• Chủ Nhật, 11/01/2004 21:50 (GMT+7)

    Thị trường phần mềm Nhật Bản: Thời Cơ Và Thách Thức


    Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm (người thứ hai từ phải sang) đang thăm Tập đoàn NIDEC, một tập đoàn công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực cơ khí chính xác các thiết bị máy tính và viễn thông tại Nhật Bản.

    Những quan sát và nhận định của tác giả - qua chuyến tham dự các hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản - về thị trường phần mềm Nhật Bản cùng cơ hội và khả năng hợp tác Nhật - Việt trong lĩnh vực phần mềm...

    Cách đây 15 năm, vào những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ 20, một số trí thức Việt Nam đã từng du học tại Nhật Bản - người còn đang sinh sống ở Nhật, người đã trở về nước làm ăn - đã cùng nhau tổ chức một khóa tiếng Nhật trong 1 năm, dạy cho 10 thanh niên giàu kinh nghiệm làm phần mềm (PM) tại TP. HCM với tham vọng đưa số thanh niên này sang Nhật làm PM để tạo ra cầu nối đưa công việc về cho các đơn vị làm PM ở Việt Nam. Thời đó thậm chí thuật ngữ “outsource” còn chưa xuất hiện, nhưng ý tưởng này chính là công việc đã trở nên quen thuộc với thuật ngữ “outsource” của hôm nay. Tiếc rằng vào những năm đó, chính sách của Nhật Bản không cho phép lao động nước ngoài trong các ngành công nghệ cao, nên chỉ 1 trong số 10 thanh niên đó lọt qua Nhật làm việc (10 năm sau anh lập ra một công ty PM nhỏ tại TP. HCM và chuyên làm theo các đơn hàng từ Nhật Bản khoảng 5 năm nay). Vài năm sau, Quốc Hội Nhật Bản thông qua đạo luật cho phép lao động nước ngoài làm việc trong các ngành công nghệ cao thì ý chí Đông Du đã bị mờ đi do hào quang của mầu da vàng (Trung Quốc, Việt Nam) và ngăm đen (Ấn Độ) ở Sillicon Valley. Tuy nhiên nếu lẳng lặng theo dõi thì tại TP. HCM, các công ty PM như SANGTAO, QUANTIC, TMA, SSL, FUJINET, NIPPON ENGINEERING VN... đã nhiều năm nay hoàn toàn sống hoặc có quan hệ làm ăn vững chắc với thị trường PM Nhật Bản, trong khi ánh sáng Sillicon thì không còn mấy lung linh.

    Vì sao việt nam?

    Nhìn từ góc độ kinh tế, chính trị và văn hóa

    Nhật Bản là quốc gia sản xuất phần cứng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên Nhật Bản chưa bao giờ tự hào về CNpPM và về ứng dụng CNTT trong các hoạt động kinh tế - xã hội. Chính phủ Nhật đã quyết tâm vươn lên hàng đầu thế giới trong vòng 10 năm tới với 2 kế hoạch nổi tiếng là e-Japan và e-Japan II. Với các kế hoạch này, họ rất cần nhân lực PM.

    Thị trường nhân lực rất lớn và thuận lợi là Trung Quốc. Thực tế nhiều công ty Nhật đã tổ chức các trung tâm phát triển PM tại Trung Quốc với hàng ngàn người trong mỗi trung tâm. Tuy nhiên, Nhật Bản nhìn thấy rất rõ sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ càng tăng thêm những thách thức đối với họ. Trong chính sách vĩ mô, Trung Quốc không thể là điểm đến ưu tiên, dù rằng trong quan hệ làm ăn thì các công ty Nhật vẫn phải phát triển đầu tư làm PM tại Trung Quốc vì chưa có một lực lượng nào đáp ứng được cho họ.

    Bắc Triều Tiên cũng có nguồn nhân lực làm PM tài năng và khá đông đảo. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy rằng đầu tư lớn vào làm PM tại Bắc Triều Tiên là điều chưa thể đối với Nhật.

    Ấn Độ luôn là địa chỉ để các công ty outsource công việc PM. Hiện rất nhiều công ty PM Ấn Độ đang gia công PM cho Nhật Bản. Nhiều chuyên viên PM Ấn Độ đã thành thạo tiếng Nhật và đang đổ xô vào học tiếng Nhật khi rất đông phải gồng gánh trở về từ Sillicon bởi số lao động nhập vào Mỹ bị giảm đến 50% theo các chính sách mới đây của chính phủ Mỹ. Người Ấn Độ đang làm đủ các kiểu PM cho Nhật Bản. Nhiều ngân hàng Nhật hoạt động với toàn bộ Back End tại Ấn Độ. Nghĩa là các giao dịch diễn ra ở Nhật nhưng toàn bộ dữ liệu được xử lý tại Ấn Độ. Rất nhiều PM cho các thiết bị viễn thông hiện đại của Nhật Bản được làm tại các công ty PM cỡ nhỏ Ấn Độ (chừng vài trăm chuyên viên). Tuy nhiên, người Nhật Bản, dù là người trả tiền thuê nhân công Ấn Độ, vẫn luôn cảm thấy khó khi làm việc với Ấn Độ. Người Ấn Độ quen cách làm với các công ty Mỹ hơn và với văn hóa phương Tây dù họ ở phương Đông. Sự cách biệt này cho chúng ta cơ hội giành được thế đứng tốt hơn trong quan hệ làm ăn với các công ty PM Nhật Bản.

    Nhìn từ góc độ nhân bản

    Người Nhật Bản có niềm tin tự nhiên là cũng như họ, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam là những nòi giống có trí tuệ và rất nhiều nét tương đồng. Có lẽ những người làm PM Việt Nam chưa mấy khi nghe người Mỹ, người Âu nói rằng người Việt Nam rất thông minh, sáng tạo, cần cù. Lối suy nghĩ của người Âu-Mỹ là tìm đến với “từng con người làm việc”. Anh làm việc với đồng lương thỏa thuận (dĩ nhiên càng thấp càng tốt), chất lượng càng cao thì càng OK! Lối suy nghĩ phương Đông mang tính tổng thể hơn. Điều này cũng tựa như Đông Y và Tây Y. Với người Nhật Bản, ở đâu chúng ta cũng được nghe những lời nói tốt đẹp về phẩm chất trí tuệ của người Việt Nam. Lược đi phần xã giao thì vẫn đọng lại một niềm tin tự nhiên như đã nói ở trên.

    Cái dở của người Việt Nam có không?

    Trong cuộc tọa đàm về đầu tư CNTT vào Việt Nam, chủ tọa về phía Việt Nam là Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm và một số vị bộ trưởng, thứ trưởng, còn phía Nhật là một số nhà doanh nghiệp Nhật, trong số đó có những người đang đầu tư vào làm PM ở Việt Nam. Một doanh nhân Nhật hỏi:

    “Tôi nghe nói các chuyên viên PM Việt Nam ít đổi chỗ làm (điều mà các doanh nghiệp PM mong muốn), điều đó có đúng không? Nếu đúng thì nguyên nhân là gì? Đó là văn hóa trung tín hay vì ít chỗ làm mà họ không thể thay đổi?”

    Là người từng phải đối đầu với câu hỏi này trong nhiều lần tiếp các công ty PM quốc tế, tôi đã thật sự lo lắng chờ đợi câu trả lời dù từ phía nào. Khi người điều khiển muốn biết câu hỏi này dành cho ai, người hỏi đã đề nghị được dành câu hỏi cho giám đốc một công ty PM Nhật đang làm ăn ở Việt Nam và đang có mặt trên đoàn chủ tịch. Người bạn Nhật Bản đã trả lời mà người phiên dịch có thể cũng chưa lột hết được ý ông:

    “Kỹ sư PM Việt Nam luôn muốn tìm những nơi làm việc tốt hơn và về điều này có lẽ họ hơn người Nhật Bản. Vì vậy để giữ họ, chúng tôi phải cố gắng là môi trường tốt nhất đối với họ. Tuy nhiên không thể bằng cách nhìn ra xung quanh xem các công ty khác có các quyền lợi gì cho nhân viên thì mình cũng làm vậy hoặc hơn thế. Như vậy thì sẽ là cuộc đua bất tận. Chúng tôi cố gắng tạo ra những nét hấp dẫn của riêng mình”.

    Tôi thầm phục cái chính trị đáng nể của câu trả lời. Nét đẹp của người Việt Nam được tôn lên và cả cái không đẹp cũng được kính trọng.

     

    Vì sao nhật bản?

    Hàng rào ngôn ngữ cao mà hóa thấp, thấp mà hóa cao

    Nếu ai đã từng ngẫm nghĩ về việc một số công ty PM của ta đã tìm được đối tác ở Mỹ, châu Âu thì đều phải thấy vai trò của các chuyên viên CNTT Việt kiều. Khi người Mỹ nói chuyện làm ăn với anh, họ mặc nhiên chỉ chấp nhận những người nói tiếng Mỹ thành thạo. Người Việt Nam làm PM ai cũng biết tiếng Mỹ, tuy nhiên số biết ở mức độ có thể đi vào công cuộc làm ăn với họ thì chủ yếu hiện vẫn chỉ là số đã làm ăn, sinh sống lâu ở Mỹ, chí ít thì cũng phải học tập lâu năm ở Mỹ. Vì thế hàng rào Anh ngữ thấp (vì ai cũng biết tiếng Anh), nhưng lại hóa rất cao (vì biết đến độ làm ăn được thì ít)! Còn với các công ty Nhật thì các công ty PM Việt Nam được nói chuyện hoàn toàn bình đẳng. Trong giao tiếp, các công ty Việt Nam mất đi cảm giác không tự tin vì ngôn ngữ, và vì thế, họ thể hiện đúng là chính họ, trên một tầm cao mà đối tác kính trọng. Người Nhật biết rằng ngôn ngữ của họ rất không phổ biến trên thế giới và họ làm ăn qua vai trò cầu nối là phiên dịch chứ không nhất thiết phải bàn bạc về các dự án PM trên cách suy nghĩ rằng nếu muốn làm ăn với tôi thì anh phải thành thạo tiếng của tôi (một tiền lệ bất bình đẳng nhưng ta cũng không thể không chấp nhận!). Dĩ nhiên đây là sự khởi đầu thuận lợi, tuy nhiên cũng phải thấy các kỹ sư PM Ấn Độ đang học tiếng Nhật. Một thuận lợi nữa là người Nhật làm PM biết tiếng Anh rất chắc chắn (đặc biệt nghe và đọc) và họ rất dễ dàng giao tiếp với người Việt Nam biết tiếng Anh nghiêm chỉnh, nhưng cả hai đều coi đây là vai trò trung gian chứ không phải bên chủ động và bên bị động! Do vậy tiếng Nhật là tốt, nhưng để bắt đầu làm việc với nhau chỉ cần để giao tiếp bình thường chứ không nhất thiết là ngôn ngữ công việc. Hóa ra hàng rào ngôn ngữ rất cao lại cho ta quyền bình đẳng với đối tác, cho ta sự tự tin ở năng lực chuyên môn của mình, xóa đi cái mặc cảm, và nếu ta giỏi thì vẫn là giỏi chứ không phải giỏi mà hóa ngọng!

    Chính sách vĩ mô thuận lợi và thị trường rộng lớn

    Đường lối chính trị và ngoại giao giữa hai quốc gia đang tạo thời cơ rất thuận lợi cho sự hợp tác toàn diện. Trong chuyến thăm, nhiều lần PTTg Phạm Gia Khiêm và Đại Sứ Việt Nam tại Nhật Bản đã khẳng định Nhật Bản là đối tác tin cậy, ổn định, lâu dài. Những mục tiêu của các chương trình e-Japan và e-Japan II mở ra thị trường mênh mông về phần mềm.

    E-Japan được Thủ Tướng Mori công bố vào tháng 9/2001 với quyết tâm trong vòng 5 năm trở thành quốc gia CNTT dẫn đầu thế giới. Trong vòng 5 năm, 30 triệu hộ kết nối với mạng Internet tốc độ cao, 10 triệu hộ kết nối siêu tốc độ, mở rộng quy mô thị trường thương mại điện tử lên đến 500 tỷ USD trong năm 2002, tăng gấp 4 lần so với 1999, cơ bản hoàn thành chính phủ điện tử v.v... Tháng 8/2003, e-Japan II được công bố nhằm liên tục dẫn đầu thế giới về CNTT từ 2006, ban hành 366 chính sách thúc đẩy từng mảng CNTT, trong đó đặc biệt là các chính sách về mở rộng ứng dụng CNTT và phát triển các ngành công nghệ, đặc biệt quan trọng là các chip sinh học và công nghệ nano để tiếp tục đẩy CNTT lên những tầm cao mới.

    Ngành công nghiệp dịch vụ thông tin Nhật Bản (theo cách hiểu của ta thì đại thể đó là ngành CNpPM phục vụ cho ứng dụng CNTT) trong khoảng 5 năm từ 1997 đến 2002 đã tăng gấp 2 lần, từ doanh số 70 tỷ USD lên đến 140 tỷ USD (với nhân lực khoảng 530.000 người).

    Thời cơ rồi cũng qua đi, nếu...

    Đất nước Nhật Bản có ngày hôm nay là nhờ trí tuệ và sự nghiêm khắc trong mọi công việc. Mối quan hệ phát triển PM của họ với Trung Quốc, Ấn Độ so với ta đang hơn hẳn, dù rằng về mặt chiến lược họ rất coi trọng người Việt Nam và khả năng hợp tác với Việt Nam về phát triển PM. Nếu chúng ta không hành động nhanh, chớp thời cơ thì nó cũng vụt qua như bao thời cơ khác đã đến rồi lẳng lặng rời bỏ chúng ta. Thực ra, cũng như CNpPM nói chung, mối quan hệ hợp tác với Nhật Bản nói riêng, nếu nhà nước không hành động thì các công ty cũng tự tìm con đường cho mình như những năm qua. Nhưng như vậy thì CNpPM VN chỉ là khoảng 100 triệu USD/năm, hợp tác PM với Nhật chỉ khoảng 10 triệu USD/năm. Hiện nay, hàng năm Nhật Bản outsource trên 10 tỷ USD cho các nước. Theo ông Mukai Koichi, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Comture Corporation, người sẽ đảm nhiệm chức vụ tổng giám đốc liên doanh phát triển PM Việt Nhật sẽ ra đời nay mai (liên doanh của 7 công ty PM Nhật và 6 công ty PM Việt Nam), thì hiện khoảng 6% các dự án outsource đang làm ở Trung Quốc, 3% ở Ấn Độ, còn 1% ở các quốc gia khác. Ông Koichi cho biết ban đầu các công ty Nhật cho rằng Ấn Độ là nơi hứa hẹn nhất. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì thị trường Trung Quốc đã gấp 2 lần Ấn Độ, với giá trị lên đến nhiều tỷ USD. Lý do cơ bản là rất đông người Trung Quốc thạo tiếng Nhật. Đã một thời, Ấn Độ thắng thế nhờ tiếng Anh tại Mỹ, thì nay Trung Quốc đang thắng lớn tại Nhật. Hàng rào ngôn ngữ cao mà hóa thấp nói ở trên chỉ đúng cho sự khởi đầu. Tiếng Anh không thạo như người Ấn Độ thì không thể thắng ở thị trường Mỹ và tiếng Nhật không vượt lên như người Trung Quốc thì không thể thắng ở thị trường Nhật. Thủ Tướng Chu Dung Cơ từng nói cách đây vài năm là vào 2005 CNPM Trung Quốc sẽ phải vượt Ấn Độ. Khó ai tin được! Nhưng ông đã nhìn ra thị trường khổng lồ Nhật Bản.  

    Những việc lớn Nhà Nước cần làm trong chiến dịch này:

    • Nắm vững tình hình hợp tác Nhật - Việt của tất cả các công ty PM cho đến hiện nay, làm cho cái nhìn của chúng ta đầy đủ hơn, đánh giá đúng hơn những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ làm ăn này.

    • Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực thích hợp cho thị trường PM Nhật Bản. Gấp rút và quyết liệt trong việc tạo ra một lực lượng đông đảo người làm PM thành thạo tiếng Nhật.

    • Xây dựng một kế hoạch tiếp thị để đôi bên hiểu yêu cầu, khả năng đáp ứng; xúc tiến các công tác chuẩn bị và những chính sách cần thiết để mở toang cánh cửa hợp tác PM 2 nước.

    Các công ty mong muốn làm ăn với Nhật Bản nên làm gì?

    • Họp lại với nhau để tìm chiến lược chung.

    • Trên cơ sở chiến lược chung, mỗi công ty xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thích hợp, đề xuất các hỗ trợ từ phía Chính Phủ và các hiệp hội.

    • Cùng nhau tổ chức một lực lượng có khả năng hợp đồng tác chiến, có thể dưới dạng một công ty cổ phần chuyên về PM cho thị trường Nhật Bản.

    Nguyễn Trọng

    ID: B0311_14