• Thứ Hai, 30/08/2004 09:32 (GMT+7)

    Hội thảo Quốc gia lần thứ 3 về PMNM (6/7/2004): Dư âm và cảm nhận

    Hội thảo diễn ra trong khuôn khổ hoạt động của Vietnam Computerworld Expo 2004 và sau sự kiện Thủ Tướng Chính Phủ ký Quyết Định 235/QĐ-TTg, phê duyệt dự án tổng thể "Ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008:.
    Ban chủ tọa hội thảo Quốc Gia lần thứ III về phần mềm nguồn mở tại TP.HCM ngày 6/7/2004.
     

    Hội thảo diễn ra trong khuôn khổ hoạt động của Vietnam Computerworld  Expo 2004 và sau sự kiện Thủ Tướng Chính Phủ ký Quyết Định 235/QĐ-TTg, phê duyệt dự án tổng thể 'Ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008'. Nhờ vậy, khác với 2 lần hội thảo trước (2000 và 2002), nội dung bàn thảo lần này xoáy vào những vấn đề khá cụ thể, bức xúc và thiết thực. Nó đã để lại dư âm và cảm nhận sâu sắc đối với hơn 300 đại biểu tham dự và cả giới CNTT nước nhà.

    Thứ nhất, khi bàn đến chính sách của Chính Phủ về phát triển phần mềm nguồn mở (PMNM), các đại biểu tập trung đi thẳng vào thảo luận để lựa chọn một trong số 4 giải pháp sau:

    1. Bắt buộc sử dụng PMNM

    2. Ưu tiên sử dụng PMNM

    3. Định hướng cho các tổ chức, DN sử dụng phần mềm theo các chuẩn mở

    4. Để cơ chế thị trường điều tiết sự lựa chọn (đấu thầu).

    Đối với vấn đề hệ trọng này, đa số đại biểu đồng tình với cách nghĩ của TS Hoàng Lê Minh, phó giám đốc Sở KHCN TP.HCM. Ông Minh cho rằng giải pháp thứ nhất và thứ tư không khả thi. Việc bắt buộc sử dụng PMNM trong các dự án sử dụng ngân sách nhà nước (1) có thể dẫn đến tăng thêm chi phí đào tạo, triển khai, làm giảm hiệu quả PM. Thế nhưng nếu để thị trường tự điều tiết (4) sẽ vấp phải thói quen sử dụng PM thương mại (PMTM). Mặt khác, do tình trạng trình độ tư vấn còn hạn chế, trong khi nhiều ngành, địa phương, tổ chức và DN đang khá lúng túng khi triển khai các dự án PM thì các chuyên gia tư vấn lại không đủ kiến thức đề xuất phương án thay thế PMTM. Do đó, giải pháp thứ hai và thứ ba có lẽ khả thi trong điều kiện Việt Nam. Nhà Nước ưu tiên sử dụng PMNM và khuyến cáo các tổ chức, DN tuân thủ các chuẩn mở, nhất là ở các công đoạn lưu trữ, trao đổi và tích hợp dữ liệu. Yếu tố ảnh hưởng đến chuẩn mở là khả năng liên tác của các hệ thông tin. Việc định chuẩn không đơn giản, đòi hỏi sự nhất quán, đồng lòng giữa Chính Phủ, các DN và người sử dụng. Nhưng nếu làm được điều này, chắc chắn chi phí và các rủi ro sẽ giảm tối đa.

    Thứ hai, để Quyết Định 235/QĐ-TTg thật sự đi vào cuộc sống, các đại biểu đã bàn thảo và làm rõ định hướng phát triển các ứng dụng PMNM. Ở Việt Nam vào thời điểm này, có lẽ vai trò trước hết và thực sự to lớn của PMNM là nằm trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo. Nghiên cứu viên, lập trình viên, sinh viên, học sinh có thể học hỏi công nghệ tiên tiến thông qua bản thân mã nguồn hoặc sử dụng PMNM làm ra PM ứng dụng mới. Làm việc với các PMNM đã có trên thế giới, đội ngũ làm PM của Việt Nam sẽ dần hình thành một cộng đồng phát triển PM tri thức cao, hỗ trợ lẫn nhau, tăng tính hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Bài học đưa PMNM và công nghệ Java vào chương trình đào tạo ở các trường ĐH của TP.HCM rất được hoan nghênh trong hội thảo. Ông Hồ Tường Vinh, giám đốc Viện Tin Học Pháp Ngữ (IFI) cũng đem đến hội thảo nhiều kinh nghiệm bổ ích trong việc sử dụng PMNM vào đào tạo CNTT ở cơ sở của mình. Một định hướng khác cũng rất quan trọng là môi trường phát triển PMNM hiện nay ở Việt Nam phải lấy khối cơ quan Nhà Nước và khối cơ quan Đảng làm điểm đột phá mạnh và rộng khắp. Các dự án PMNM yêu cầu một lượng thành viên tình nguyện đủ lớn cùng xây dựng sản phẩm, vì vậy, sản phẩm phải hữu ích, hấp dẫn với đông đảo người dùng. Các sản phẩm có ít người dùng, hoặc phát triển trên các phần cứng chuyên dụng không thể tận dụng được ưu thế của mô hình PMNM. Các ông Nguyễn Chí Công (đại diện Đề Án 112 của khối Nhà Nước), Vũ Duy Lợi (đại diện Đề Án 47 của khối cơ quan Đảng) đã giới thiệu khá nhiều lĩnh vực ứng dụng của hai đề án này. Đáng tiếc, chính ông Nguyễn Chí Công lại phải thừa nhận, nhiều ứng dụng PMNM trong Đề Án 112 đang gặp phải những rào cản khó tháo gỡ cả về cơ chế lẫn nguồn nhân lực phát triển PMNM.

    Để giải quyết vấn đề trên, nên chăng Ban Quản Lý Đề Án 112 cần tạo điều kiện cho nhiều DN PM trong nước tham gia như đã từng ứng dụng PMNM trong công nghệ cổng thông tin (Portal) ở Hà Nội, Bình Định và Vĩnh Phúc hay City Web ở TP. HCM. Một DN đơn lẻ không thể làm tốt việc phát triển PMNM giữa một sân chơi mênh mông như biển của Đề Án 112.

    Thứ ba, những điều cảnh báo trong hội thảo cũng đang để lại dư âm trong giới CNTT nước nhà. Đó là PMNM ở Việt Nam chỉ mới manh nha phát triển, nhưng đã gặp xu hướng 'đóng hóa' nó. Điều này đi ngược với xu hướng chung của thế giới, hạn chế ưu thế của mô hình PMNM. Chính ông Nguyễn Kim Quang, phó giám đốc CDIT, một trong những đơn vị thành công nhất về phát triển PMNM đã nêu ra điều cảnh báo này. Ngoài ra, vấn đề 'bản địa hóa' mã nguồn cũng đang có sự bất cập vì thiếu đầu tư về mặt ngôn ngữ. Ông Đặng Minh Tuấn, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này thiết tha kêu gọi các nhà ngôn ngữ học hợp tác chặt chẽ với các nhà CNTT.

    Dư âm Hội Thảo Quốc Gia lần thứ 3 đang để lại nhiều cảm nhận về đổi mới trong tư duy và hành động của các nhà quản lý và cộng đồng DN, hướng tới kế hoạch phát triển PMNM ở Việt Nam theo văn bản 235/QĐ-TTg. Hy vọng sau hội thảo, chúng ta sẽ có những bứt phá đáng kể, thoát ra khỏi tình trạng trì trệ hiện nay.

    Vũ Ngọc Tiến

    ID: B0408_10