• Thứ Bảy, 20/08/2011 20:54 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 20/8/2011

    Tân Khoa
    Giáo dục đại học Việt Nam cần thực tế. Kết nối elearning cho ngành khoa học công nghệ. Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tự in hoá đơn. Lấy cắp nick ảo, lừa đảo tiền thật. Mười năm chưa gỡ xong nút thắt nhân lực…

    Giáo dục đại học Việt Nam cần thực tế

    Nhận thức, đội ngũ, cơ sở vật chất, chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học, cơ chế. Đây là những cái mà giáo dục ĐH cần nhưng đang thiếu. Đó là những vấn đề chính được nêu ra tại Hội nghị kiều bào góp ý, hiến kế thực hiện chương trình nâng cao chất lượng giáo dục ĐH, CĐ trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2011 - 2015 do Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM và CLB Khoa học - Kỹ thuật người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM tổ chức ngày 19/8/2011.

    Để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH, TS Dương Minh Trí (Việt kiều Đức) cho rằng ngoài cơ sở vật chất, điểm then chốt là tìm được các nhà khoa học có năng lực thực sự trong giảng dạy, nghiên cứu.

    GS TS Nguyễn Xuân Xanh (Việt kiều Đức) cũng đồng ý kiến: “Muốn có chất lượng phải có thầy giỏi mà thầy giỏi chính là người có khả năng nghiên cứu, dẫn dắt sinh viên sáng tạo. Vì vậy, họ phải có thời giờ để nghiên cứu, phải đi dự các hội nghị quốc tế, phải có đồng nghiệp nước ngoài. Không có nghiên cứu, trình độ thầy và trò và của quốc gia sẽ bị lạc hậu”.

    GS TS Đặng Lương Mô (Việt kiều Nhật, cố vấn ĐH Quốc gia TP.HCM) nói: “Nên tránh nêu lên những mục tiêu xa vời mà hãy nhắm vào những mục tiêu gần, có thể đạt được trong tầm tay. Có lẽ nên học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc quy định các tiêu chuẩn tối thiểu đối với một ĐH để đảm bảo chất lượng ĐH về hai mặt là cơ sở vật chất và đội ngũ giảng dạy. Đạt được hai tiêu chuẩn này thì những ĐH tầm cỡ thế giới, ĐH tầm cỡ khu vực… đều sẽ tự nhiên thành”. (Pháp luật TP.HCM 20/8/2011)

    Kết nối elearning cho ngành khoa học công nghệ

    Dự án “Nâng cao năng lực xây dựng hệ thống kết nối thông tin và đào tạo trực tuyến (MTI-e)” được Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ triển khai từ gần 1 năm qua. Rất nhiều đầu việc đã được thực hiện, điển hình là xây dựng hệ thống phần mềm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trực tuyến (elearning) với những chức năng cơ bản gồm quản lý thông tin, quản lý bài giảng trực tuyến, quản lý lớp học trực truyến, thi và tổ chức thi, không gian chia sẻ; thuê hệ thống hạ tầng kỹ thuật CNTT (máy chủ, thiết bị kết nối, đường truyền,…) để triển khai hệ thống MTI-e; xây dựng một số bài giảng, tài liệu học tập trực tuyến làm cơ sở ban đầu để từng bước triển khai các khóa học trực tuyến cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành khoa học công nghệ…

    Theo Phó Hiệu trưởng TS. Trần Công Yên, đến nay đã có hơn 11.600 người dùng đăng ký tài khoản sử dụng hệ thống MTI-e; tổng lượng truy cập trên 447.000. Một số bài giảng trực tuyến đã thu hút số lượng lớn lượt người xem như: Lập kế hoạch và quản lý chuyển giao công nghệ; Kỹ năng xây dựng nhiệm vụ khoa học công nghệ; Các vấn đề về sở hữu trí tuệ trong lập kế hoạch và thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ… Dự kiến trong giai đoạn 2011-2015, Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục mở rộng loại hình đào tạo trực tuyến, đa dạng hóa chương trình đào tạo và đối tượng đào tạo, cụ thể là sẽ mở rộng đào tạo cho cán bộ công chức viên chức của các Bộ, ngành khác, các trường đại học và các doanh nghiệp, mở rộng hợp tác quốc tế với các nước ở khu vực trong lĩnh vực đào tạo quản lý khoa học công nghệ. (ICT News 19/8/2011)

    Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tự in hoá đơn

    Theo Bộ Tài chính, để tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp chuyển sang tự in, đặt in hoá đơn theo như Nghị định 51/2011/NĐ-CP, Tổng cục Thuế sẽ đặt hàng xây dựng phần mềm in hoá đơn cho doanh nghiệp, xây dựng đề án tổng thể về hoá đơn (bao gồm cơ sở pháp lý, công nghệ, tuyên truyền hỗ trợ… trong đó đề án trung tâm cơ sở dữ liệu xác thực hoá đơn là đề án lõi). (Lao Động 20/8/2011)
    Vi phạm bản quyền trên Internet sẽ phải bồi thường?

    Doanh nghiệp đăng tải, công bố, truyền bá, kinh doanh nội dung thông tin số trên mạng Internet sẽ phải trực tiếp bồi thường thiệt hại nếu vi phạm quyền tác giả. Đây là nội dung trong dự thảo Thông tư liên tịch của Bộ TT-TT và Bộ VH-TT-DL về giải quyết tranh chấp quyền tác giả trên môi trường mạng Internet. Dự thảo được đưa ra lấy ý kiến từ ngày 16/8 đến 15/10/2011. Cụ thể, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi là nguồn khởi đầu đăng tải thông tin mà không được phép của tác giả hoặc khi sửa chữa, cắt xén, sao chép thêm bớt nội dung mà không được phép của tác giả…

    Doanh nghiệp có thể được miễn trừ trách nhiệm nếu không phải là nguồn khởi đầu đăng tải, thực hiện gỡ bỏ và xóa nội dung thông tin vi phạm đã đăng tải khi được nhắc nhở. Theo dự thảo này, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đình chỉ việc tham gia mạng xã hội của thành viên vi phạm. (Pháp luật TP.HCM 20/8/2011)

    Nhiều website sao chép trái phép thông tin báo chí

    Tại hội nghị phổ biến quy định pháp luật về cung câp thông tin trên Internet, ông Phạm Quốc Bản – Giám đốc Sở TTTT Hà Nội cho biết, Sở TTTT Hà Nội đã nhắc nhở, xử lý hàng loạt vi phạm của các trang thông tin điện tử với số tiền phạt lên đến hàng trăm triệu đồng, có trường hợp đã bị rút giấy phép. Phổ biến là nhiều doanh nghiệp sao chép trái phép thông tin từ báo chí. Trong thời gian tới, Sở TTTT Hà Nội sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm với cả một số blog cá nhân. (Tiền Phong 20/8/2011)

    Lấy cắp nick ảo, lừa đảo tiền thật

    Thời gian gần đây, các cư dân mạng đang hết sức lo lắng và trở nên cẩn trọng với chính những bạn bè, người thân của mình khi tham gia sử dụng phần mềm giao tiếp Yahoo Messenger (YM) trên mạng Internet. Bởi lẽ, chỉ cần bất cẩn một chút là các chatter có thể bị lấy cắp nick và tạo điều kiện cho kẻ gian lừa đảo tiền bạc của chính người thân, bạn bè mình. Đã có người vì quá tin tưởng bè bạn đã cho mượn nick chat của mình nhưng sau đó đã bị chiếm dụng luôn vì người mượn lại để lộ mật khẩu với kẻ khác trên mạng. Sau đó, kẻ gian này đã sử dụng nick chat để lửa đảo với các bè bạn của khổ chủ để chiếm đoạt tiền bạc ít nhất là theo kiểu vì khó khăn xin tiền nạp thẻ. Với chiêu thức này, một ngày kẻ gian có thể lừa đảo được số lượng thẻ nạp điện thoại có giá trị lên tới hàng triệu đồng. Trong khi chờ cơ quan an ninh vào cuộc điều tra thì người dùng YM nên cẩn trọng khi có ai muốn mượn tài khoản YM của mình hoặc nhờ nạp thẻ điện thoại để tránh mất tiền oan. (Dân Việt 20/8/2011)

    Mười năm chưa gỡ xong nút thắt nhân lực

    Nhiều năm qua trong các đề án quốc gia luôn khẳng định nhân lực là yếu tố quyết định để phát triển ngành CNTT như một ngành công nghiệp dịch vụ có hàm lượng chất xám cao. Nếu không có các giải pháp căn cơ về đào tạo nguồn nhân lực gắn với các mục tiêu phát triển thị trường công nghệ, khó có thể giải quyết được yêu cầu về ngành CNTT như một ngành công nghiệp dịch vụ. Thực tế trên cả nước có gần 400 trường đại học có đào tạo sinh viên ngành CNTT từ cấp cao đẳng trở lên, nhưng chỉ số ít trường đào tạo sinh viên theo chuẩn quốc tế. Hơn 50.000 kỹ sư ra trường hàng năm nhưng nếu đánh giá chất lượng nghiêm túc thì chưa đến 10% đạt yêu cầu về nghề. Mặt khác, lĩnh vực CNTT hiện có hàng chục ngành nghề khác nhau và những ngành mới ra đời liên tục, nhưng việc đào tạo hiện nay vẫn theo lối mòn với mỗi trường có những ngành na ná nhau.

    Việc mở thêm những lĩnh vực mới vẫn là một khó khăn trong cơ chế đào tạo hiện nay, nhất là những ngành đặc thù như tin học cho tài nguyên môi trường, viễn thám, tài chính chứng khoán... dù nhu cầu thị trường đang rất cao. Bên cạnh đó, việc thiếu nhân lực cấp cao trên thị trường cũng đang là nỗi lo của doanh nghiệp. Nhiều dự án cao cấp triển khai cho các ngành công nghiệp vẫn đang phải thuê chuyên gia nước ngoài với chi phí cao hơn nhiều lần, bởi nguồn nhân lực trong nước không đáp ứng đủ. Một ngành công nghiệp đã trải qua hơn mười năm phát triển vẫn thiếu trầm trọng đội ngũ nhân sự cao cấp như kiến trúc hệ thống, giám đốc dự án hay các nhà quản lý cấp trung thì sự khập khễnh cho toàn bộ đội ngũ nhân lực về lâu dài là khó tránh khỏi.

    Theo ông Ngô Văn Toàn, Phó Tổng giám đốc công ty Global CyberSoft, vấn đề nhân lực trước nay vẫn là bài toán khó cho doanh nghiệp. Đó là khó khăn chung vì thế mỗi doanh nghiệp đều có chiến lược đào tạo riêng và đầu tư để hình thành nguồn lao động phù hợp cho lộ trình kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nếu xét ở quy mô ngành sẽ là điểm yếu cho toàn thị trường CNTT. Hệ quả là doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đến nay đa phần vẫn ở quy mô nhỏ. Điều này cũng làm ảnh hưởng đến năng lực và tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường toàn cầu, đặc biệt đối với những dự án cần lượng nhân lực lớn.

    Sau hơn 10 năm phát triển số doanh nghiệp có vài trăm kỹ sư vẫn còn quá ít. Điều này cũng phản ánh rằng sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành chịu rất nhiều hạn chế về chất lượng lẫn quy mô, mặc dù số kỹ sư CNTT hiện đã tăng lên rất nhiều so với cách đây mười năm, số lượng doanh nghiệp cũng nhiều và đa dạng hơn. “Lý do có nhiều nhưng tựu trung vẫn liên quan đến hai vấn đề lớn: nền tảng môi trường cho tăng trưởng còn kém, và nút thắt cổ chai là ở chất lượng nguồn nhân lực”, theo ông Toàn.

    Theo ông Nguyễn Hữu Lệ, Chủ tịch TMA Solutions, ở thị trường nào cũng vậy, nếu cầu (lao động) luôn lớn hơn cung sẽ làm cho doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến các lợi ích ngắn hạn. Khó khăn có nhiều nhưng phần lớn là doanh nghiệp luôn muốn tìm những người có kinh nghiệm trong khi lực lượng này là không có nhiều. Mặt khác, vì là đa số doanh nghiệp ở quy mô nhỏ nên không thể tất cả đều có được chính sách, năng lực hoặc khả năng tài chính để đào tạo dài hơi cho việc phát triển, tạo thêm căng kéo trên thị trường.

    Ông Ngô Hùng Phương, Tổng giám đốc CSC Việt Nam cho rằng, tình hình đào tạo và phát triển so với 10 năm trước có những tiến bộ nhưng không nhiều, bởi quanh đi quẩn lại chúng ta chỉ có một số doanh nghiệp lớn và không có nhiều doanh nghiệp mới. Vì thế cũng chỉ số ít doanh nghiệp mạnh mới có thể có chiến lược sử dụng nguồn nhân lực ít kinh nghiệm hơn. Trong khi để toàn ngành phát triển, mỗi công ty phải đầu tư nhiều hơn để làm điều này cho lợi ích lâu dài của toàn thị trường: nguồn nhân lực ổn định, giá cả thấp và tỷ lệ chuyển việc thấp. Theo ông Phương, lợi điểm của Việt Nam trên thị trường CNTT toàn cầu đang giảm dần: tỷ lệ lao động chuyển việc từ 7 – 8% cách đây 5 năm đã tăng lên khoảng 15%. So với Ấn Độ, chi phí nhân công thấp hơn từ khoảng 30 – 35% nay chỉ còn 15 – 20%. Lý do chính vẫn là do chúng ta không có giải pháp đột phá, quyết liệt và nhanh chóng để cải thiện nguồn nhân lực. (Sài Gòn Tiếp Thị 19/8/2011).