• Thứ Bảy, 13/08/2005 16:48 (GMT+7)

    Viễn thông Việt Nam: Giải pháp tăng cạnh tranh

    Kết quả nghiên cứu “Cạnh tranh trong ngành viễn thông VN” do VNCI thực hiện đã được công bố sáng 11/8/2005 tại TP.HCM trong hội thảo “Phát triển thị trường viễn thông VN”, do VNCI và Hội Tin Học TP.HCM tổ chức. Nghiên cứu cho thấy VNPT hiện vẫn chiếm 94% thị phần, và dường như đang là tác nhân hạn chế cạnh tranh ngành Viễn thông

    VNCI là dự án phát triển kinh tế do USAID (Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ) tài trợ nhằm tăng sức cạnh tranh cho khối doanh nghiệp tư nhân, cụ thể là doanh nghiệp vừa và nhỏ của VN. Trong nghiên cứu nói trên, VNCI cho biết chỉ tập trung vào vấn đề  làm thế nào phát triển dịch vụ viễn thông (VT) VN bởi đây là nền tảng cho những ngành nghề khác tăng doanh thu, năng suất lao động, lợi nhuận và tốc độ đổi mới.

    Mức độ sử dụng dịch vụ VT thấp vì sao?

    Ông Jay Gullish, chuyên gia của VNCI

    VNCI đã khảo sát trên 30 doanh nghiệp (DN) , 14 ngân hàng thương mại cổ phần và kết quả chung cho thấy mức độ sử dụng dịch vụ VT của DN khá thấp, kể cả DN trong lĩnh vực CNTT - VT. Chỉ những dịch vụ VT “truyền thống” như điện thoại cố định, điện thoại di động và Internet được sử dụng, trong khi dịch vụ VT hiện đại như kết nối Internet không dây (wi-fi), chuyển tiếp khung và dịch vụ gọi 1800 miễn cước người gọi rất ít được DN VN sử dụng.

    Nguyên nhân của hiện trạng này: 1. Nhà cung cấp dịch vụ VT chưa tiếp thị hiệu quả những dịch vụ hiện có đến DN. 2. Chi phí VT cao làm người dùng ngại ứng dụng (chi phí dịch vụ VT chiếm 5%/tổng chi phí với DN sản xuất và 5-10% với các ngân hàng). Nghiên cứu cho thấy nếu giá cả VT giảm 1/3  so với hiện nay, nhu cầu sử dụng dịch vụ VT sẽ tăng 25-30%.

    Gia tăng dịch vụ, hoạt động tiếp thị và giảm giá cần sự năng động từ phía các nhà cung cấp dịch vụ, cũng đồng nghĩa với việc phải gia tăng sức cạnh tranh trong thị trường này. Tuy nhiên tăng cạnh tranh cần sự cải cách rất lớn trong ngành VT mà không thể thiếu biện pháp kìm hãm sự “lớn mạnh” quá mức của VNPT (tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông) so với các nhà cung cấp dịch vụ VT khác trong nước.

    Cần giảm “lợi thế tự nhiên” của VNPT
    Báo cáo của VNCI cho biết Ngân Hàng Thế Giới ước đoán VNPT chiếm giữ 94% thị phần - trên mức mà Bộ BCVT định ra cho doanh nghiệp có thị phần khống chế. Ngoài ra, theo điều tra của VNCI, VNPT đang vướng phải 6 biểu hiện có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh Tranh (được Quốc Hội thông qua cuối năm 2004, bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2004). Đó là:

    1. Phân bổ cơ sở hạng tầng mạng không công bằng. Trường hợp Viettel là một ví dụ: Ngày 30/10/2002 Viettel gửi công văn tới VNPT để thông báo kế hoạch khai trương mạng VoIP tại 21 tỉnh và đề nghị tăng dung lượng kết nối cho 17 tỉnh trong năm 2003 nhưng VNPT sau đó chỉ đồng ý cho Viettel khai trương mạng ở 8 tỉnh. Trong khi đó, nhiều dấu hiệu cho thấy VNPT có đủ năng lực mạng cho hoạt động của chính mình và không chia sẻ dung lượng cho DN khác.

    2. Giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng mạng cao. Chẳng hạn các công ty ngoài VNPT phải thuê đường truyền quốc tế từ VTI, một công ty con của VNPT với giá cao gấp 4 lần mức VTI thuê kênh từ công ty nước ngoài.

    3. Bù chéo (lấy lợi nhuận cao thu được từ dịch vụ này cung cấp cho dịch vụ khác). Ví dụ là các công ty Internet và di động của VNPT thiếu hệ thống kế toán chi phí và không trả VNPT phí kết nối.

    4. Từ chối dịch vụ. Cụ thể VNPT đã từng từ chối cung cấp dịch vụ gia tăng giá trị, số điện thoại miễn phí (dịch vụ 1800) và dịch vụ điện thoại trả tiền (dịch vụ 900) với các thuê bao của Viettel.

    5. Bắt buộc sử dụng dịch vụ của VNPT. Netsoft, một công ty thuộc Bưu Điện TP.HCM đã có quy định trong hợp đồng mẫu với các đại lý là “từ 1/3/2002, các đại lý của Netsoft phải cam kết bán thẻ Internet VNN trả trước (ví dụ VNN 1260 - P, Fone VNN...) và cam kết doanh số tối thiểu là 400.000 đồng/tháng, nếu không dịch vụ ADSL của đại lý này sẽ bị cắt). Nhiều đại lý cho rằng quyết định này không công bằng. Đặc biệt khi phí hoa hồng của Netsoft chỉ khoảng 6-8%, thấp hơn mức hoa hồng 15-25% mà các ISP (nhà cung cấp dịch vụ Internet) khác đưa ra.

    6. Lạm dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn cản dịch vụ của đối thủ do đã có phàn nàn về việc các đơn vị địa phương của VNPT đã sử dụng các biện pháp lỹ thuật để chuyển lưu lượng VoIP về mạng của VNPT để chặn các cuộc gọi VoIP của nhà cung cấp khác.

    Từ những điền tra này VNCI cho rằng cần xem xét lại vị trí của VNPT khi đánh giá môi trường cạnh tranh VT.

    Không có đại diện chính thức của Bộ Bưu Chính Viễn Thông tại hội thảo để cùng tranh luận với đại diện của VNCI về những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên Cứu của Thủ

    Bà Phạm Chi Lan
    Tướng Chính Phủ tại hội thảo đã cho biết: “VNPT đã có vị thế rất đặc biệt thời gian qua. Đây là thực tế chung khi phát triển ngành VT vì ở các nước, phát triển VT thời kỳ đầu đều giữ thế độc quyền. Sau đó mới mở cửa dần. Ngành VT nước ta đi sau thì không thể duy trì thời gian độc quyền quá dài như các nước khác nhưng cũng sẽ mở cửa dần chứ không hoàn toàn do ngành VT có đặc thù riêng là liên quan đến an ninh.  Bước mở hợp lý của nước ta là những DN tiếp theo tham gia kinh doanh dịch vụ VT cũng là doanh nghiệp Nhà Nước. Việc cần làm hiện nay là giảm thị phần VNPT tương đối để các DN khác cùng vươn lên tạo sự cạnh tranh trong nước. Các biện pháp khả dĩ hiện nay cần thực hiện: tách đường trục thành một trung tâm riêng, mở rộng vùng kinh doanh cho các DN khác qua việc giảm các loại giấy phép khi cung cấp dịch vụ VT, tạo điều kiện cho DN VT tiếp cận các nguồn tài chính...".

    Ngọc Khánh

    ID: O0508_1