• Thứ Hai, 26/04/2004 07:40 (GMT+7)

    Đào tạo văn bằng 2: Một lời giải cho bài toán nhân lực công nghiệp phần mềm

    Việc chúng ta không thể hoàn thành mục tiêu 500 triệu USD giá trị công nghiệp phần mềm (CNpPM) vào năm 2005, theo người đứng đầu một doanh nghiệp CNTT có uy tín, là do nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu. Theo vị này, nếu so sánh các kỹ sư CNTT với những đối tượng tốt nghiệp ngành học khác thì có thể thấy một số nghịch lý. Thứ nhất, trong khi sinh viên tốt nghiệp các ngành xây dựng, cơ khí... có thể thiết kế được sản phẩm hoàn thiện thì sinh viên CNTT, với điểm chuẩn đầu vào cao hơn, chưa chắc có thể viết được sản phẩm PM dù nhỏ. Thứ hai, trong quá trình sàng lọc tuyển chọn nhân lực, nhiều công ty PM Việt Nam sa thải lập trình viên (LTV) vì lý do 'năng lực kém'...

    Hai nghịch lý

    Việc chúng ta không thể hoàn thành mục tiêu 500 triệu USD giá trị công nghiệp phần mềm (CNpPM) vào năm 2005, theo người đứng đầu một doanh nghiệp CNTT có uy tín, là do nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu. Theo vị này, nếu so sánh các kỹ sư CNTT với những đối tượng tốt nghiệp ngành học khác thì có thể thấy một số nghịch lý. Thứ nhất, trong khi sinh viên tốt nghiệp các ngành xây dựng, cơ khí... có thể thiết kế được sản phẩm hoàn thiện thì sinh viên CNTT, với điểm chuẩn đầu vào cao hơn, chưa chắc có thể viết được sản phẩm PM dù nhỏ. Thứ hai, trong quá trình sàng lọc tuyển chọn nhân lực, nhiều công ty PM Việt Nam sa thải lập trình viên (LTV) vì lý do 'năng lực kém'; thực ra những LTV này năng lực không hề kém (bằng chứng là khi được tuyển dụng vào một môi trường khác - kể cả công ty nước ngoài - họ lại làm việc rất có hiệu quả), mà chủ yếu do họ không được chuẩn bị kỹ càng trước nên khó tiếp cận với các kiến thức nghiệp vụ chuyên môn sâu phục vụ cho lập trình.

    Tiềm thức xã hội vẫn coi CNTT là chuyện nội bộ của các chuyên gia tin học, nhưng trong thực tế, CNTT không thể phát triển tách rời các ngành khoa học khác. Theo giám đốc một công ty PM trong lĩnh vực xây dựng, nếu bài toán nhân lực CNTT được phát triển theo hướng ưu tiên cho các khoa CNTT trọng điểm (mà thiếu vế đào tạo CNTT cho các ngành khác), xã hội hóa theo hướng nhập khẩu công nghệ giáo dục để ra đời các hệ thống đào tạo LTV theo chương trình liên kết với nước ngoài thì e rằng chưa ổn. TS Mai Anh, nguyên tổng thư ký Hội Tin Học Việt Nam cũng chỉ ra: 'Trong khi sinh viên các ngành khác được học thêm CNTT để bổ trợ cho kiến thức chuyên môn thì sinh viên CNTT lại dường như chẳng được học gì về các kiến thức khác. Rất giỏi lập trình song không biết lập trình cái gì thì sao có thể gọi là giỏi được!'

    Vậy bài toán nhân lực CNTT phải theo hướng nào?

    Năm 1991, ĐHBK Hà Nội đã tuyển sinh khóa đầu tiên hệ kỹ sư thứ hai CNTT. Do được thừa nhận kết quả học tập về khoa học cơ bản nên chương trình đào tạo văn bằng 2 chỉ kéo dài trong hai năm. Đây là sự chuyển dịch tất yếu của nền kinh tế theo xu hướng đa dạng hóa sản phẩm và người học đến với văn bằng 2 CNTT không chỉ là để có cơ hội đổi nghề mà còn mong muốn đưa tri thức CNTT vào ứng dụng trong các ngành chuyên môn của họ. Thực tế tại các lớp văn bằng 2 CNTT, không ít người đã viết được PM ngay từ khi chưa tốt nghiệp, đôi khi đó chỉ là một ứng dụng đơn giản trong công việc chuyên môn của họ.

    Trở lại vấn đề nhân lực cho các doanh nghiệp PM, giám đốc một công ty thiết kế xây dựng cho biết, một môn học cung cấp kiến thức tối thiểu cho ngành xây dựng và nhiều ngành kỹ thuật khác như vẽ kỹ thuật cũng không có trong chương trình đào tạo kỹ sư CNTT và LTV theo chương trình của nước ngoài tại Việt Nam, nên kỹ sư CNTT và LTV hầu như không đáp ứng được yêu cầu xây dựng PM thiết kế đồ họa. Bên cạnh đó, còn rất nhiều PM khác nếu muốn làm được thì phải có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Lúc này, đào tạo một chuyên ngành sâu - trong đó bao gồm cả đào tạo văn bằng 2 - cho LTV lại là giải pháp cần thiết.

    Kết luận
    Theo nhận xét của nhiều chuyên gia, tồn tại của CNTT Việt Nam nói chung và CNpPM nói riêng là thiếu nhân lực cầu nối giữa CNTT với các lĩnh vực khác: thiếu đội ngũ giỏi chuyên môn và am hiểu sâu sắc về CNTT. Cần coi đào tạo văn bằng 2 là một trong các giải pháp bù đắp sự thiếu hụt đó, để có cách nhìn đúng đắn và phát triển loại hình đào tạo mà từ khi ra đời (1991) đến nay, dường như chưa có ai đứng ra tổng kết về những gì nó đã đạt được cũng như tồn tại với văn bằng 2 nói chung và văn bằng 2 cho CNTT nói riêng. (Xem thêm bài 'Ngành đóng tàu: Bỏ ngỏ thị trường lớn', trang 25, TGVT-PCW seri B số tháng 3/2004; 'Ứng dụng vi xử lý ở ngành vật lý địa chất', trang 25 trong số này).

    Tân Khoa

     

    ID: B0404_10