• Thứ Năm, 15/04/2004 08:38 (GMT+7)

    Đâu là nút gỡ cho "mớ bòng bong" ?

    Đầu tháng 3/2004, đề nghị giảm cước một số các dịch vụ viễn thông của Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) trình lên Bộ BCVT đang thu hút được sự chú ý đặc biệt của xã hội, của các doanh nghiệp (DN) viễn thông khác, những đối tượng sẽ chịu ảnh hưởng lớn (cả tích cực và tiêu cực) từ việc giảm cước.

    Đầu tháng 3/2004, đề nghị giảm cước một số các dịch vụ viễn thông của Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) trình lên Bộ BCVT đang thu hút được sự chú ý đặc biệt của xã hội, của các doanh nghiệp (DN) viễn thông khác, những đối tượng sẽ chịu ảnh hưởng lớn (cả tích cực và tiêu cực) từ việc giảm cước. Cụ thể, VNPT đề nghị giảm cước thuê bao ĐTDĐ mạng Mobifone và Vinaphone xuống còn từ 60.000 đến 100.000 đồng/tháng (hiện là 120.000 đồng/tháng); tính cước dịch vụ thông tin di động theo block 30 giây cho tất cả các cuộc gọi đi trong nước từ thuê bao ĐTDĐ, thay vì tính block 1 phút như hiện nay...

    'Người ngoài cười nụ, kẻ trong khóc thầm'
    Cước viễn thông từ trước đến nay luôn là vấn đề 'nóng' đối với xã hội. Nguyên nhân chính cũng dễ hiểu, đây vẫn là dịch vụ độc quyền trong cơ chế độc quyền DN đang hiện hữu (cho dù về mặt lý thuyết, nhiều người đã coi đó là độc quyền nhà nước chứ không còn là độc quyền DN). Vì thế, khi đề nghị giảm cước của VNPT được công bố, người sử dụng dịch vụ khấp khởi hy vọng, bớt lo cho túi tiền của họ. Song những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác (đang chiếm một thị phần... vô cùng nhỏ so với 'người khổng lồ' VNPT hiện chiếm tới 90% thị phần) như Saigon Postel, Vietel, Hanoi Telecom (2 DN sau đang chuẩn bị cung cấp dịch vụ) thì 'méo mặt' bởi áp lực cạnh tranh đang đè nặng trên vai của họ vì lo sợ không đủ vốn để cạnh tranh với VNPT, nhất là khi 'đầu vào' đối với họ cao 'ngất ngưởng' (chiếm hơn 60% doanh thu - theo VnExpress), làm cho 'đầu ra' không dễ gì hạ thấp để chạy đua với đối thủ VNPT.

    Cơ quan quản lý nhà nước mắc kẹt!
    Cho đến thời điểm này, chưa có một quyết định chính thức nào của lãnh đạo Bộ BCVT về đề xuất giảm cước của VNPT, dù theo nhiều chuyên gia, quyết định này chỉ còn là vấn đề thời gian.

    Cũng có ý kiến cho rằng trong trường hợp Bộ BCVT đưa ra lý do để hỗ trợ các DN viễn thông mới thành lập phát triển ổn định hay để bảo đảm chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, tránh tình trạng số lượng khách hàng tăng nhanh trong khi chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng kịp, thì đề xuất giảm giá cước của VNPT có thể còn bị 'ngâm' dài dài, đồng nghĩa với việc khách hàng cũng 'dài cổ' chờ giá cước hạ.

    Tuy nhiên, cho dù ở trường hợp nào, với lý do gì thì phần thiệt thòi cũng không bao giờ rơi vào VNPT!

    Nhưng Bộ BCVT sẽ... kẹt! Vì sao vậy?

    Nếu Bộ BCVT đồng ý với đề xuất giảm cước của VNPT, người dùng sẽ dễ thở hơn trước, nhưng các DN viễn thông mới sẽ vô cùng khó khăn với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, như trên đã phân tích. Khi đó, Bộ sẽ 'mang tiếng' là không công bằng, không tạo điều kiện thuận lợi cho các DN mới phát triển. Còn nếu Bộ chưa thông qua đề xuất của VNPT, người dùng sẽ vô cùng thất vọng, các DN viễn thông lại 'dễ thở' đôi chút. Khi đó, Bộ BCVT cũng sẽ không tránh khỏi áp lực của yêu cầu giảm giá cước mà Thủ Tướng Chính Phủ đã đặt ra tại hội nghị triển khai kế hoạch năm 2004 của Bộ. Đã chấp nhận cạnh tranh, sao Bộ không nới lỏng cho các DN tự do đi tìm kiếm 'đầu vào' ở bên ngoài cho thật sòng phẳng.

    Tuy nhiên, trong trường hợp Bộ BCVT chưa đồng ý cho VNPT giảm giá cước với lý do để bảo đảm chất lượng dịch vụ phục vụ người dùng thì cũng không phải là không có lý.

    Nếu giá cước viễn thông giảm, có thể nhìn thấy trước là số lượng người sử dụng các dịch vụ viễn thông sẽ tăng mạnh. Khi đó, theo nhiều chuyên gia, chắc chắn chất lượng dịch vụ viễn thông mà VNPT cung cấp sẽ bị giảm sút, bởi năng lực của mạng viễn thông hiện tại không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ gia tăng đột biến.

    Chất lượng phục vụ yếu kém của mạng viễn thông VNPT gần đây (không kể những trường hợp ở một thời điểm tần suất sử dụng dịch vụ tăng đột biến mà mạng viễn thông di động không đáp ứng được), chứng tỏ phần nào hiệu quả kinh tế của việc đầu tư và khai thác các mạng viễn thông di động hiện nay (đầu tư không dư nhiều so với thực tế sử dụng sẽ tránh được lãng phí). Nhưng mặt khác, cũng chứng tỏ việc đầu tư nâng cấp mạng lưới của VNPT không có tính chiến lược mà theo kiểu 'đếm bát so đũa'.

    Vậy đâu là nút gỡ của 'mớ bòng bong' này?

    Chỉ khi nào Bộ BCVT cho 'đứa con đẻ' của mình ra ở riêng, chỉ khi nào VNPT không còn nắm giữ và quyết định cho thuê đường trục viễn thông quốc gia (tức là thực sự không còn độc quyền DN) thì 'mớ bòng bong' đó sẽ tự khắc được tháo gỡ.

    Như thế, câu hỏi còn lại chỉ là: 'Khi nào?'

    Đặng Nguyễn

    ID: B0404_10