• Thứ Năm, 08/03/2012 16:22 (GMT+7)

    Tin nổi bật ngày 8/3: Trần tình của đối tác Google về nghi án trốn thuế

    Q.A
    Đối tác Google trần tình về nghi án trốn thuế. S-Fone bên bờ vực thẳm. Ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế áp dụng tốt CNTT trong công tác xét xử. Cục Xuất bản thiếu trầm trọng thiết bị CNTT…

    Đối tác Google trần tình về nghi án trốn thuế

    Ông Nguyễn Khánh Trình, Giám đốc CleverAds nói, doanh nghiệp luôn hoàn thành mọi nghĩa vụ về thuế kể từ khi thành lập vào năm 2008 tới nay. Với các quảng cáo với Google, CleverAds không phải đóng thuế nhà thầu tại Việt Nam nữa, bởi Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần giữa Việt Nam và Ireland đã quy định rõ điều này. Cũng giống như trường hợp doanh nghiệp Việt Nam chưa có trụ sở tại Ireland nhưng có kinh doanh tại Ireland thì cũng không phải đóng thuế nhà thầu.

    Ngoài ra, theo Thông tư 134 của Bộ Tài chính, tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà các dịch vụ được thực hiện ở nước ngoài, trong đó có lĩnh vực quảng cáo - tiếp thị, xúc tiến thương mại và đầu tư... không là đối tượng áp dụng của thông tư. Đây là thông tư hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế áp dụng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam. Ông Trình khẳng định: "Không chỉ Google, Facebook mà cả một số website bán hàng trực tuyến khác có nguồn thu từ Việt Nam không phải đóng thuế vì không bị điều chỉnh bởi Thông tư 134".

    Bà Lê Thị Thu Hương, Cục phó Cục thuế TP.HCM cho biết sẽ xem xét lại trường hợp này. Việt Nam và Ireland đã ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần nên nếu Google đã đóng thuế ở nơi đóng trụ sở sẽ không phải nộp tại Việt Nam. Song, nếu chưa đóng, họ vẫn phải chịu thuế nhà thầu. Theo bà, thời gian qua, nhiều đơn vị là đại lý của các mạng xã hội nhưng không nộp thuế nhà thầu. "Cũng có thể những đơn vị này cho rằng các mạng xã hội đã đóng thuế ở nước trụ sở có ký hiệp định tránh đánh thuế 2 lần. Do đó, những đơn vị này hoạt động ở Việt Nam cho rằng không phải chịu thuế nhà thầu và cũng không báo lại cho Cục thuế địa phương", bà Hương phán đoán.

    Tuy nhiên, Cục phó Cục Thuế TP.HCM cho rằng các mạng xã hội khi hoạt động tại Việt Nam phải đăng ký kinh doanh và chịu sự kiểm soát của nước sở tại. Hiện chỉ có Yahoo đăng ký kinh doanh và kê khai nộp thuế trực tiếp tại TP.HCM. TP.HCM đang rà soát tổng thể hoạt động của các mạng xã hội để xử phạt, truy thu những đơn vị không kê khai nộp thuế. (VnExprees 8/3/2012)

    S-Fone bên bờ vực thẳm

    S-Fone ra đời từ hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa hai đối tác là Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) và SLD Telecom (trong đó SK Telecom chiếm phần lớn vốn). S-Fone trở thành nhà mạng đầu tiên cung cấp dịch vụ di động theo công nghệ CDMA tại thị trường VN. Các khách hàng thời đó đặc biệt có lợi vì có thêm một sự lựa chọn mạng di động mới. Sự ra đời của S-Fone ngay lập tức được bình chọn là một trong 10 sự kiện CNTT -TT nổi bật của VN trong năm 2003. Nhưng đến năm 2010, đối tác SK Telecom tuyên bố rút khỏi dự án S-Fone, đặt SPT vào cảnh vừa chống lưng cho S-Fone hoạt động vừa phải tìm đối tác để phát triển lâu dài. Từ đây, S-Fone bắt đầu yếu dần mà một trong nhiều nguyên nhân theo chuyên gia Hoàng Ngọc Diệp: “Thay vì tập trung đưa ra được những sự khác biệt mà công nghệ CDMA cho phép thì họ phải chiều theo các giới hạn của công nghệ cũ, lạc hậu đã bỏ đi. Điều đó khiến công nghệ này không có đủ các chức năng cần thiết để S-Fone cạnh tranh từ ban đầu”.

    Ông Vũ Minh Trí, Tổng giám đốc Qualcomm khu vực Đông Dương và Thái Lan, phân tích: khó khăn đối với S-Fone không phải từ công nghệ CDMA mà nằm ở số lượng người sử dụng sau khi chuyển đổi hình thức kinh doanh từ hợp tác với SK Telecom sang hình thức liên doanh. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, số lượng người sử dụng ít cũng đều rất khó khăn. Riêng ở thị trường VN, 3 doanh nghiệp lớn là MobiFone, Vinaphone và Viettel lại đang sử dụng công nghệ GSM (2G), WCDMA (3G) và họ luôn chiếm ưu thế vượt trội bằng các chương trình khuyến mãi lớn, thu hút mạnh người dùng khiến S-Fone càng thêm khó khăn.

    Ngày 7-3, trao đổi về tình hình hoạt động của mạng S-Fone, ông Phạm Tiến Thịnh, Giám đốc điều hành, cho biết: Do quá trình liên kết, tối ưu hóa sử dụng truyền dẫn và các dịch vụ khác liên quan diễn ra trong một thời gian dài và rất phức tạp về kỹ thuật nên chất lượng dịch vụ của S-Fone đã ít nhiều bị ảnh hưởng, một vài khu vực có thể bị gián đoạn. Ban lãnh đạo S-Telecom đã và đang thực hiện những biện pháp khắc phục sự cố trong thời gian nhanh nhất có thể để phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng. Hiện nay, S-Fone đang trong giai đoạn cuối hoàn tất công tác chuyển đổi mô hình hoạt động để đáp ứng với xu thế phát triển hiện tại cũng như trong tương lai. Do đó, có một số đại lý S-Fone tạm thời ngưng hoạt động. Tuy nhiên, tổng đài dịch vụ của S-Fone vẫn luôn sẵn sàng 24/24 để lắng nghe và giải đáp tất cả mọi thắc mắc, yêu cầu của khách hàng trên toàn quốc...(Tuổi Trẻ 8/3/2012)

    Ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế áp dụng tốt CNTT trong công tác xét xử

    Thực hiện sự chỉ đạo của TANDTC về việc ứng dụng CNTT vào công tác của ngành Toà án, những năm qua, lãnh đạo TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã xây dựng chiến lược và chỉ đạo thực hiện việc ứng dụng CNTT trong toàn bộ các hoạt động của đơn vị. Chánh án TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã yêu cầu Chánh án TAND các huyện, thành phố chủ động liên hệ với bưu điện thực hiện ngay việc nối mạng Internet để kết nối giữa các Tòa án trong toàn tỉnh; đồng thời lựa chọn những cán bộ có khả năng về CNTT cử đi đào tạo các khóa giảng viên tin học để đào tạo lại cho cán bộ TAND hai cấp. TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thành lập Tổ tin học gồm 2 cán bộ TAND tỉnh và 3 cán bộ TAND cấp huyện.

    Được sự quan tâm đầu tư của TANDTC và sự hỗ trợ của Dự án Judge, đến nay ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được đầu tư trang bị khá đầy đủ về cơ sở hạ tầng CNTT; mạng LAN tại TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế tương đối hiện đại gồm 3 máy chủ với 50 nút mạng. Đa số cán bộ ngành Tòa được trang bị đầy đủ máy tính làm việc, vì vậy việc triển khai ứng dụng CNTT ở ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế gặp nhiều thuận lợi. Hiện nay, công tác phát hành văn bản, bản án, văn thư, ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được quy chuẩn theo hướng dẫn của TANDTC. Việc theo dõi công văn đi, công văn đến được cán bộ văn thư cập nhật vào máy tính và chia sẻ với Chánh án và các cán bộ có liên quan, nên việc tìm kiếm thông tin được thuận tiện. Trong lưu trữ, TAND tỉnh và một số TAND cấp huyện đang tiến hành số hóa các bản án vào lưu trữ tại máy vi tính, việc cấp sao bản án nhanh chóng, cung cấp các bản án hình sự có hiệu lực pháp luật cho Sở Tư pháp qua mạng theo Luật Lý lịch tư pháp.

    Trong công tác báo cáo, thống kê, tổng hợp, hàng tháng số liệu thống kê được TAND cấp huyện cập nhật vào phần mềm thống kê các loại án, do đó đã kịp thời tổng hợp số liệu. Việc trao đổi thông tin, dữ liệu giữa TAND hai cấp tỉnh Thừa Thiên - Huế được thực hiện đều đặn thông qua hệ thống hộp thư điện tử của ngành Tòa án đã tiết kiệm được nhiều thời gian và giấy tờ. Trong công tác giám đốc kiểm tra, thi hành án hình sự, cán bộ Phòng giám đốc kiểm tra đã tự nghiên cứu, thiết kế các bảng theo dõi đối với người bị kết án, nên công tác ra quyết định thi hành án luôn thực hiện đúng thời hạn luật định. Việc quản lý thông tin phạm nhân và xét giảm án hàng năm đối với hàng nghìn phạm nhân cũng được ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế thực hiện thông qua các phần mềm tin học, bảo đảm việc ra quyết định kịp thời và thông tin chính xác.

    Hiện nay, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đang áp dụng CNTT vào thí điểm sử dụng hệ thống ghi âm phiên tòa do Dự án Judge tài trợ. Công nghệ ghi âm phiên tòa này mang tính hiện đại và đã được ứng dụng rộng rãi cho các phòng xử án tại một số nước tiên tiến trên thế giới. Hệ thống ghi âm cho phép thu âm giọng nói của tất cả những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại phiên toàn theo nhiều kênh khác nhau. Dựa trên kết hợp phần cứng có màn hình cảm ứng và phần mềm chuyên dụng, thư ký phiên toà có thể ghi chú nhanh các đối tượng đang phát âm vào bản ghi âm bằng các phím cảm biến trên thiết bị. Bên cạnh việc lưu trữ các đoạn ghi âm trên ổ cứng, hệ thống ghi âm kỹ thuật số còn tự động lưu trữ các đoạn ghi âm trên ổ USB, CD, DVD, hoặc ghi dữ liệu vào máy chủ dữ liệu qua mạng LAN.

    Mặt khác, ngành TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế áp dụng phần mềm FTR Log Notes là phần mềm chuyên dụng trong việc nghe lại các file ghi âm có ghi chú. Với hệ thống mạng LAN, lãnh đạo TAND các cấp sẽ quản lý được toàn bộ quá trình thụ lý và giải quyết các loại vụ việc, góp phần cải cách hành chính tư pháp. Hiện tại, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế đang phối hợp với Trung tâm phần mềm tại địa phương đưa vào sử dụng phần mềm quản lý vụ việc từ khâu tiếp nhận, thụ lý đến kết quả giải quyết vụ án. (Báo Công Lý 8/3/2012)

    Cục Xuất bản thiếu trầm trọng thiết bị CNTT

    Trước hiện trạng cơ sở hạ tầng CNTT yếu kém gây khó khăn cho công tác quản lý, Cục trưởng Cục Xuất bản Chu Văn Hòa đề nghị lãnh đạo Bộ TTTT có chương trình "cấp cứu" khẩn thiết máy tính, trang thiết bị CNTT cho Cục. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản trên 3 lĩnh vực xuất bản, in, phát hành ấn phẩm, Cục Xuất bản đang chịu trách nhiệm quản lý số lượng lớn đối tượng, gồm: 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in công nghiệp, gần 120 công ty phát hành sách tỉnh, thành phố; 85 công ty TNHH và mạng lưới hơn 14.000 các cửa hàng, nhà sách và đại lý ở khắp cả nước...

    Thế nhưng hạ tầng CNTT của Cục Xuất bản lại đang ở dưới mức tối thiểu, khó có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. Toàn Cục có 45 cán bộ nhân viên nhưng chỉ có 23 máy tính để bàn, trong đó nhiều máy tính hỏng vì quá cũ, do đó, vẫn còn tình trạng vài người sử dụng chung 1 máy, thậm chí Cục trưởng và Chánh Văn phòng mới về nhận công tác còn chưa có máy tính để sử dụng. Hệ thống máy chủ của Trung tâm Thông tin xuất bản được đặt chung phòng với hệ thống Tổng đài điện thoại và mạng LAN nội bộ, phòng đặt máy không đảm bảo an toàn và dễ bị nước mưa chảy vào. Phòng đặt máy chủ chỉ có 1 chiếc điều hòa Toshiba cũ, không đủ công suất làm lạnh để duy trì nhiệt độ tiêu chuẩn ổn định.

    Đến năm 2010, Trung tâm mới được trang bị Router để đảm bảo cho việc kết nối Internet của hệ thống được ổn định, và được trang bị 1 hệ thống lưu điện (UPS) công suất 10KW có khả năng đảm bảo cho hệ thống chạy được trong vòng 30 phút nếu mất điện lưới. Với hiện trạng hạ tầng CNTT nêu trên, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở Cục Xuất bản mới chỉ ở mức đơn giản là sử dụng máy tính cá nhân để làm việc, còn dữ liệu vẫn lưu trữ rời rạc, chưa kết nối thành hệ thống để khai thác và sử dụng như một nguồn tài nguyên dùng chung. Và việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử vẫn chưa thể thành hiện thực. (ICTnews 8/3/2012)

    Bản đồ “Triệu kết nối...” nhận kỷ lục VN

    Sáng 7/3, tại trụ sở Công ty cổ phần VNG, đại diện Tổ chức Kỷ lục VN đã trao kỷ lục VN cho ứng dụng bản đồ kỹ thuật số “Triệu kết nối đến Trường Sa” là bản đồ có gắn nhiều ảnh đại diện nhất. Ứng dụng bản đồ VN gắn ảnh đại diện được xây dựng trên công nghệ flash, được tạo nên bởi 101.828 ảnh đại diện của các thành viên mạng xã hội Zing Me và các nghệ sĩ nổi tiếng. Ứng dụng này được thực hiện trong chương trình “Triệu kết nối đến Trường Sa” do Zing Me và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức từ ngày 1/11 đến 15/12/2011 tại địa chỉ http://me.zing.vn/apps/ketnoitruongsa.

    Từ hơn 100.000 thông điệp gửi đến chiến sĩ Trường Sa, Ban Tổ chức chương trình đã chọn lọc ra những thông điệp hay nhất, ý nghĩa nhất để xuất bản thành kỷ yếu “Triệu kết nối đến Trường Sa”. Trong đó, thông điệp của Nguyễn Đình Luân, sinh viên năm 2 Học viện Cảnh sát nhân dân, đã được bình chọn là thông điệp hay nhất và giải thưởng dành cho Luân sẽ là một chuyến đi thăm chiến sĩ và nhân dân Trường Sa.
    Ông Nguyễn Ngọc Lâm, Giám đốc cộng đồng Zing Me, chia sẻ: “Cộng đồng thành viên mạng xã hội Zing Me đã cùng cất lên tiếng nói khẳng định và bảo vệ chủ quyền đất nước. Mạng xã hội Zing Me mong rằng trong thời gian tới có thể tổ chức nhiều chương trình ý nghĩa hơn nữa nhằm góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước đến giới trẻ”. Dịp này, Công ty VNG cũng trao tặng chương trình “Góp đá xây Trường Sa” 50 triệu
    đồng. Đây là số tiền do các nhân viên trong công ty đóng. (Tuổi Trẻ 8/3/2012).