• Thứ Sáu, 07/10/2011 15:36 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 7/10/2011

    Tân Khoa
    Khoảng 20 triệu người Việt Nam đang dùng 3G. FPT sắp trình làng máy tính bảng. 85 đội tuyển tham dự Olympic Tin học Sinh viên và ACM/ICPC 2011. Tiến tới một nền kho bạc điện tử…

    Thúc đẩy hợp tác CNTT Việt Nam – Hàn Quốc

    Ngày 6/10/2011 tại Hà Nội, Bộ TTTT Việt Nam, Bộ Kinh tế Tri thức Hàn Quốc và Tổ chức Xúc tiến Thương mại Hàn Quốc (KOTRA) đã tổ chức diễn đàn “Chia sẻ thành công và lợi ích hướng tới hợp tác trong lĩnh vực CNTT”. Diễn đàn này được tổ chức trong khuôn khổ Chương trình Quảng bá Công nghệ cao và Thiết kế Hàn Quốc tại Việt Nam và các nước ASEAN. Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ TTTT Trần Đức Lai đã đánh giá cao về sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực CNTT và khẳng định: Việt Nam luôn mở rộng cánh cửa để chào đón các nhà đầu tư nước ngoài về CNTT-TT.

    Ông Hwa Seoung Byeon – Đại diện KOTRA cũng cho biết, trong tầm nhìn đến 2020, Hàn Quốc sẽ phát triển mạnh mẽ xuất khẩu sản phẩm CNTT và dẫn đầu về thị trường CNTT hội tụ. Bên cạnh diễn đàn này, một triển lãm về công nghệ cao và thiết kế Hàn Quốc đã được tổ chức trong 2 ngày 6 – 7/10/2011 ở khách sạn Melia Hà Nội. Nhiều sảm phẩm công nghệ cao và công nghệ thiết kế của Hàn Quốc đã được giới thiệu tại đây. (Bưu điện Việt Nam 7/10/2011)

    Khoảng 20 triệu người Việt Nam đang dùng 3G

    Đây là thông tin do hãng Qualcomm đưa ra tại buổi công bố hợp tác giữa Qualcomm và nhà bán lẻ di động Thegioididong hôm 6/10/2011 nhằm phổ cập những kiến thức về mạng 3G cho người tiêu dùng Việt Nam. Ông Vũ Minh Trí, Tổng giám đốc Qualcomm Đông Dương và Thái Lan, cho hay kết nối 3G tại Việt Nam đã vượt ngưỡng 20 triệu trong quý 2/2011, chiếm khoảng 18% tổng thuê bao. Đây là con số ấn tượng vì Việt Nam mới xây dựng mạng lưới 3G gần 2 năm. Theo ông Trí, một trong những động lực giúp mạng 3G tại Việt Nam phát triển nhanh đó là một sự sụt giảm từ từ về giá của các thế hệ điện thoại thông minh trên thị trường trong năm 2011. Một khi nhu cầu sử dụng điện thoại thông minh tăng lên, nó sẽ giúp gia tăng lưu lượng sử dụng các dịch vụ dữ liệu trên mạng 3G.

    Cũng theo ông Trí, 20 triệu người sử dụng mạng 3G là con số ấn tượng nhưng Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tính năng của mạng 3G. Người dùng mạng 3G chỉ đơn giản là truy cập Internet. Do đó, các nhà cung cấp viễn thông, các nhà phát triển nội dung và bán thiết bị đầu cuối phải bắt tay nhau làm cho người tiêu dùng hiểu được những giá trị thực chất mà mạng 3G hơn là truy cập Internet đơn thuần. “Thêm vào đó, họ phải phát triển các dịch vụ tiện ích, nội dung thông tin trên mạng 3G. Đây mới là các dịch vụ giá trị gia tăng mang lại lợi nhuận cho nhà cung cấp dịch vụ viễn thông”, ông Trí nói. (TBKTSG Online 6/10/2011)

    85 đội tuyển tham dự Olympic Tin học Sinh viên và ACM/ICPC 2011

    Từ ngày 5-8/10/2011, tại Trường Đại học Cần Thơ diễn ra Olympic Tin học Sinh viên Việt Nam lần thứ 20 và Thi lập trình viên quốc tế ACM/ICPC Việt Nam. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) tiếp tục đồng hành với vai trò là nhà tài trợ chính. Sau 20 năm tổ chức, quy mô và uy tín của cuộc thi ngày càng được mở rộng cả về đối tượng, nội dung... đồng nhịp cùng quá trình phát triển và định hướng chiến lược về nguồn nhân lực CNTT – Truyền thông của đất nước, cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Đây tiếp tục là dịp tìm kiếm và biểu dương những tài năng trong số 700 sinh viên đến từ 70 trường ĐH-CĐ trên toàn quốc tham dự, với 85 đội tuyển thi cả 2 nội dung cá nhân và đồng đội. (VnMedia 7/10/2011)

    Hà Nội: Gỡ khó cho DN thực hiện thủ tục hải quan điện tử

    "Hải quan Hà Nội sẽ tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc, bất cập để ứng dụng Thủ tục hải quan điện ở trình độ cao hơn nữa, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại, đảm bảo hiệu quả công tác quản lý..." là cam kết của Cục Hải quan Hà Nội với cộng đồng doanh nghiệp tại lễ tổng kết giai đoạn thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tổ chức ngày 6/10/2011. Sau gần 2 năm thực hiện thí điểm Thủ tục hải quan điện tử, Cục Hải quan Hà Nội đã triển khai tại toàn bộ 13 chi cục, gồm 9 chi cục đóng tại Hà Nội và 3 chi cục đóng trên địa bàn các tỉnh: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ. Đây là các chi cục có nhiều khu công nghiệp, khu công nghệ cao có quy mô rất lớn với nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư như: Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Quế Võ, Yên Phong, Tiên Sơn và khu công nghệ cao Láng Hoà Lạc. Hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn cũng rất đa dạng về loại hình như: xuất - nhập khẩu kinh doanh, đầu tư, gia công, chế xuất, xuất nhập khẩu tại chỗ…

    Ông Lê Ngọc Khiêm - Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hà Nội cho biết: Đến giữa tháng 9/2011, toàn Cục có 1.729 doanh nghiệp tham gia với tỷ lệ tờ khai, kim ngạch thực hiện Thủ tục hải quan điện tử trong tháng 9 đều đạt trên 80%. Kết quả thực hiện Thủ tục hải quan điện tử tại đơn vị thời gian qua là hết sức tích cực. Để có được thành tích này, ngoài sự cố gắng của đội ngũ cán bộ công chức và cơ quan Hải quan, vai trò của doanh nghiệp là hết sức quan trọng. (Tamnhin.net 7/10/2011)

    Khai trương Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắc Nông

    Ngày 5/10/2011, tại thị xã Gia Nghĩa, UBND tỉnh Đắc Nông đã tổ chức lễ khai trương đưa vào hoạt động Cổng thông tin điện tử (TTĐT) tỉnh Đác Nông theo địa chỉ http://www.daknong.gov.vn. Cổng TTĐT tỉnh Đác Nông là Cơ quan thông tin chính thống của tỉnh Đác Nông trên mạng Internet. Trước mắt, Cổng TTĐT tỉnh Đác Nông cung cấp các dịch vụ hành chính công trực tuyến từ các mức độ 2, 3, 4 để người dân và doanh nghiệp có thể tương tác từ xa qua mạng Internet.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Bốn cho biết: Cổng TTĐT thực hiện chức năng tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh; giới thiệu, quảng bá hình ảnh về vùng đất, con người, lịch sử, văn hóa, tiềm năng của tỉnh nhằm kêu gọi, thu hút đầu tư vào tỉnh. Đồng thời, đây cũng là kênh thông tin quan trọng trong việc nâng cao tính dân chủ, công khai, minh bạch hóa thông tin; vừa là tác nhân, vừa là kết quả quan trọng trong Chương trình cải cách hành chính, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình xây dựng Chính quyền điện tử với nền hành chính hiện đại ở địa phương. Cổng TTĐT tỉnh Đắc Nông do Công ty Giải pháp phần mềm CMC thiết kế xây dựng với hai ngôn ngữ chính là tiếng Việt và tiếng Anh, với tổng kinh phí thực hiện gần 3 tỷ đồng. (Nhân dân Điện tử 6/10/2011)

    Quảng Nam: Đầu tư 23 tỷ đồng cho hệ thống Internet không dây tại Hội An

    Sở TTTT tỉnh Quảng Nam đã phối hợp với Trung tâm Điện toán & Truyền số liệu khu vực III và Viễn thông Quảng Nam khảo sát, xây dựng xong phương án đầu tư cho hệ thống Internet không dây, phục vụ du khách trong và ngoài nước tại TP. Hội An. Thông tin này đã được ông Hồ Quang Bửu - Giám đốc Sở TTTT Quảng Nam khẳng định. Dự kiến, Hội An sẽ được phủ sóng Wi-Fi tại 350 điểm trọng yếu, nơi tập trung đông đúc du khách, nhằm đáp ứng nhu cầu lướt web, tìm kiếm thông tin của du khách; đồng thời, quảng bá hình ảnh Hội An ra thế giới. Được biết, kinh phí xây dựng công trình khoảng 23 tỷ đồng, chủ yếu từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp Hội An. (Đất Việt Online 6/10/2011)

    Đà Nẵng: Sẽ tạm ngưng mở trung tâm tin học, ngoại ngữ

    Sở GDĐT TP Đà Nẵng vừa có văn bản kiến nghị gửi UBND TP Đà Nẵng tạm thời không cấp phép thành lập mới, mở văn phòng, cơ sở, trung tâm tin học, ngoại ngữ trên địa bàn hai quận Hải Châu và Thanh Khê. Trước đó UBND TP Đà Nẵng đã yêu cầu Sở GDĐT tổng kiểm tra, rà soát đánh giá thực trạng, hoạt động của các trung tâm tin học, ngoại ngữ trên địa bàn để xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới các trung tâm tin học, ngoại ngữ giai đoạn 2012 - 2020. Phạm vi kiểm tra chủ yếu tập trung ở quận Hải Châu và Thanh Khê. Đây là hai địa phương có số lượng trung tâm nhiều nhất TP, tuy nhiên phần lớn các cơ sở đều đi thuê mướn, không ổn định. (Tuổi Trẻ 7/10/2011)

    Giới thiệu hệ thống phần mềm hỗ trợ hoạt động của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam

    Ngày 5/10/2011 tại Hà Nội, Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức hội thảo giới thiệu về hệ thống phần mềm hỗ trợ hoạt động của VUSTA. Đây là hệ thống thông tin lớn với 14 phân hệ phủ hầu hết các hoạt động của VUSTA với đối tượng sử dụng là lãnh đạo VUSTA, cán bộ cơ quan VUSTA, các hội thành viên và các đơn vị trực thuộc. Ngoài ra, hệ thống này còn phục vụ công chúng trong việc đọc tin tức, tham gia ý kiến, phản biện, đăng ký và sử dụng các dịch vụ trực tuyến. (Khoa học & Đời sống 6/10/2011)

    FPT sắp trình làng máy tính bảng

    Trong tháng 10/2011, FPT sẽ chính thức “trình làng” chiếc máy tính bảng của mình. Sản phẩm sẽ do Công ty TNHH Sản phẩm công nghệ FPT thuộc tập đoàn FPT chịu trách nhiệm sản xuất. Các thông tin chi tiết như cấu hình, kích cỡ, giá cả vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, FPT cho biết, thiết bị có khả năng khai thác kho ứng dụng Việt miễn phí F-Store và dùng hệ điều hành Android như phần lớn các máy tính bảng khác. FPT cũng dự định sẽ đưa ra mức giá thích hợp với đại đa số người dùng Việt. Trước đây, Công ty TNHH Thương mại FPT dự kiến trong quý 1/2011 sẽ cho ra mắt chiếc máy tính bảng đầu tiên, nhưng sau đó kế hoạch bị lui lại.

    Hiện tại, mới chỉ có công ty Pi Việt Nam tung ra hàng chục các mẫu máy tính bảng, với giá bán trung bình trên dưới 5 triệu đồng. Trong khi đó, công ty HiPT Mobile tiết lộ đang gấp rút hoàn tất kế hoạch thương mại hóa sản phẩm máy tính bảng, trong tháng 10 sẽ đưa vào sản xuất đại trà và dự kiến sang tháng 11 sẽ tung ra thị trường. Công ty Máy tính CMS (thuộc Tập đoàn Công nghệ CMC) cũng lên kế hoạch sản xuất máy tính bảng và dự kiến đến quý III/2011 sẽ thương mại hóa. Tuy nhiên, đến giờ, CMS vẫn không có thông tin gì về việc ra mắt sản phẩm này. (VnEconomy 6/10/2011)

    Tiến tới một nền kho bạc điện tử

    Theo ông Nguyễn Đại Trí – Phó Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước (KBNN) Trung ương, ngành Kho bạc đang thực hiện rất nhiều chiến lược phát triển nhằm mục tiêu hình thành nền kho bạc điện tử Việt Nam trong thời gian tới. Hiện tại, hệ thống CNTT của KBNN đã triển khai từ trung ương đến 63 KBNN tỉnh thành và gần 700 KBNN quận huyện. Từ năm 2006, KBNN là đơn vị đầu tiên trong ngành tài chính ứng dụng chứng thực điện tử và chứng thư điện tử với công nghệ thẻ chip. Từ đó đến nay, ứng dụng CNTT trong hệ thống KBNN đã có nhiều bước tiến. Cụ thể là đã giảm dần và tiến tới không giao dịch bằng tiền mặt (năm 2011, giao dịch bằng tiền mặt chỉ chiếm khoảng 8%). (Hải Quan 6/10/2011)

    Từ 2012, đào tạo tin học cho cán bộ xã, phường

    Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin, Bộ Nội vụ, cán bộ cấp xã hiện có trình độ không đồng đều, mới chỉ có dưới 15% có trình độ đại học, dưới 1% có trình độ trên đại học, nhiều cán bộ còn chưa hết lớp 12… Nhìn chung, cán bộ, công chức cấp xã rất cần được đào tạo nâng cao kiến thức kỹ năng tin học cơ bản và kỹ năng sử dụng các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ, chẳng hạn như kỹ năng soạn thảo các văn bản, kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý đáp ứng yêu cầu thông tin của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đối với cấp xã.

    Để giúp các địa phương thực hiện việc này, Trung tâm Thông tin, Bộ Nội vụ đã xây dựng một Chương trình khung và tiến hành xây dựng tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng CNTT cho cán bộ, công chức xã phù hợp với thực tiễn, gắn sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý của cán bộ xã cũng như mỗi vị trí việc làm của công chức xã. Chương trình khung cũng hướng tới việc xây dựng “cẩm nang” cho cán bộ, công chức xã dùng để tham khảo mỗi khi sử dụng máy vi tính.

    Chương trình sẽ triển khai với phương thức đào tạo tập trung trong vòng 1,5 tháng (42 ngày, mỗi ngày học 8 tiết). Chương trình khung sẽ đề cập tới 5 nội dung gồm: Tin học cơ bản (42 tiết), Tin học văn phòng (180 tiết), Đảm bảo an toàn, an ninh cho máy tính (24 tiết), Mạng và khai thác thông tin trên mạng (40 tiết), Phần mềm mã nguồn mở (PMNM) (50 tiết). Một trong những yêu cầu đối với việc xây dựng Chương trình khung được đặt ra là phải đưa một số nội dung về PMNM vào giảng dạy bắt buộc, phần còn lại làm tài liệu tham khảo, cẩm nang tra cứu. Tuỳ theo mức độ phổ cập của việc ứng dụng PMNM mà tăng các nội dung học bắt buộc lên cho phù hợp với mức độ được đầu tư và ứng dụng PMNM tại địa phương.

    Sau khi Bộ Nội vụ phê duyệt Chương trình khung, dự kiến trong tháng 10/2011, Trung tâm Thông tin, Bộ Nội vụ sẽ hoàn thành tài liệu, giáo trình và tiến hành đào tạo thử nghiệm, sau đó sẽ rút kinh nghiệm, chỉnh sửa lại tài liệu, giáo trình cho phù hợp, rồi ban hành chính thức. Chương trình khung đã đặt ra một số yêu cầu đối với giảng viên như: đã tham gia giảng dạy hoặc công tác trong lĩnh vực CNTT, đã được tập huấn về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng CNTT cho cán bộ công chức xã theo nội dung của Chương trình khung, cần đầu tư nghiên cứu, biên soạn giáo án sát với nội dung của giáo trình được viết theo nội dung của Chương trình khung này... Đội ngũ giảng viên và địa điểm đào tạo dự kiến sẽ chủ yếu dựa trên hệ thống trường chính trị tỉnh hoặc sử dụng địa điểm là các trường trung học phổ thông của các địa phương. Dự kiến việc triển khai đào tạo chính thức sẽ được bắt đầu ngay từ đầu năm 2012. (Bưu điện Việt Nam 5/10/2011)

    Nguy hiểm của tiến trình công nghiệp hoá ở Việt Nam là vẫn theo cách làm kinh điển dù không khả thi

    Theo TS Đinh Thế Phong – chuyên viên Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Khoa học & Công nghệ (NISTPASS), Việt nam luôn khẳng định phải công nghiệp hoá (CNH) nhưng chưa hiểu rõ một cách thống nhất về CNH. Nguy hiểm ở chỗ: vẫn theo CNH kinh điển dù không khả thi, hoặc là không rõ nội dung, nhưng vẫn theo đuổi mà chưa bao giờ thực sự nhập cuộc. Một mặt, chúng ta trông đợi viển vông, coi CNH như cây đũa thần sinh ra mọi thứ. Mặt khác, ta không biết cái cụ thể có thể đạt được để làm. Việc “đặt bài” chưa rõ nên chương trình CNH, KHCN trở nên chông chênh, không có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới. KHCN vốn dĩ dễ xa rời hiệu quả kinh tế, thì trong hoàn cảnh này lại càng bị phân tán. Đây là việc mang tính “kỹ thuật” của cả lãnh đạo và nhà chuyên môn. Cần có cơ chế để lãnh đạo lắng nghe chuyên môn (giỏi) và giới chuyên môn đưa ra được phương án để lãnh đạo chọn.

    Ông cho rằng, Việt Nam không chỉ kém ở công nghệ mà còn ở sự hiểu biết về hệ thống sản xuất - kinh doanh trên thế giới, về chuỗi cung ứng cùng cách hoạt động và quy luật của nó. Là nước đang phát triển, Việt Nam thường áp dụng công nghệ nhưng chưa chú ý đến các liên kết, hay “môi trường sống” của nó. Công nghệ không thể “sống” nổi khi bị tách rời khỏi “môi trường sống”, hay các mối liên kết của nó. Các công nghệ khác nhau lại cần các liên kết khác nhau. Ví dụ, muốn phát triển công nghệ cao thì phải liên kết nhiều với bên ngoài, phải gắn chặt vào các chuỗi cung ứng trên thế giới, chứ không chỉ phục vụ nội địa.

    Về giải pháp, ông đặt vấn đề, để CNH, cần vận dụng tốt các yếu tố liên quan đến công nghệ như: chu kỳ công nghệ, đường cong tiến hóa của từng công nghệ, rào cản của từng thị trường công nghệ, quy luật của dòng chuyển giao công nghệ, sự phát triển tiệm tiến, hay đột biến của công nghệ, các cuộc cách mạng công nghệ, mô thức kinh tế - công nghệ, độ trễ trong tiến hóa công nghệ, v.v… CNH, như bước lên một con tàu đang chạy, cần thực hiện lúc tàu chạy chậm, tức các “đứt đoạn” (discontinuities) hay còn gọi là các cửa sổ (windows) trong sự tiến hóa của công nghệ. Đây là quy luật vô cùng quan trọng để các nước (hay doanh nghiệp) có thể “nhảy cóc” vào một giai đoạn phát triển nhất định. Các cơ hội này thường có ở các cuộc cách mạng công nghệ (hay các đột phá công nghệ), thường diễn ra cứ nửa thế kỷ một lần, với sự thay đổi hướng hay bước ngoặt về công nghệ.

    Đây là những “bến đỗ” hiếm hoi của con tàu công nghệ và văn minh nhân loại để lấy thêm du khách và thải ra những hành khách không thể theo kịp. Muốn du hành trên “con tàu phát triển” thì phải lên tàu ở những bến đỗ đó. Nếu không tìm ra “công nghệ” để bước lên được con tàu đó thì không thể CNH thành công.

    Việt Nam nên thuê tư vấn nước nước ngoài để hoạch định chiến lược CNH cho mình, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến công nghệ, chu kỳ và cách mạng công nghệ, cơ hội cửa sổ, v.v… Việc này có thể làm tập trung ở cấp trung ương với một nhóm công tác. Nhóm này sẽ dần tiếp thu được “công nghệ” CNH và dần có thể theo dõi, điều hành. Tính công nghệ cần trước mắt chỉ ở mức áp dụng chứ không phải sáng tạo. Vì vậy, chương trình đại học công nghệ ở Việt Nam cần chuyển từ nặng về công nghệ sang về quy trình và hệ thống công nghệ - chuỗi cung ứng - kinh doanh - toàn cầu hóa.

    Công nghệ không chỉ để CNH quốc gia, mà nên xem xét tính khả thi của việc đưa công nghệ thành một ngành kinh tế riêng biệt. Ngành kinh tế công nghệ mang tính độc lập nhất định, không nhất thiết (và không nên) gắn với các liên kết nội địa, mà gắn với thị trường tri thức, nhân công chất xám ở bất cứ đâu mà nó sinh lợi nhiều nhất. Đó là cấu phần với tính khả thi cao trong nền kinh tế tri thức Việt Nam. (Tia Sáng 6/10/2011).