• Thứ Năm, 02/06/2005 11:04 (GMT+7)

    Cần luật Giao Dịch Điện Tử, luật và luật...

    Trong hai ngày 11 và 12/5/2005 tại TPHCM đã diễn ra hội thảo quốc tế về Thông Tin Di Động lần thứ 2 (Mobile Vietnam 2005). Nhân dịp này, các nhà tư vấn quốc tế đã đưa ra dự đoán là tới năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu thuê bao di động và thị trường sẽ luôn tăng trưởng ở mức cao. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang trong tiến trình đàm phán để chính thức gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Ông Phạm Hồng Hải - Vụ Trưởng Vụ Viễn Thông Bộ BCVT cho biết: “Mặc dù hệ thống pháp luật cho lĩnh vực này bao gồm pháp lệnh BCVT, nghị định 160, nghị định 14 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đã được các tổ chức quốc tế đánh giá là tương đối chuẩn mực, nhưng vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện.” Ông Arve Johansen, phó chủ tịch tập đoàn Telenor (Na Uy) cho rằng điều quan trọng nhất là phải hình thành “sân chơi” bình đẳng, xây dựng khung pháp lý vững chắc và quan trọng nhất phải có người “cầm trịch” quản lý thật sự công bằng.

    Tại kỳ họp thứ 7, Quốc Hội khoá XI, trước khi luật Giao Dịch Điện Tử được đưa ra thảo luận, nhiều bộ luật khác liên quan đến CNTT cũng được đề cập. Trong khi chưa có luật Giao Dịch Điện Tử, việc sửa đổi, rất cần bổ sung luật Hải Quan. Tổng Cục Hải Quan cho biết, tiến bộ lớn và cụ thể nhất của dự luật sửa đổi lần này là đã đưa vào hầu hết các chuẩn mực của công ước Kyoto về đơn giản và thống nhất hoá thủ tục hải quan, đặc biệt là những quy định thực hiện giao dịch điện tử. Việc giao dịch điện tử được thực hiện sẽ thuận lợi lớn cho rất nhiều doanh nghiệp trong việc giảm đáng kể số lượng giấy tờ và thời gian giao dịch. Trong lộ trình hội nhập với hệ thống ngân hàng quốc tế, phía Ngân Hàng Nhà Nước TPHCM mong muốn luật Giao Dịch Điện Tử sớm được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý cho các giao dịch điện tử.

    Với luật CNTT do Bộ BCVT chủ trì xây dựng dự kiến sẽ trình kỳ họp Quốc Hội cuối năm 2005, chính phủ Hàn Quốc đã cam kết hỗ trợ 860.000 USD cho dự án này. Theo các chuyên gia Hàn Quốc, dự thảo luật này cần phải có sự nghiên cứu tương đối rộng, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan liên quan. TS Nguyễn Quang A, tổng giám đốc công ty 3C đề nghị một cơ chế rõ ràng cho việc mua sắm của Chính Phủ và cho rằng phải có luật để công khai và điều chỉnh chuyện này, nếu không sẽ rất khó đẩy mạnh CNTT. Viện Chiến Lược BCVT&CNTT cho biết khó khăn là đến nay Việt Nam vẫn chưa có luật Công Nghiệp trong khi luật CNTT lại có khái niệm về công nghiệp CNTT và phải làm rõ xem ngành công nghiệp này gồm những hoạt động gì. Thứ trưởng Bộ BCVT Trần Đức Lai nhận định: “Bất cứ luật nào cũng vậy, khi xây dựng đều phải căn cứ vào hoạt động, hiện tượng đã và đang xảy ra trong xã hội để đưa vào luật nhằm điều chỉnh lại, luật hóa các hoạt động, hiện tượng đó. Nhưng đối với CNTT - TT có tốc độ phát triển nhanh, quản lý đã không thể theo kịp sự phát triển”.

    Về dự thảo phát triển CNpPM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 mà Bộ BCVT vừa công bố và tổ chức hội thảo lấy ý kiến, đang có mối hoài nghi về mục tiêu 1 tỷ USD giá trị CNpPM và 200.000 kỹ sư CNTT vào năm 2010, và thực tế là chúng ta không thể hoàn thành mục tiêu giá trị 500 triệu USD vào năm 2005. Trong khi đó, lại có ý kiến cho rằng nếu đặt mục tiêu phát triển CNTT làm động lực khoa học công nghệ thay vì coi nó là ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn thì những con số đã đặt ra sẽ không thấm tháp gì. TS Lê Trường Tùng, chủ tịch Hội Tin Học TPHCM kiến nghị cần gấp rút thành lập cơ quan quản lý nhà nước đảm trách phát triển nguồn lực CNTT trực thuộc Bộ BCVT để chịu trách nhiệm vấn đề này cùng với Bộ GD-ĐT. Thứ trưởng thường trực Bộ BCVT Mai Liêm Trực lại lưu ý, phần lớn cử nhân, kỹ sư CNTT sau khi ra trường cần làm việc phục vụ xã hội chứ không phải là tất cả họ có thể tham gia làm phần mềm. Theo ông, hiện chúng ta đang thiếu chuyên gia cao cấp về sản xuất và kinh doanh phần mềm, về quy trình đảm bảo chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất phần mềm và trình độ quản lý doanh nghiệp. Được biết, Bộ BCVT đã kiến nghị Chính Phủ thành lập quỹ "Đào tạo và phát triển nhân lực" cho CNpPM với 50% kinh phí hoạt động là từ ngân sách nhà nước.

    Tân Khoa

    ID: B0506_10