• Thứ Năm, 04/08/2005 11:02 (GMT+7)

    CNTT Việt Nam 2004-2005

    Thị trường CNTT Việt nam

    Thị trường CNTT Việt Nam năm 2004 đạt con số 685 triệu USD, tăng trưởng 33,0% so với năm 2003, trong đó phần cứng tăng 32,9%, phần mềm/dịch vụ tăng 33,3%. Đây là con số tăng trưởng rất ấn tượng trong bối cảnh chi tiêu CNTT toàn cầu chỉ ở mức tăng trưởng 5%/năm. Đây cũng là năm có mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, (xem bảng 1
    sơ đồ 1).

    Tình hình xuất/nhập khẩu

    Năm 2004, theo số liệu của hải quan, kim ngạch nhập khẩu thiết bị tin học của Việt Nam được đánh giá là “cao nhất từ trước đến nay”. Nhận định này được lặp lại cho năm 2005, với kim ngạch nhập khẩu lên tới 912 triệu USD, tăng trưởng 203%, và được đánh giá là năm rất khởi sắc của thị trường CNTT Việt Nam.

    Nếu không tính kim ngạch nhập khẩu của các công ty lớn 100% vốn nước ngoài như Fujitsu, Canon... nhập linh kiện để làm hàng xuất khẩu (450 triệu USD) thì kim ngạch nhập khẩu phục vụ thị trường nội địa năm 2004 là 462 triệu USD, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước.

        Bảng 2
        Năm     Nhập khẩu phục vụ thị trường nội địa     Tăng trưởng
    (%)
     
        2000     204     N/A  
        2001     230     12,7  
        2002     277     20,4  
        2003     338     25,6  
        2004     462     32,8  

    Danh sách 10 quốc gia và lãnh thổ hàng đầu xuất khẩu CNTT vào Việt Nam không thay đổi, tuy nhiên có một số điểm khác biệt:

    Nhật Bản trở thành nguồn nhập khẩu CNTT lớn nhất vào Việt Nam (chiếm 40%) - đây là một điểm đặc biệt so với các năm trước, khi Singapore thông thường chiếm vị trí số 1. Cùng với việc khởi sắc của thị trường gia công phần mềm, năm 2004 Nhật Bản đã trở thành đối tác chiến lược trong việc phát triển CNTT của Việt Nam.

    Kim ngạch nhập khẩu CNTT từ các nước sang Việt Nam (trừ Thái Lan) đều tăng đáng kể, trong đó một số quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc, Singapore đều tăng hơn gấp rưỡi để phục vụ cho thị trường CNTT Việt Nam nhiều khởi sắc (Malaysia tăng 72%, Trung Quốc tăng 57%, Singapore tăng 52%, Mỹ tăng 51%). Nếu năm 2003 chỉ có 3 quốc gia có kim ngạch nhập khẩu CNTT vào Việt Nam trên 40 triệu USD thì năm 2004 lên tới 7 quốc gia vượt ngưỡng này. Chỉ riêng kim ngạch nhập khẩu CNTT từ Singapore năm 2004 đã lớn hơn toàn bộ tổng kim ngạch nhập khẩu CNTT vào Việt Nam năm 2001 (xem bảng 3
    ).

    Phần mềm nhập khẩu vẫn là con số bé nhỏ. Ước tính con số này vào khoảng 15 triệu USD, còn lại 125 triệu USD là giá trị phục vụ thị trường trong nước của ngành công nghiệp phần mềm nội địa. Số liệu của hải quan chỉ ghi nhận có 3,1 triệu USD phần mềm nhập qua cửa khẩu. Số liệu của Liên Minh Doanh Nghiệp Phần Mềm (BSA) cho biết phần mềm đóng gói nhập khẩu vào Việt Nam (kể cả đi theo các máy tính nguyên chiếc dùng phần mềm có bản quyền) cũng chỉ vào khoảng 5 triệu USD mà thôi.

    Giá trị gia công phần mềm xuất khẩu năm 2004 đạt con số 45 triệu USD, tăng 50% so với năm trước. Hai năm liên tiếp gia công/xuất khẩu phần mềm Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng này.

    Giá trị phần cứng xuất khẩu đạt con số 660 triệu USD, trong đó xuất khẩu chủ đạo vẫn là các công ty 100% vốn nước ngoài, đứng đầu là Fujitsu (bảng mạch in, 392 triệu USD - chiếm 60%), Canon - Việt Nam (máy in, 210 triệu USD - chiếm 32%), linh kiện vi tính các loại (50 triệu USD - chiếm 7,6%).


    Công nghiệp CNTT

    Ngành công nghiệp phần mềm/dịch vụ Việt Nam đạt doanh số 170 triệu USD trong năm 2004, trong đó 125 triệu phục vụ thị trường nội địa và 45 triệu gia công xuất khẩu, tăng 33,3% so với năm trước (sơ đồ 2).

    Một số khu phần mềm tập trung phát triển với tốc độ cao, thu hút đầu tư của nhiều công ty trong và ngoài nước, tiêu biểu là Quang Trung, E-Tower (TP.HCM), Softech (Đà Nẵng). Tuy nhiên vẫn chưa có các công ty phần mềm lớn đa quốc gia đầu tư vào Việt nam.

    Các sự kiện IDG đầu tư mạo hiểm cho 4 công ty phần mềm, TP.HCM hình thành công ty ươm tạo phần mềm, gia công phần mềm với Nhật Bản phát triển - cùng với sự thiếu hụt nhân lực phần mềm là các dấu hiệu chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam sau 5 năm xây dựng.

    Công nghiệp phần cứng đạt doanh số 760 triệu USD, trong đó chủ yếu là xuất khẩu từ các công ty 100% vốn nước ngoài. Các công ty trong nước - đặc biệt một số công ty sản xuất máy tính thương hiệu Việt Nam (FPT Elead, CMS) tăng với tỷ trọng lớn - tuy nhiên giá trị chưa cao. Trong số các máy tính thương hiệu Việt Nam mới chỉ có 2 thương hiệu vượt ngưỡng doanh số 5 triệu USD/năm, trong đó chỉ một thương hiệu (FPT Elead) vượt ngưỡng 10 triệu USD/năm.

    Các vị trí hàng đầu trong Top ICT Vietnam không có biến động lớn so với năm trước và vẫn là các tên tuổi quen thuộc. Vị trí hàng đầu trong các lĩnh vực Internet (VDC), sản xuất phần cứng (Fujitsu), dịch vụ phần mềm (FPT Software), gia công xuất khẩu phần mềm (FPT Software), đào tạo CNTT (Aptech Việt Nam) vẫn là các tên tuổi năm trước, về máy tính thương hiệu Việt Nam tên tuổi của 5 thương hiệu đứng đầu vẫn như cách đây một năm, nhưng có sự đổi ngôi vị trí thứ nhất giữa CMS và FPT Elead. Nếu như năm 2002, FPT Elead bằng ½ CMS, năm 2003 khoảng cách thu hẹp còn 2/3 thì sang năm 2004, FPT Elead vươn lên vị trí số 1 với doanh số cao hơn CMS 30%.

    Viễn thông/Internet

        Bảng 4: Phát triển thuê bao và người dùng Internet, 2000-2005
        Tháng     Số thuê bao     Số người dùng  
         5/2005     2.779.000     7.504.000  
        5/2004     1.165.000     4.700.000  
        6/2003     466.000     1.900.000  
        6/2002     174.000     1.300.000  
        6/2001     134.000     1.000.000  
        6/2000     80.000     500.000  

    Năm 2004-2005 là năm chứng kiến tốc độ phát triển nhanh của Internet - viễn thông Việt Nam. Sau 12 tháng, số thuê bao Internet tăng 2,38 lần, số người dùng Internet tăng 1,6 lần, nâng tỷ lệ người dùng Internet Việt Nam lên 9,1%, cao hơn tỷ lệ trung bình của châu Á (8,4%), tuy nhiên vẫn còn thấp hơn tỷ lệ sử dụng Internet trung bình của thế giới (13,9%). Báo cáo “Toàn cảnh CNTT 2004” đã nhận định Việt Nam sẽ nhanh chóng đạt được mức độ phát triển Internet của châu Á, điều này đến nay đã thành hiện thực. Với tốc độ phát triển hiện nay, hy vọng Việt Nam sẽ đạt mức trung bình của thế giới sau 6 tháng nữa. Tuy nhiên để đạt được mức trên 50% dân số sử dụng Internet như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông là một việc không dễ dàng.

    Vị trí độc tôn trong lĩnh vực dịch vụ Internet của VNPT đã bị chia xẻ khá nhiều, giảm hơn 10% sau 12 tháng, trong thời gian này FPT tăng thêm 7%, Viettel sau 12 tháng cũng tăng thêm 8% và từ tháng 8/2004 đã vượt qua NetNam và SaigonNet để đứng vững ở vị trí thứ 3, trong khi Netnam và SaigonNet suy giảm mạnh,
    (xem bảng 4).

      Bảng 6    
      Thời gian    

    Dung lượng (Mbps)

       
      12/2000    

    24

       
      12/2001    

    61

       
      12/2002    

    145

       
      4/2003    

    210

       
      12/2003  

     

    1.038

       
      6/2004    

    1.096

       
      12/2004    

    1.892

       
      5/2005    

    2.301

       

    Dung lượng kết nối Internet quốc tế cũng tăng nhanh - gấp hơn 2 lần - trong 12 tháng qua, từ 1096 Mbps lên 2.301 Mbps, trong đó VNPT vẫn là đầu mối kết nối chính (1.695 Mbps), thứ hai là FPT (310 Mbps), thứ 3 là Viettel (210 Mbps). Chỉ riêng dung lượng kết nối của Viettel hiện nay cũng bằng toàn bộ băng thông Internet Việt Nam cuối năm 2003, còn của FPT thì gần gấp rưỡi. VNPT cũng đang dẫn đầu về số nguời dùng Internet (48,05%), tiếp theo là FPT (29,7%), thứ 3 là Viettel (11, 02%) (xem bảng 5). Trong 12 tháng qua, một điều có thể cảm nhận khá rõ trong lĩnh vực Internet - truyền thông là bùng nổ Internet băng thông rộng và các dịch vụ đi kèm - đặc biệt là dịch vụ giải trí (game online, âm nhạc trực tuyến…). Đây cũng sẽ là điểm nổi bật của bức tranh Internet - truyền thông Việt Nam trong 12 tháng tới.

    Chính sách

    Các chính sách năm 2004-2005 tiếp tục tập trung vào kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về CNTT, giảm giá và phá bỏ dần độc quyền trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, xây dựng các chương trình, chiến lược, chính sách cho 5 năm 2006-2010. Trong 12 tháng qua, hàng loạt các Sở Bưu Chính Viễn Thông tại các tỉnh thành đã thành lập và đi vào hoạt động, Cục Ứng Dụng CNTT cũng được thành lập tháng 10/2004 thể hiện quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các hoạt động kinh tế - xã hội.

     

    BẢNG 5: NĂM NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET LỚN NHẤT VIỆT NAM, 5/2005

     
      Thứ hạng     Nhà cung cấp     Thị phần 5/2005     Thị phần 5/2004     Thị phần 5/2003  
      1     VNPT     48,05     59,3     61,7  
      2     FPT     29,70     22,6     23,5  
      3     Viettel     11,02     2,5     1,2  
      5     SPT     5,00     6,9     4,0  
      4     NetNam     4,70     7,0     7,2  

    Lê Trường Tùng

    ID: B0508_15