• Thứ Năm, 01/09/2005 14:51 (GMT+7)

    Dịch vụ viễn thông - Làm sao cạnh tranh

    Theo kết quả nghiên cứu "Cạnh tranh trong ngành viễn thông VN" do VNCI thực hiện, VNPT hiện chiếm 94% thị phần và dường như đang là tác nhân hạn chế cạnh tranh.

    Kết quả nghiên cứu “Cạnh tranh trong ngành viễn thông VN” do VNCI thực hiện đã được công bố ngày 11/8/2005 tại TP.HCM trong hội thảo “Phát triển thị trường viễn thông VN”, do VNCI và Hội Tin Học TP.HCM tổ chức. Theo đó VNPT hiện vẫn chiếm 94% thị phần, và dường như đang là tác nhân hạn chế cạnh tranh.

    VNCI là dự án phát triển kinh tế do USAID (Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ) tài trợ nhằm tăng sức cạnh tranh cho khối DN tư nhân, cụ thể là DN vừa và nhỏ của VN. Trong nghiên cứu nói trên, VNCI cho biết chỉ tập trung vào vấn đề làm thế nào phát triển dịch vụ viễn thông (DVVT) VN bởi đây là nền tảng cho những ngành nghề khác tăng doanh thu, năng suất lao động, lợi nhuận và tốc độ đổi mới.

    Mức độ sử dụng dvVT thấp vì sao?

    VNCI đã khảo sát trên 30 doanh nghiệp (DN), 14 ngân hàng thương mại cổ phần và kết quả chung cho thấy mức độ sử dụng DVVT của DN khá thấp, kể cả DN trong lĩnh vực CNTT - VT. Chỉ những DVVT “truyền thống” như điện thoại cố định, điện thoại di động và Internet được sử dụng, trong khi DVVT hiện đại như kết nối Internet không dây, chuyển tiếp khung và d/v gọi 1800 miễn cước người gọi rất ít được DN VN sử dụng.

    Nguyên nhân

    1. Nhà cung cấp DVVT chưa tiếp thị hiệu quả những d/v hiện có đến từng DN.

    2. Chi phí VT cao làm người dùng ngại ứng dụng (chi phí DVVT chiếm 5%/tổng chi phí với DN sản xuất và 5-10% với các ngân hàng). Nghiên cứu cho thấy nếu giá cả VT giảm 1/3 so với hiện nay, nhu cầu sử dụng DVVT sẽ tăng 25-30%.

    Gia tăng DV, hoạt động tiếp thị và giảm giá cần sự năng động từ phía các nhà cung cấp DV, cũng đồng nghĩa với việc phải gia tăng sức cạnh tranh trong thị trường này. Tuy nhiên tăng cạnh tranh cần sự cải cách rất lớn trong ngành VT mà không thể thiếu biện pháp kìm hãm sự “lớn mạnh” quá mức của VNPT (tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông) so với các nhà cung cấp DVVT khác trong nước.

    Cần giảm “lợi thế tự nhiên” của VNPT

    Báo cáo của VNCI cho biết Ngân Hàng Thế Giới ước đoán VNPT chiếm giữ 94% thị phần - trên mức mà Bộ BCVT định ra cho doanh nghiệp (DN) có thị phần khống chế. Ngoài ra, theo điều tra của VNCI, VNPT vướng phải 6 biểu hiện có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh Tranh (được Quốc Hội thông qua cuối năm 2004, bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2004). Đó là:

    1. Phân bổ cơ sở hạ tầng mạng không công bằng. VNPT có vị thế đặc biệt là nắm giữ hầu hết mạng lưới VT trong nước. Do vậy, các nhà khai thác đối thủ phải kết nối với VNPT để cung cấp DV viễn thông đường dài, DV truy cập nội hạt...nhưng VNPT thường lấy lý do năng lực mạng hạn chế để từ chối kết nối hoặc chỉ đáp ứng một phần. Trường hợp Viettel là một ví dụ: Ngày 30/10/2002 Viettel gửi công văn tới VNPT thông báo kế hoạch khai trương mạng VoIP tại 21 tỉnh và đề nghị tăng dung lượng kết nối cho 17 tỉnh trong năm 2003 nhưng VNPT sau đó chỉ đồng ý cho Viettel khai trương mạng ở 8 tỉnh. Trong khi đó, nhiều dấu hiệu cho thấy VNPT có đủ năng lực mạng cho hoạt động mà không chịu chia sẻ dung lượng cho DN khác.

    2. Giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng mạng cao. Chẳng hạn các công ty ngoài VNPT phải thuê đường truyền quốc tế từ VTI, một công ty con của VNPT với giá cao gấp 4 lần mức VTI thuê kênh từ công ty nước ngoài.

    3. Bù chéo (lấy lợi nhuận cao thu được từ DV này cung cấp cho DV khác). Ví dụ các công ty Internet và di động của VNPT thiếu hệ thống kế toán chi phí và không trả VNPT phí kết nối.

    4. Từ chối DV. Cụ thể VNPT đã từng từ chối cung cấp DV gia tăng giá trị, số điện thoại miễn phí (DV 1800) và DV điện thoại trả tiền (DV 900) với các thuê bao của Viettel.

    5. Bắt buộc sử dụng DV của VNPT. Netsoft, một công ty thuộc Bưu Điện TP.HCM đã có quy định trong hợp đồng mẫu với các đại lý là “từ 1/3/2002, các đại lý của Netsoft phải cam kết bán thẻ Internet VNN trả trước (ví dụ VNN 1260 - P, Fone VNN...) và cam kết doanh số tối thiểu là 400.000 đồng/tháng, nếu không DV ADSL của đại lý này sẽ bị cắt”. Nhiều đại lý cho rằng quyết định này không công bằng. Đặc biệt khi phí hoa hồng của Netsoft chỉ khoảng 6-8%, thấp hơn mức hoa hồng 15-25% mà các ISP (nhà cung cấp DV Internet) khác đưa ra.

    6. Lạm dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn cản DV của đối thủ. Đã có phàn nàn về việc các đơn vị địa phương của VNPT đã sử dụng các biện pháp kỹ thuật chuyển lưu lượng VoIP về mạng của VNPT để chặn các cuộc gọi VoIP của các nhà cung cấp khác.
    Từ những điền tra này VNCI cho rằng cần xem xét lại vị trí của VNPT khi đánh giá môi trường cạnh tranh VT và đề xuất lộ trình thay đổi tình trạng hiện tại, trong đó có biện pháp cải tổ VNPT như: Hạch tóan riêng giữa các họat động kinh doanh, bán cổ phần sở hữu...

     

    Giảm thị phần của VNPT đề tăng cạnh tranh
    Trả lời phỏng vấn báo chí tại hội thảo, bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên Cứu của Thủ Tướng Chính Phủ cho biết: “VNPT đã có vị thế rất đặc biệt thời gian qua. Đây là thực tế chung khi phát triển ngành VT vì ở các nước, phát triển VT thời kỳ đầu đều giữ thế độc quyền. Sau đó mở cửa dần. Ngành VT nước ta đi sau nên không thể duy trì thời gian độc quyền quá dài như các nước khác, nhưng cũng sẽ mở cửa dần chứ không hoàn toàn do ngành VT có đặc thù riêng liên quan đến an ninh. Bước mở hợp lý của nước ta là hiện những DN tham gia kinh doanh DVVT ngoài VNPT cũng là DN nhà nước. Việc cần làm hiện nay là giảm thị phần VNPT tương đối để các DN khác cùng vươn lên tạo sự cạnh tranh trong nước. Các biện pháp khả dĩ cần thực hiện: tách đường trục thành một trung tâm riêng, mở rộng vùng kinh doanh cho các DN khác qua việc giảm các loại giấy phép khi cung cấp DVVT, tạo điều kiện cho DN VT tiếp cận các nguồn tài chính...”.

    Ý kiến người dùng: Cần tận dụng lợi thế công nghệ
    Ông Phan Thanh Sơn, giám đốc kỹ thuật – công nghệ, công ty TNHH Cisco Systems Việt Nam.
    Công ty TNHH Cisco Systems Việt Nam tuy chỉ có khoảng hơn 20 nhân viên làm việc tại hai văn phòng ở Hà nội và TP. HCM nhưng có mật độ sử dụng DVVT rất cao. Tại Việt Nam, chúng tôi thuê 2 kênh riêng leaded lines 512Kbps, 2 đường ADSL ở hai văn phòng, hơn 10 đường ADSL tại nhà cho nhân viên và 4 đường ISDN (mạng tích hợp đa DV)...
    Nhờ ứng dụng CNTT-VT-Internet triệt để trên toàn cầu, trong năm 2003 Cisco Systems đã tiết kiệm được 2.1 tỷ USD (tương đương khoảng 10% doanh thu năm 2003) bao gồm 920 triệu USD trong hỗ trợ khách hàng, 800 triệu USD trong tối ưu hoá lực lượng lao động, 270 triệu USD trong quản lý hệ thống cung cấp và 140 triệu trong đào tạo – huấn luyện.
    Để DVVT hiệu quả hơn nữa cho DN tại VN, theo tôi, bên cạnh phát triển DV mới, nhà cung cấp DVVT nên xem lại các DV đang được cung cấp hay đã từng được cung cấp để bổ sung hoàn chỉnh. Đơn cử như WiFi hotspot triển khai từ dịp Seagames. Tuy DV hiện có tại sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất nhưng chúng ta lại thiếu bảng thông báo về DV. Đồng thời, khách đến sân bay nếu có truy xuất DV sẽ được yêu cầu nạp thẻ trả trước, trong khi thẻ lại không bán trong khu vực sảnh đợi của sân bay!
    Như vậy chỉ cần chuẩn bị tốt hệ thống, huấn luyện nhân viên tiếp thị – bán hàng, quy trình hỗ trợ kỹ thuật, chương trình tiếp thị – quảng bá DV, một số DVVT đã có sẽ đến gần hơn với DN và được chấp nhận trên thị trường.
    Ngoài ra, ngành VT với lợi thế công nghệ nên nhanh nhạy phối hợp với các ngành khác để tạo cơ hội kinh doanh mới, chẳng hạn có thể kết hợp với du lịch để tạo nên DV du lịch - hội thảo...

     

    Ngọc Khánh

    ID: B0509_18