• Thứ Tư, 14/04/2004 10:44 (GMT+7)

    Tin Tức

    Triển khai các chương trình CNTT và viễn thông:
    Tiến độ còn rất chậm

    Đó là kết luận của Ban Chỉ Đạo Chương Trình Hành Động Triển Khai Chỉ Thị 58-CT/TW về CNTT (BCĐ 58) tại phiên họp thứ hai vào cuối tháng 6 vừa qua.

    BCĐ 58 đã yêu cầu các Bộ, ngành chủ trì bốn chương trình trọng điểm (về phát triển nguồn nhân lực CNTT, phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, xây dựng kết cấu hạ tầng viễn thông và internet) phải khẩn trương trình Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt trong Quý III năm 2002. Được biết trước đây, BCĐ 58 đã yêu cầu các Bộ, ngành chủ trì là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, Bộ Công Nghiệp và Tổng Cục Bưu Điện phải trình Thủ Tướng phê duyệt trong Quý I/2002. Thế nhưng đến nay, vẫn chưa có đề án nào được trình. (Đặng Kim Long)

    Kế hoạch tổng thể về CNTT của Việt Nam:
    CNTT đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

    Theo Quyết Định số 95/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) ở Việt Nam đến năm 2005, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà Nước, tổ chức chính trị - xã hội và các ngành kinh tế mũi nhọn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân ở Trung Ương; riêng Hà Nội và TP.HCM đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực.

    Mạng viễn thông và internet sẽ phát triển theo công nghệ hiện đại với thông lượng ngày càng lớn, tốc độ và chất lượng cao, cung cấp cho xã hội, người tiêu dùng các dịch vụ đa dạng với giá cả tương đương mức bình quân của các nước trong khu vực.

    Công nghiệp CNTT đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20-25%, hỗ trợ các ngành quan trọng phát triển, góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế. Đào tạo thêm 50.000 chuyên gia về CNTT ở các trình độ khác nhau, trong đó có 25.000 chuyên gia trình độ cao và lập trình viên chuyên nghiệp, thông thạo ngoại ngữ cần thiết cho CNTT. (R.Đ)

    VITF 2002 & VCW2002 lần 7:
    Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam

    Diễn Đàn CNTT Việt Nam (VITF) và Vietnam Computerworld Expo (VCW) năm 2002, do Hội Tin Học TP.HCM cùng tập đoàn IDG World Expo (Asia), Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức, đã diễn ra từ ngày 23 đến 26/7/2002 tại Trung Tâm Triển Lãm và Hội Chợ Quốc Tế TP.HCM.

    130 công ty, đơn vị CNTT trong nước và quốc tế đã tham gia triển lãm với 220 gian hàng, chiếm diện tích 7.500m2. Bên cạnh đó, hội thảo quốc tế về CNTT đã diễn ra với sự tham gia của các diễn giả trong và ngoài nước, giới thiệu các xu hướng mới về công nghệ của các công ty nước ngoài như Intel, HP, Qualcomm, SCS-Foresight...; báo cáo về toàn cảnh CNTT Việt Nam 2002, cùng các hội thảo về máy tính thương hiệu Việt Nam, về phần mềm nguồn mở, và về Unicode đặc biệt thu hút sự quan tâm, chú ý của giới CNTT và giới trẻ. Giới doanh nghiệp và các tổ chức có nhu cầu ứng dụng CNTT cũng chú ý đến chương trình giới thiệu sản phẩm phần mềm, giải pháp về quản lý doanh nghiệp, về tin học hóa quản lý nhà nước, sản phẩm giáo dục - mạng - internet... của các doanh nghiệp CNTT trong nước (Lộc Minh)

    Sàn giao dịch điện tử cho hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam

    Ngày 25/7/2002 tại Hà Nội, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp VN (VCCI) đã giới thiệu dự án xúc tiến phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam với hơn 200 doanh nghiệp hoạt động trong ngành này. Trọng tâm của Dự Án là giải pháp xây dựng sàn giao dịch hàng thủ công mỹ nghệ trên mạng internet, dự kiến khai trương vào cuối năm nay. Sàn được xem như một trung tâm trưng bày giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, cung cấp thông tin về thị trường, giúp doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng...

    Nhiều doanh nghiệp cho biết: Sản xuất theo phương pháp thủ công sẽ rất khó có khả năng đáp ứng các hợp đồng lớn đòi hỏi chất lượng đồng đều. Việc không có một đầu mối hay đại lý ở nước ngoài phân phối cũng khiến cho giá thành sản phẩm khi xuất khẩu đội lên rất nhiều bởi các chi phí cho giao dịch, vận chuyển đi kèm, làm giảm lượng khách hàng mới. Kèm theo đó là những hạn chế nhất định của các doanh nghiệp hàng thủ công mỹ nghệ về trình độ CNTT, kinh nghiệm thương thuyết qua sàn giao dịch trực tuyến và khả năng giao dịch thương mại điện tử. (Hạnh Lê)

    TP.HCM:
    1 tỷ đồng nâng cấp thiết bị ngành dệt may

    Sáng 23/7, Sở Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường TP.HCM đã thông qua dự án 'Hiện đại hoá thiết bị ngành dệt may với chi phí thấp' và trao cho Khoa Cơ Khí, Đại Học Bách Khoa TP.HCM thực hiện từ đầu tháng 8/2002, với kinh phí ban đầu là 1 tỷ đồng. Dự án sẽ triển khai trong 10 tháng, với mục tiêu nâng cấp mức độ tự động hoá cho máy dệt thoi, máy dệt kiếm Jacquard và máy dệt kim đan ngang phẳng; thiết kế chế tạo chuyền treo tự động và hệ thống cắt chỉ tự động cho máy may một kim.

    Dự kiến các thiết bị và hệ thống trên sẽ được chuyển giao ứng dụng tại các công ty May Sài Gòn 2, Dệt Lụa Toàn Thịnh, Cổ Phần Kinh Doanh Len Sài Gòn, WEC Sài Gòn... Dự án được triển khai theo chủ trương của UBND TP.HCM về phát triển ngành dệt may Thành Phố với yêu cầu tăng năng suất, chất lượng và giảm một phần chi phí đầu tư thiết bị cho các doanh nghiệp ngành này ở TP.HCM. (Nhựt Minh)

    Điện lực Hà Nội:
    Thí điểm ghi chỉ số điện kế từ xa

    Công ty Điện Lực Hà Nội đang triển khai thí điểm chương trình ghi chỉ số công- tơ điện (điện kế) từ xa AMR cho trên 4.000 khách hàng tại hai quận Ba Đình và Hai Bà Trưng.

    Hiện Điện Lực Hà Nội đang có ba phương án để chọn: công nghệ GTL (Hongkong) hoạt động theo nguyên lý truyền số liệu hữu tuyến, kết nối từ xa bằng vô tuyến (đã áp dụng ở quận Ba Đình); công nghệ Canada theo nguyên lý truyền số liệu trên đường dây điện hạ thế PLC kết nối từ xa bằng modem (đã áp dụng ở quận Hai Bà Trưng); và công nghệ Israel hoạt động theo nguyên lý truyền số liệu trên đường dây điện hạ thế PLC, kết nối từ xa bằng mobile, modem hoặc thiết bị cầm tay (sẽ áp dụng tiếp tại quận Hai Bà Trưng). (Thu Hiền)    

    Thành phố Huế:
    Ứng dụng GIS quản lý hồ sơ địa chính thử nghiệm ở một phường

    Đó là phường Thuận Thành, nơi đã ứng dụng GIS từ cuối năm 2000 vào các khâu đăng ký, cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất, GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; lập các bộ hồ sơ địa chính; cập nhật tình hình biến động về đất đai.

    Nhìn chung, phần mềm quản lý hồ sơ địa chính tại đây đã đáp ứng được các tác vụ cơ bản về quản lý địa chính. Chương trình GIS cũng đã chỉnh lý và số hoá toàn bộ bản đồ địa chính của phường, gồm 42 tờ bản đồ, 2.200 thửa đất với diện tích 141,9 ha. Sau khi số hoá, bản đồ được xây dựng trên cơ sở các lớp thông tin chồng ghép, tạo thành cơ sở dữ liệu bản đồ để kết hợp với cơ sở dữ liệu về hồ sơ địa chính tạo nên mô hình quản lý hồ sơ địa chính khá hoàn chỉnh, thể hiện được thông tin về xã hội và tự nhiên của các thửa đất, giúp cập nhật và truy xuất thông tin nhanh chóng, chính xác.

    Theo ông Trịnh Ngọc Dũng, phó giám đốc Trung Tâm Công Nghệ Phần Mềm Huế, trưởng nhóm phát triển chương trình GIS trên, sắp tới Sở Địa Chính Thừa Thiên-Huế sẽ triển khai chương trình này rộng rãi tại nhiều huyện của tỉnh. (Minh Tú)

    ID: B0208_6