CNTT Việt - Hàn lên Đại học

    UBND thành phố Đà Nẵng vừa có văn bản đề nghị Bộ GDĐT cho phép nâng cấp Trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt – Hàn lên thành Đại học. Theo UBND thành phố Đà Nẵng, việc nâng cấp trường lên thành đại học sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cho sự phát triển CNTT-TT của Đà Nẵng và khu vực miền trung - Tây Nguyên, đặc biệt là khi thành phố Đà Nẵng đưa Khu công nghệ cao vào hoạt động. Đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt – Hàn có tổng diện tích 13,6 ha với hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ từ các phòng học lý thuyết, thực hành, thiết bị phục vụ giảng dạy học tập, thư viện, ký túc xá… Trên 60% số giảng viên của trường đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, đáp ứng được yêu cầu của một trường đại học. Hiện nay, trường đang đào tạo hơn 2.500 sinh viên hệ cao đẳng chính quy; tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm, học liên thông lên đại học chiếm trên 80%. Trước đó, vào tháng 1/2011, trường đã được Bộ TTTT phê duyệt đầu tư mở rộng với tổng số vốn hơn 138 tỷ đồng. (ICT News 6/3/2011)

    Nữ tổng công trình sư xử lý và nhận dạng tiếng Việt

    Đó là cách gọi trìu mến mà đồng nghiệp mỗi khi nhắc về PGS. TS.Lương Chi Mai - Phó Viện trưởng Viện CNTT trực thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, người được biết đến với nhiều giải thưởng từ các công trình nghiên cứu về nhận dạng chữ Việt, tiếng Việt và công nghệ tri thức. Bà cũng là một trong hai gương mặt nữ tiêu biểu của Việt Nam vinh dự được giải Kovalevskaia 2010 sẽ được trao vào ngày 8/3/2011, là một trong số ít và lại càng là gương mặt nữ hiếm hoi theo học ngành Toán ứng dụng tại ĐH Quốc gia Kishinev (Moldova - Liên Xô cũ).

    Chính những năm tháng học tập tại đây, các thầy cô đã truyền cho chị kiến thức, tình yêu đối với những môn toán cơ bản, toán ứng dụng, giải tích, thống kê cũng như phương pháp nghiên cứu, tư duy, “kỹ năng mềm” giúp chị đi đến đích trong công việc. Cuối những năm 1989, chị bắt đầu tìm hiểu khả năng áp dụng các thuật toán nhận dạng cho nhận dạng ảnh ký tự với các cách tiếp cận đối sánh mẫu trên tư tưởng phương pháp thống kê. Đây là nền tảng để xây dựng hệ thống nhận dạng ký tự chữ Việt in. Chị đã góp phần tiến hành, thiết kế, phát triển phần mềm nhận dạng chữ Việt in với tên gọi là VnDOCR, nhờ vậy, lần đầu tiên ở Việt Nam đã giải quyết cơ bản vấn đề máy đọc được các văn bản chữ Việt in, đáp ứng nhu cầu về tự động hóa lưu trữ, xử lý các văn bản chữ Việt. Các nghiên cứu này được nhận nhiều giải thưởng, trong đó có giải Nhất sáng tạo KHCN Việt Nam năm 1999.

    Năm 2000, bà Mai chuyển hướng nghiên cứu sang lĩnh vực nhận dạng tiếng nói tiếng Việt, một nghiên cứu đáp ứng nhu cầu giao tiếp với máy tính bằng tiếng Việt ngày càng trở nên cấp thiết. Đến nay, bà đã đạt được những thành công bước đầu trong việc số hóa tiếng Việt với những đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thanh điệu. Những đóng góp này không chỉ giúp cho việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt mà còn giúp quá trình dịch tiếng nói giữa tám ngôn ngữ chính ở châu Á trong khuôn khổ A - STAR. Bí quyết thành công chính là biết chia nhỏ những vấn đề đó theo các cấp độ từ dễ đến khó. Những kết quả của các công trình trước sẽ được kế thừa để giải quyết những vấn đề tiếp theo. Cũng nhờ thông qua những thành công của từng dự án, bà lại nhận được những đặt hàng cho các dự án, đề tài tiếp theo. Những đặt hàng này chính là nguồn thu giúp duy trì nguồn tài chính ổn định cho nhóm làm việc. Nhóm đang hoàn thiện phần mềm dịch tiếng nói tiếng Việt sang tiếng nói tiếng Anh cài đặt cho điện thoại di động để phục vụ cho mục đích giao tiếp du lịch.

    Không chỉ dừng ở vai trò tổng công trình sư một nhóm nghiên cứu, với cương vị Phó Viện trưởng một viên nghiên cứu, bà đang tham gia vào việc tham mưu cho Chính phủ những chiến lược dài hạn cho CNTT Việt Nam nói chung và cho vấn đề xử lý tiếng Việt nói riêng. Theo TS Mai, các dự án trong lĩnh vực nhận dạng và xử lý tiếng Việt còn manh mún, không có sự liên hệ, phối hợp trong khi các dự án về nhận dạng, tổng hợp, dịch tự động, tìm kiếm… đều dựa trên phương pháp thống kê. Nếu áp dụng phương pháp này cần dựa trên kho ngữ liệu rất lớn. Đáng tiếc, tại Việt Nam chưa có kho ngữ liệu này. Điều mà bà trăn trở bấy lâu nay chính là phải xây dựng được kho ngữ liệu, nuôi dưỡng và có thể chia sẻ trong cộng đồng.

    Hiện nay, TS Lương Chi Mai đang kêu gọi cộng đồng VLSP (Vietnamese Language and Speech Processing – xử lý văn bản và giọng nói tiếng Việt) để hình thành kho ngữ liệu này. Và điều mà bà chú trọng hơn nữa là làm sao để có sự tham gia của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này bởi điều này sẽ giúp ích cho sự tồn tại của chính doanh nghiệp. Đây cũng là một nội dung đề tài cấp Nhà nước mà bà sẽ theo đuổi trong 2 năm 2011 – 2012: “ Nghiên cứu phát triển hệ thống dịch tiếng nói 2 chiều Việt- Anh, Anh-Việt có định hướng lĩnh vực”. Tính đến nay, TS Lương Chi Mai đã tham gia nghiên cứu 48 công trình khoa học trong đó có 4 công trình được đăng trên tạp chí quốc tế, là đồng tác giả của 4 cuốn sách và tài liệu tham khảo; công bố 8 đề tài khoa học công nghệ trong đó chủ nhiệm 3 đề tài trọng điểm cấp Viện, 4 đề tài cấp Nhà nước và chủ trì 1 dự án triển khai ứng dụng.

    10 năm giữ trọng trách Phó Viện trưởng Viện CNTT, với tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình với công việc, bà đã đưa Viện trở thành một trong những cơ sở chiếm tỷ trọng lớn trong Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam về số lượng nghiên cứu sinh lên tới 70 người đang thực hiện các chủ đề nghiên cứu tại Viện. Riêng bà Mai đang hướng dẫn nghiên cứu cho 9 nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ và 10 thạc sĩ, tham gia giảng dạy môn Nhận dạng và xử lý ảnh; đồ họa máy tính tại các trường đại học Bách khoa, Trường đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội)… TS Lương Chi Mai quả quyết rằng sau này khi nghỉ quản lý, chị sẽ toàn tâm toàn ý cho công việc nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu như hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh. (Nhân dân Điện tử 2/3/2011).