• Thứ Ba, 30/03/2004 15:40 (GMT+7)

    Hệ thống ATM Việt Nam: Còn chờ gì mà chưa nối mạng ?

    Từ năm 1997, vấn đề xây dựng một Trung Tâm Chuyển Mạch Thanh Toán Thẻ Liên Ngân Hàng đã từng được nêu lên. Sau nhiều năm bị quên lãng, vấn đề này vừa được "hâm nóng" lại bởi ngày càng có nhiều ngân hàng coi ATM (máy rút tiền tự động) như một công nghệ không thể thiếu trên bước đường hội nhập. Mới đây, đã có đến hai cuộc họp nội bộ giữa các ngân hàng có ATM. Tuy vậy, xem ra việc nối mạng hệ thống này dễ mà hóa khó...

    Cuộc chạy đua... công nghệ

    Chỉ là một trong số rất nhiều kênh dịch vụ của ngân hàng, nhưng hệ thống ATM ngay từ khi ra đời đã được đánh giá là "một bước ngoặt lớn về công nghệ ngân hàng tự động". Hãy tưởng tượng: chỉ với một chiếc thẻ bé xíu và một mã số cá nhân (PIN), khách hàng có thể thực hiện rất nhiều chức năng như rút tiền, gửi tiền, kiểm tra tài khoản, tra cứu thông tin về lãi suất, tỷ giá, chuyển khoản, thanh toán các loại hoá đơn... Vì vậy, thậm chí hệ thống ATM còn được coi như một chi nhánh ngân hàng di động không có nhân viên.

    Tại Việt Nam, sau hơn 8 năm triển khai thí điểm, đến thời điểm này hệ thống ATM mới được đánh giá là có tiềm năng và môi trường để phát triển. Tuy nhiên, trong khi các ngân hàng trong nước đua nhau trang bị ATM, nâng số máy lên gần 80 chiếc (gấp 14 lần so với năm 1998) cùng với rất nhiều biện pháp khuyến khích như miễn phí phát hành thẻ, miễn phí giao dịch, tăng thêm dịch vụ trên ATM... song số khách hàng vẫn "ì ạch" ở mức 14.000.

    Trong kế hoạch từ nay đến cuối năm, các ngân hàng sẽ trang bị thêm nhiều máy ATM nữa, nâng tổng số máy lên khoảng trên 130 chiếc. Nhiều ý kiến cho rằng việc phát triển ồ ạt các máy ATM như vậy là lãng phí và chưa hiệu quả. Tuy nhiên, nếu so sánh với năm 1992, một máy ATM/2.700 người dân Mỹ, /1.399 người dân Nhật, /3.923 người dân Pháp; còn tại Singapore, riêng một ngân hàng lớn đã có tới 500-700 máy,... thì số máy ATM trên quả chưa thấm tháp gì, nhất là khi các ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhập.

    Đánh giá về cuộc chạy đua công nghệ ATM, ông Đào Minh Tuấn, giám đốc Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin (CNTT) Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, cho rằng: "Trong điều kiện nền kinh tế tiền mặt vẫn chiếm đa số như hiện nay, việc trang bị các máy ATM chưa mang lại nhiều hiệu quả. Tuy nhiên, xét mặt bằng chung về công nghệ, nhiều ngân hàng Việt Nam sẽ vẫn phải chấp nhận triển khai ATM dù chỉ là 1-2 máy đặt tại trụ sở của mình". 

    Làm sao để hiệu quả?

    Chi phí ban đầu để mua một máy ATM hiện dao động từ 25.000-30.000 USD, chưa kể các chi phí khác như tiền thuê mặt bằng, thuê nhân viên quản lý và bảo vệ máy, thuê xe chuyên dụng để nạp tiền...

    Với rất nhiều khoản đầu tư như vậy, hầu như lúc này việc kinh doanh dịch vụ trên ATM chưa thể nói đến... lãi. Theo ông Tuấn, việc triển khai ATM hiện chỉ mang lại những hiệu quả gián tiếp và chưa đáng kể, như tăng thêm nguồn vốn cho ngân hàng (nhờ vào việc khách hàng mở tài khoản); tăng thêm dịch vụ; và qua ATM sẽ hướng khách hàng tiếp cận với những công nghệ dịch vụ của ngân hàng...

    Đầu tư lớn là vậy nên hầu như ngân hàng nào cũng muốn khai thác tối đa các điểm có lợi để đặt máy, những nơi có đông khách tiêu dùng nhất. Tại một số trung tâm thương mại và siêu thị lớn, thường thấy đặt tới 3-4 máy của... 3-4 ngân hàng khác nhau. Oái oăm ở chỗ là không có sự phối hợp với nhau trong khâu triển khai nên nơi thì thừa nơi thì thiếu, gây nên những bất tiện không đáng có cho khách hàng. Mặt khác, cũng do không thống nhất nên khách hàng của mỗi ngân hàng được cung cấp một mã số PIN khác nhau, thẻ của ngân hàng này không thể sử dụng trên máy ATM của ngân hàng khác.

    Mặt khác, các ngân hàng quảng bá rầm rộ rằng ATM là dịch vụ 24/24 giờ, cho phép khách hàng giao dịch tại bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Thế nhưng theo nhân viên Phòng Thẻ của một ngân hàng thì hầu hết các máy ATM ở Việt Nam chỉ đặt trong trụ sở ngân hàng cùng một vài điểm thương mại lớn, nên dĩ nhiên các máy ATM thường "ngủ" trước 22 giờ và "thức dậy" vào lúc 7g30 sáng, thậm chí là vào lúc 9 giờ sáng như các nhân viên ngân hàng. Nói như ông Tuấn, "ATM đặt trong ngân hàng, hoạt động cùng thời gian với nhân viên ngân hàng thì chẳng còn ý nghĩa gì cả"!

    Với những bất cập như vậy, lời giải mà ai cũng nhìn thấy là cần phải có sự thống nhất từ phía các ngân hàng. Khi hệ thống ATM được thống nhất trên toàn quốc, khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ không bị hạn chế bởi số lượng máy của ngân hàng phát hành thẻ mà có thể sử dụng tại bất cứ điểm đặt máy ATM nào. Về phía ngân hàng, nhờ vậy sẽ giảm lượng đầu tư ban đầu, tăng thêm lượng máy phục vụ, tăng thêm khách hàng, giúp tập trung nguồn vốn để phát triển thêm các dịch vụ khác.

    Cần một nhạc trưởng?

    Theo ông Đào Minh Tuấn, dù tên của các ngân hàng có khác nhau nhưng xét trên hoạt động kinh doanh hiện nay thì ngân hàng nông nghiệp hay ngân hàng đầu tư hoạt động cũng tương tự như ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trước giờ chưa hề có một chuẩn nào về công nghệ hay về nghiệp vụ nên mỗi ngân hàng phát triển, đầu tư theo một kiểu, không ngân hàng nào giống ngân hàng nào. "Chưa bao giờ có sự chia sẻ với nhau cái gọi là định hướng về mặt công nghệ giữa các ngân hàng" - ông Tuấn khẳng định.

    Mặc dù vấn đề xây dựng một hệ thống chuyển mạch thanh toán thẻ liên ngân hàng đã được đặt ra ngay từ đầu, khi các ngân hàng Việt Nam bắt đầu thử nghiệm hệ thống ATM, nhưng đến nay mỗi ngân hàng vẫn tự khai thác, phát triển các dịch vụ khác nhau trên ATM một cách riêng rẽ, theo kiểu "đèn nhà ai nấy rạng".

    Để "share" (chia sẻ) các máy ATM, cần phải có những chuẩn chung về mặt công nghệ và dịch vụ ngay từ ban đầu như cấu trúc thẻ, giao thức, truyền thông, hệ thống chuyển mạch... Với vai trò là ngân hàng đầu mối, theo Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, cần đưa ra các điều kiện chuẩn hoá về số thẻ, hạ tầng, chuẩn về công nghệ... để nếu đạt được thì mới chấp nhận "share" các máy ATM vào hệ thống chung. "Những vấn đề về kỹ thuật hay công nghệ hoàn toàn không khó, cái khó chính là tinh thần hợp tác." - ông Tuấn nhận xét.

    Nếu các ngân hàng bắt tay với nhau, sẽ phải chấp nhận sự phân vùng các điểm đặt máy (sẽ có điểm đông khách, điểm vắng khách, điểm ưu tiên...) và tự thực hiện thanh toán bù trừ với nhau trong trường hợp khách hàng của mình rút tiền tại ATM của ngân hàng khác. "Share" các ATM với nhau nghĩa là chấp nhận chia sẻ dịch vụ giữa các ngân hàng, song có vẻ nhiều ngân  hàng có dịch vụ mạnh hơn không muốn chia sẻ dịch vụ với những ngân hàng khác bởi e ngại chất lượng dịch vụ của họ sẽ ảnh hưởng đến khách hàng của mình. Do vậy, có thể xảy ra tình trạng ngay khi nối mạng các máy ATM, khách hàng vẫn quay lại sử dụng máy của ngân hàng phát hành thẻ, và như vậy thì nối mạng là... vô nghĩa.

    Có ba hướng đưa ra để xây dựng và quản lý hệ thống ATM dùng chung: xây dựng một công ty quản lý độc lập hệ thống ATM; hoặc chọn một nhà cung cấp giải pháp về công nghệ quản lý hệ thống; hoặc sử dụng một ngân hàng có công nghệ chuẩn làm đầu mối. Hướng thứ ba được nhiều ngân hàng nhất trí, nhưng ngân hàng nào có hệ thống công nghệ chuẩn nhất? Việc này ví như "so bó đũa", bởi chẳng ngân hàng nào muốn công nhận hệ thống của mình là kém chuẩn hơn cả.

    Theo ông Bùi Khắc Sơn, không chỉ riêng vấn đề ATM, mà cả các vấn đề về ứng dụng CNTT trong ngành ngân hàng đã đến lúc cần có vai trò điều hành thống nhất của Chính Phủ để  tạo ra một cơ sở pháp lý cho việc thống nhất hoạt động của các ngân hàng  trên nền tảng một công nghệ chung. Bởi khi có một chuẩn công nghệ chung thì dù các ngân hàng có nhiều kênh dịch vụ khác nhau, phát triển trên những kiến trúc công nghệ khác nhau, song vẫn có thể giao tiếp được với nhau và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng.

    Thị trường sử dụng thẻ ATM ở Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa, vì song song với việc trang bị thêm máy, các ngân hàng đang có kế hoạch tung thêm rất nhiều dịch vụ khác trên ATM như: thanh toán hoá đơn tiền điện, nước, bán phone card, internet card trên ATM, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế trên ATM... Thế nhưng bao giờ khách hàng ATM được dùng chung một thẻ thống nhất trong cả nước một cách thuận tiện vẫn là câu hỏi còn chờ vào... tinh thần cộng tác của từng ngân hàng.

    74 ATM đầu tiên ở Việt Nam

    o  Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam: 30 ATM (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương).

    o Ngân Hàng Công Thương Việt Nam: 32 máy (Hà Nội, Hà Tây, Đà Nẵng, Hải Phòng, TP.HCM, Đồng Nai).

    o  Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển: 12 máy (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Bình Dương).

    Thu Hiền

     

    ID: B0207_6