• Thứ Năm, 02/02/2012 23:22 (GMT+7)

    Điểm báo ngày 2/2/2012

    Q.A
    Tin nhắn rác vẫn tung hành. Đã đến thời của thanh toán online? “Đo” hiệu quả của hệ thống Một cửa điện tử. Gần 10.500 DN tham gia thủ tục hải quan điện tử tại Hải Phòng. Nhân lực ngành công nghệ thông tin tại TP.HCM: Thiếu và yếu...

    Tin nhắn rác vẫn tung hoành

    Tình trạng tin nhắn rác, tin nhắn lừa đảo đã có dấu hiệu suy giảm trong dịp trước Tết Nguyên đán vừa qua song vừa sang đầu năm mới, tệ nạn này lại bùng phát. Ngay trong đầu năm mới Nhâm Thìn nhiều người sử dụng điện thoại di động đã nhận được nhiều tin nhắn rác, lừa đảo.

    Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) cho biết nếu người sử dụng soạn tin nhắn gửi 87XX hay các đầu số 67XX, 77XX, lập tức tài khoản thuê bao di động sẽ bị trừ từ 5.000 đến 15.000 đồng mà không nhận được gì cả hoặc lại nhận được tin quảng cáo. Thậm chí, nếu nhắn bất kỳ nội dung gì, không đúng cú pháp, mã lệnh gửi đến các đầu số dịch vụ trên cũng vẫn bị trừ 5.000 - 15.000 đồng trong tài khoản chính, nên người tiêu dùng cần đề phòng và không nhắn tin lại cho các đầu số này.

    Nhằm ngăn chặn việc phát tán tin nhắn rác, tin nhắn lừa đảo trong thời gian tới, đặc biệt là trong dịp Tết, lễ hội năm 2012, Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Bắc Son đã có chỉ thị yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông di động nhắn tin cảnh báo tin nhắn rác, lừa đảo... Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều bạn đọc, trước thời gian này, họ không hề nhận được các tin nhắn cảnh báo nào. Sau mốc thời gian 9-1 rất lâu mới nhận được tin nhắn của nhà mạng nhưng tin nhắn lại cực kỳ… ngắn gọn, không giống như cú pháp ở trên khiến nhiều người dùng… không hiểu gì hết!

    Còn với các đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ nội dung qua tin nhắn, Bộ TTTT đã yêu cầu thực hiện công khai niêm yết đầy đủ, rõ ràng về giá cước dịch vụ khi quảng cáo dịch vụ nội dung qua tin nhắn. Đối với chương trình phần mềm cài đặt trên điện thoại có chức năng cho phép tải thông tin, dịch vụ (trò chơi, tỉ giá ngân hàng, thể thao…) nhưng có tính phí, phải niêm yết chính xác giá cước. Trước khi sử dụng chức năng cho phép tải thông tin, dịch vụ phải có thông tin cảnh báo về giá cước, đồng thời phải cho phép người sử dụng xác nhận đồng ý, không đồng ý tải dịch vụ với mức phí đã được đưa ra. Việc quảng cáo không được có nội dung lập lờ, không rõ ràng hoặc dụ dỗ người sử dụng. Tuy nhiên, người tiêu dùng không hề được cung cấp các thông tin trên.

    Như vậy, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung đã tiếp tục phớt lờ các cảnh báo của Bộ TTTT. Còn các nhà mạng thì dường như chịu bó tay trước vấn nạn tin nhắn rác và để khách hàng của mình tự ứng xử. (Người Lao động 2/2/2012) 

    Viễn thông đầu tư mạnh ra nước ngoài

    Năm nay sẽ có nhiều doanh nghiệp viễn thông đầu tư mạnh ra các thị trường nước ngoài, với nhiều mục tiêu đầy tham vọng. Năm 2012, Viettel đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu tại thị trường nước ngoài đạt trên 50%, đồng thời mở rộng kinh doanh thêm tại 3-4 quốc gia, với tổng số dân khoảng 100 triệu người. Điều này có nghĩa là, đến hết năm 2012, tổng dân số của các thị trường nước ngoài mà Viettel đang hoạt động sẽ nhiều gấp đôi dân số của Việt Nam. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc Viettel cho biết, thị trường trong nước lớn, nhưng hiện là “chiếc áo chật”, do vậy, muốn phát triển mạnh, Viettel buộc phải tìm cách đầu tư ra nước ngoài để tìm thị trường, tạo cơ sở phát triển lâu dài cho lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất thiết bị viễn thông và công nghệ thông tin.

    Cùng với Viettel, năm 2012, Tập đoàn Bưu chính-  Viễn thông Việt Nam (VNPT) cũng lên kế hoạch mở rộng “vùng phủ sóng” tại thị trường nước ngoài. Theo đó, VNPT sẽ chuyển giao phần vốn góp của mình trong Công ty VNPT Global sang cho MobiFone để tập trung nguồn lực cho nhà mạng này đầu tư ra nước ngoài.

    Hiện VNPT Global đang cung cấp các dịch vụ viễn thông, Internet tại một số thị trường lớn là Mỹ, Singapore, Hồng Kông, Cộng hòa Séc. Theo ông Phan Hoàng Đức, Phó tổng giám đốc VNPT, VNPT sẽ tiếp tục đầu tư ra nước ngoài theo hướng hợp tác kinh doanh và góp vốn liên doanh với một số hãng sản xuất thiết bị của nước ngoài để sản xuất thiết bị đầu cuối.

    Không chỉ có 2 “quả đấm thép” của ngành viễn thông - công nghệ thông tin Việt Nam đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài trong năm 2012, mà nhiều  doanh nghiệp khác như FPT, VTC Online, CMC… cũng có những kế hoạch “vươn ra biển lớn”.

    FPT vừa thành lập Công ty FPT Nigeria nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phần mềm; bán buôn máy vi tính, thiết bị ngoại vi và phần mềm; bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử viễn thông; đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học… tại thị trường Nigeria. Ngoài ra, mới đây, FPT cũng đã đạt được những thỏa thuận hợp tác với Intel (Mỹ) để sản xuất thiết bị tại thị trường châu Phi. (Báo Đầu tư 1/2/2012)

    Đã đến thời của thanh toán online?

    Theo một đại diện cổng thanh toán SohaPay thì yếu tố tâm lý của người sử dụng – một trong những rào cản lớn nhất khi sử dụng thanh toán online - gần đây đã có thay đổi lớn. Với riêng cổng thanh toán SohaPay, tỉ lệ tăng trưởng hàng tháng trong năm 2011 đạt tới hơn 20%. Trong năm 2011, tổng giá trị giao dịch qua SohaPay đạt khoảng 80 tỷ đồng với hơn 550.000 giao dịch – chiếm 30% tổng lượng giao dịch toàn thị trường thanh toán trực tuyến, trong đó có những ngày lên tới 6000 giao dịch.

    “Tốc độ tăng trưởng nhanh của SohaPay là kết quả từ việc tích hợp với website mua hàng giảm giá hàng đầu thị trường như Muachung và một số website thương mại điện tử mạnh khác như Enbac, Rongbay. Số lượng giao dịch từ các website này chiếm tỉ lệ lớn của SohaPay” - Ông Trần Quang Khải, Giám đốc Cổng thanh toán SohaPay cho biết.

    So với một vài năm trước đây, dịch vụ cổng thanh toán nội địa gần đây đã có những bước tiến đáng kể. Nếu như trước kia, người sử dụng thường gặp khó khăn khi chỉ dùng được các loại thẻ thanh toán quốc tế thì hiện nay, khá nhiều cổng thanh toán đã cho phép sử dụng cả thẻ ghi nợ, thẻ nội địa ATM hay thậm chí cả thẻ nạp tiền điện thoại...

    Ông Khải cũng thừa nhận vẫn còn những rào cản lớn đối với việc phát triển thương mại điện tử nói chung và kênh thanh toán online nói riêng. Đó là tâm lý và thói quen tiêu dùng trực tiếp, những hạn chế và bất cập từ hệ thống luật định dành cho thương mại điện tử hay hệ thống phân phối còn mỏng.

    Theo thống kê gần đây nhất của Cục Thương mại điện tử và CNTT, Bộ Công thương, có 45% doanh nghiệp tại Việt Nam đã có website, trong đó có tới 88% doanh nghiệp chấp nhận phương thức đặt hàng trực tuyến song doanh thu từ giao dịch trực tuyến mới chỉ đạt 15%. Thanh toán online rõ ràng đang đứng trước những cơ hội lớn từ một thị trường đầy tiềm năng. (Phụ Nữ Ngày Nay 1/2/2012)

    Gần 10.500 doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử tại Hải Phòng

    Theo Cục Hải quan Hải Phòng, trong tháng 1/2012 đã có 10.455 DN tham gia thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) tại các chi cục trực thuộc, chiếm 81% tổng số DN đang làm thủ tục tại đơn vị.

    Trong tháng 1, số tờ khai thực hiện TTHQĐT đạt 61.400 bộ, chiếm 98% tổng lượng tờ khai của toàn Cục; với tổng giá trị kim ngạch XNK trên 4,1 tỉ USD chiếm 99% tổng kim ngạch XNK qua địa bàn. Hiện nay, 9/9 chi cục của Cục Hải quan Hải Phòng đều đạt tỉ lệ về tờ khai, kim ngạch thực hiện TTHQĐT rất cao trên 90%, rất nhiều chi cục đạt 100%. Các loại hình XNK tham gia TTHQĐT chủ yếu tại Hải quan Hải Phòng là kinh doanh, sản xuất xuất khẩu, gia công, đầu tư... (Hải Quan online 2/2/2012)

    “Đo” hiệu quả của hệ thống Một cửa điện tử

    Bộ tiêu chí đầu tiên đánh giá hệ thống Một cửa điện tử (MCĐT) áp dụng cho toàn quốc vừa được Bộ TTTT ban hành sẽ giúp các địa phương chủ động đánh giá hiệu quả đầu tư cho “Một cửa”.

    Ông Nguyễn Hữu Quốc, Giám đốc Trung tâm Chính phủ điện tử, Bộ TTTT cho biết vài năm gần đây, Bộ TTTT đã tiến hành khảo sát tình hình triển khai MCĐT tại các địa phương. Từ năm 2010, Cục Ứng dụng CNTT, Bộ TTTT cũng đã tổ chức hội thảo tại 3 miền Bắc – Trung – Nam để chia sẻ kinh nghiệm triển khai MCĐT. Đánh giá một cách khách quan thì hiệu quả thu được từ hệ thống MCĐT ở các địa phương vẫn còn có sự chênh lệch khá lớn. Nguyên nhân do khác biệt về nhu cầu triển khai ứng dụng CNTT, nhận thức triển khai ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hành chính công của cả phía đơn vị cung cấp dịch vụ công (lãnh đạo UBND, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, các cán bộ công chức trực tiếp tiếp dân) và cả phía người dân.

    “Hoạt động ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính vẫn còn nhiều lực cản như cơ sở dữ liệu chưa sẵn sàng, chưa chuẩn hóa quy trình, thủ tục hành chính, mức độ phối hợp giữa các đơn vị chưa tốt, nơi quyết liệt nơi hững hờ dẫn đến chưa liên thông… Đặc biệt, các địa phương vẫn đang triển khai ứng dụng theo kiểu chỉ cốt giải quyết ngắn hạn nhu cầu khối lượng công việc lớn, song thực tế khối lượng công việc lại tăng gấp rưỡi, gấp đôi vì vẫn song hành triển khai cả hoạt động thủ công cùng với hoạt động trên hệ thống CNTT, gây ra tâm lý ngại ứng dụng CNTT”, ông Quốc cho biết thêm.

    Trước thực trạng trên, Bộ TTTT vừa ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hệ thống MCĐT, giúp các đơn vị chuyên trách CNTT của các Bộ, ngành ở Trung ương và Sở TT&TT các địa phương tham khảo, đánh giá chất lượng hệ thống MCĐT định kỳ hoặc đột xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ của hệ thống MCĐT.

    Trong Bộ tiêu chí này, chất lượng của một hệ thống MCĐT được đánh giá thông qua 3 thành phần: Mức độ cung ứng dịch vụ công (được đánh giá bởi 2 tiêu chí Đầy đủ thông tin và dịch vụ, Chất lượng dịch vụ); Chất lượng ngoài (đánh giá bởi 5 tiêu chí: Chức năng, Hiệu năng hoạt động, Tính khả dụng, Tính tin cậy, Khả năng bảo trì, chuyển đổi); và Chất lượng sử dụng (qua 5 tiêu chí: Hiệu quả đối với cơ quan, đơn vị giải quyết thủ tục hành chính, Hiệu quả đối với người dân, doanh nghiệp, An toàn, bảo mật, Hoạt động ổn định, Thỏa mãn người dùng).
    Mô hình chất lượng, phương pháp và quy trình đánh giá về căn bản sẽ dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế ISO-9126 và ISO-14598.

    “Bộ TTTT chưa có dự kiến dùng Bộ tiêu chí để xếp hạng MCĐT tại các địa phương. Song các địa phương có thể dùng Bộ tiêu chí để xếp hạng hệ thống MCĐT của chính quyền cấp xã, huyện (nếu có), tạo sự cạnh tranh, phấn đấu trong việc hoàn thiện và phát huy hiệu quả của hệ thống MCĐT”, ông Quốc chia sẻ. (ICTnews 2/2/2012)

    Nhân lực ngành công nghệ thông tin tại TP.HCM: Thiếu và yếu

    “Ngành Công nghệ thông tin hiện nay và những năm tới nhu cầu nhân lực yêu cầu số lượng lớn; tuy nhiên vấn đề cung - cầu nhân lực của ngành này đang tồn tại nhiều nghịch lý”. Đó là nhận định của ông Trần Anh Tuấn, phó giám đốc thường trực Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TPHCM (Falmi).

    Theo khảo sát của Falmi thì thị trường lao động khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, chủ lực là TP.HCM có nhu cầu nhân lực rất lớn, yêu cầu cao nguồn lao động qua đào tạo nghề về số lượng và chất lượng chuyên môn kỹ thuật. Trong giai đoạn 2011 – 2015, với tốc độ tăng chỗ làm việc mới bình quân 3% đến 3,5% mỗi năm, thành phố sẽ có nhu cầu chung về nhân lực là 270.000 đến 280.000 chỗ làm việc/năm. Riêng ngành công nghệ thông tin (CNTT) là ngành có nhu cầu nhân lực lớn, chiếm khoảng 3% - 4% tổng nhu cầu trên.

    Tuy nhiên, ông Trần Anh Tuấn cho rằng, nhìn chung việc đào tạo ngành CNTT chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, đặc biệt cơ cấu trình độ chuyên môn và kỹ năng thích ứng sự phát triển của ngành CNTT trong các doanh nghiệp.Theo thống kê nhu cầu tuyển dụng ngành CNTT trên địa bàn TPHCM của Falmi thì nhu cầu trong năm 2011 tăng (21,21% ) so với năm 2010; cần nhiều trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học chuyên ngành như lập trình viên, kỹ sư hệ thống mạng, kỹ sư phần cứng, tester, nhân viên phát triển phần mềm, thiết kế lập trình web…

    Nguồn cung nhân lực đa số lại là sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Điều cần chú ý hơn là số lượng sinh viên – học sinh chuyên ngành công nghệ thông tin đang có xu hướng giảm đáng kể. Chưa hết, điểm yếu của đội ngũ nhân lực CNTT này là còn hạn chế về kỹ năng, chưa phù hợp yêu cầu chuyên ngành, kể cả kiến thức ngoại ngữ.

    Ông Trần Anh Tuấn cho biết, theo thống kê của Viện chiến lược CNTT thì sinh viên ngành CNTT khi tốt nghiệp ra trường 72% không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết trong lĩnh vực nào có thể hành nghề tốt nhất và 77,2% doanh nghiệp phải đào tạo lại các nhân viên mới. Đáng quan tâm là 70% không thành thạo ngoại ngữ. (Dân trí online 2/2/2012)