• Thứ Tư, 22/06/2005 09:53 (GMT+7)

    Vì sao thương mại điện tử ở Việt Nam chưa phát triển?

    Bản dự thảo về kế hoạch phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 -2010 đã vạch ra các mục tiêu rất cụ thể nhưng lại chưa xác định rõ đội quân đóng vai trò tiên phong trong ứng dụng thương mại điện tử. Đây là một trong những nguyên nhân khiến hoạt động thương mại điện tử ở nước ta chưa phát triển như mong đợi.

    Theo dự thảo lần 2 kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010, doanh nghiệp (DN) sẽ là lực lượng nòng cốt ứng dụng và phát triển thương mại điện tử (TMĐT). Kế hoạch đặt mục tiêu đến 2010, khoảng 70% DN lớn tiến hành giao dịch DN với DN (B2B) và ứng dụng TMĐT ở mức cao, 90% DN vừa và nhỏ biết tới lợi ích của TMĐT và có ứng dụng nhất định.
    Song song với việc ưu tiên hỗ trợ loại hình B2B, kế hoạch cũng vạch mục tiêu đến năm 2010, khoảng 15% hộ gia đình và cá nhân có thói quen mua sắm trên mạng (B2C); tất cả các chào thầu mua sắm thuộc khối nhà nước được công bố công khai trên mạng, trong đó có 30% lượng mua sắm tiến hành thông qua TMĐT (B2G). 

    Trong cuộc hội thảo về kế hoạch nói trên do Bộ Thương Mại chủ trì ngày 17/6/2005 tại Hà Nội, có một số ý kiến cho rằng những mục tiêu đó là chưa thật phù hợp so với thực tế. Ông Phùng Văn Ổn, giám đốc Trung Tâm Tin Học Bộ Giao Thông Vận Tải cho rằng, cần phải có nỗ lực rất lớn mới có thể làm cho 15% hộ gia đình và cá nhân có thói quen mua sắm trên mạng vào năm 2010, vì hạ tầng CNTT của chúng ta còn yếu và người dân ở khu vực nông thôn ít có điều kiện tiếp xúc với Internet. Trong khu vực nhà nước, con số 30% lượng mua sắm thuộc khối nhà nước tiến hành qua mạng cũng khó có thể đạt được vì các cơ quan nhà nước chuyển biến rất chậm trong việc ứng dụng CNTT.

    Ông Nguyễn Thành Hưng, vụ trưởng Vụ Thương Mại Điện Tử, Bộ Thương Mại giải thích, nếu quan niệm mua hàng hoá, dịch vụ qua điện thoại di động (mạng không dây) cũng là TMĐT thì con số 15% ở nông thôn là có thể đạt được. Vả lại, cách tính ở đây là chỉ cần một hộ nào đó trong một năm có một người mua một món hàng hay một dịch vụ thông qua mạng (có dây hoặc không dây) là xem như hộ đó có sử dụng TMĐT.

    Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Công, tổ trưởng tổ chuyên môn Ban Điều Hành Dự Án 112 của Chính Phủ, trưởng ban Khoa Học Công Nghệ của Hội Tin Học Việt Nam, đã là mục tiêu thì phải có định lượng. Đã là định lượng phải có thước đo. Bản kế hoạch nói trên không đưa ra các thước đo, cho nên rất khó xác định như thế nào là đạt mục tiêu vì mỗi người hiểu TMĐT theo một cách khác nhau. Chẳng hạn, thế nào là sử dụng TMĐT ở mức cao, là “biết tới lợi ích” của TMĐT, thế nào là “có thói quen mua sắm trên mạng”? Những yếu tố đó cần phải được chỉ rõ. Mặt khác, mục tiêu cũng nên đưa ra những lợi ích kinh tế có thể đạt được để tăng tính thuyết phục của kế hoạch. 

    Một vấn đề khác được bàn luận nhiều trong hội thảo là các chính sách, định hướng của Nhà Nước đối với TMĐT. Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, kế hoạch tổng thể đã đề ra 6 chính sách, trong đó có chính sách “các cơ quan chính phủ ở mọi cấp cần phải đi tiên phong trong việc hỗ trợ và ứng dụng TMĐT”. Song, chính ông Nguyễn Thành Hưng cho rằng hiện nay các cơ quan nhà nước còn đi sau DN trong ứng dụng CNTT và TMĐT. Đây là một trong những khó khăn cho việc phát triển TMĐT. Những khó khăn lớn khác như môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng và giá dịch vụ CNTT-TT, cơ chế và bộ máy giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc ứng dụng TMĐT...cũng nằm trong phạm vi giải quyết của Chính Phủ. Theo nhiều người tham gia hội thảo, mặc dù DN là nhân vật chính, nhưng Chính Phủ mới là nhân tố quyết định đối với sự phát triển TMĐT ở Việt Nam.

    Thuỵ Anh

    ID: O0506_1