• Thứ Năm, 03/11/2005 11:02 (GMT+7)

    Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Liên kết phát triển

    Hình ảnh nổi bật ngay trong ngày khai mạc Hội Thảo Quốc Gia về CNTT-TT lần III (09/09/2005) tại Hải Phòng là 8 nhà lãnh đạo đại diện cho các tỉnh, thành phố Hà Nội. Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) ký văn bản ghi nhớ hợp tác xây dựng mạng thông tin liên kết vùng. Đây được coi là một giải pháp đột phá.

    Hình ảnh nổi bật ngay trong ngày khai mạc Hội Thảo Quốc Gia về CNTT- TT lần III (09/09/2005) tại Hải Phòng là 8 nhà lãnh đạo đại diện cho các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) ký văn bản ghi nhớ hợp tác xây dựng mạng thông tin liên kết vùng. Đây được coi là một giải pháp đột phá.

    Liên kết vùng đòi hỏi ứng dụng CNTT-TT

    Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đặt ra yêu cầu Hà Nội và các tỉnh trong vùng liên kết, hợp tác nhằm tận dụng thế mạnh của từng tỉnh, thành và cả vùng. Nhiều thỏa thuận, cam kết hợp tác vùng KTTĐBB đã được ký kết và từng bước thực hiện. Tuy nhiên chưa có liên kết, hợp tác thật sự nào để đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT trong thời gian qua. Mỗi địa phương trong vùng đều cố gắng triển khai chương trình, dự án đầu tư hạ tầng CNTT phục vụ quản lý, điều hành của địa phương mình nhưng chưa có một mạng thông tin chung nào có khả năng cung ứng thông tin đa chiều cho toàn vùng. Vì thế dẫn đến chồng chéo, không đồng đều và lãng phí.

    Giải pháp đề xuất giải quyết thực trạng trên với tên gọi: “ Mạng thông tin liên kết vùng KTTĐBB” đã ra đời. Mạng này dự kiến là một Intranet với hệ thống máy chủ đủ mạnh, đường truyền tốc độ cao được an toàn, bảo mật tốt, môi trường ứng dụng đa dạng phong phú theo chuẩn chung, đáp ứng nhu cầu của cả vùng và yêu cầu đặc thù của từng địa phương trong vùng.

    TS Phạm Vũ Câu – giám đốc Sở Kế Hoạch và Đầu Tư, chủ tịch Hội Điện Tử - Tin Học Hải Phòng cho biết: “Mạng thông tin liên kết được xây dựng trên mô hình cổng thông tin (Portal) với công nghệ hiện đại. Cơ sở dữ liệu được tổ chức theo mô hình phân tán, có liên kết trên một giao thức thống nhất. Mỗi địa phương có thể xây dựng hệ thống thông tin riêng nhưng những hệ thống này có thể kết nối, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau. Thông tin kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố trong vùng sẽ được quy hoạch lại cho đồng bộ theo một khung công nghệ và chuẩn thông tin có thể tích hợp.”

    Quyết tâm của Hà Nội và các tỉnh

     
     

     

    Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm: “Ứng dụng phát triển CNTT -TT phục vụ hợp tác, liên kết phát triển kinh tế xã hội trong các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) là vấn đề mới. Cần chú ý rằng hợp tác giữa nhiều tỉnh và

     

     

     

    thành phố trong một chương trình chung là không đơn giản. Việc hợp tác phải tận dụng phát huy thế mạnh của các tỉnh, thành phố tạo nên sức mạnh tổng hợp, tránh hình thức lãng phí, bỏ dở giữa chừng. Trong quá trình hợp tác cần phát hiện kịp thời các mô hình hay, các điển hình tốt để nhân rộng ra phạm vi cả nước”.

     

    Ông Vũ Văn Ninh – phó chủ tịch thường trực UBND TP Hà Nội tại hội thảo đã nhấn mạnh: “TP Hà Nội sẵn sàng tham gia, ủng hộ sáng kiến của các tỉnh trong vùng KTTĐBB nhằm đẩy mạnh hợp tác phát triển, xây dựng một liên kết vùng về CNTT-TT, thúc đẩy mạnh mẽ và nhanh chóng ứng dụng CNTT-TT trong toàn vùng tạo bước đột phá kinh tế- xã hội của vùng, và cả nước”. Hà Nội cam kết sẽ chủ trì xây dựng mạng nói trên và cổng thông tin điện tử cho doanh nghiệp; chia sẻ kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ xây dựng chính phủ điện tử; đào tạo nhân lực chất lượng cao cho toàn vùng; hợp tác đa phương và song phương trong ứng dụng CNTT tùy thuộc vào năng lực và tình hình thực tế của từng tỉnh. TS Phạm Vũ Câu cho biết TP. Hải Phòng và các tỉnh vùng KTTĐBB trong phạm vi và khả năng của mình sẽ tích cực hợp tác. TP. Hải Phòng sẽ tạo điều kiện hỗ trợ và đầu tư cho một số lĩnh vực có mối quan hệ và tác động chung cho các địa phương trong vùng như hải quan điện tử, tin học hóa quản lý cảng và phát triển kinh tế biển, phát triển TMĐT…

    Để có được đề án khả thi và tổ chức thực hiện đề án mạng liên kết vùng, ông Vũ Văn Ninh đề nghị lãnh đạo các địa phương phân công Sở BCVT làm đầu mối hợp tác; thành lập ban chỉ đạo CNTT của vùng và xây dựng quy chế chung để điều phối các hoạt động liên kết về CNTT; định kỳ hàng năm gặp gỡ luân phiên ở cấp lãnh đạo tỉnh để kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

    Để đề án vượt ra khỏi bản ghi nhớ trở thành hiện thực, ngoài nỗ lực của lãnh đạo 8 tỉnh, thành phố cần có sự tham gia của Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT và sự hỗ trợ của Bộ BCVT. Các mối liên kết tổ chức - thực hiện này cũng quan trọng không kém sự liên kết vùng. Có như vậy, mạng liên kết vùng KTTĐBB mới hy vọng thành công như mong đợi, tạo tiền đề cho các vùng kinh tế trọng điểm khác cùng hợp tác phát triển.

     

    KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI CÔNG NGHỆ MẠNG TRUY NHẬP BĂNG RỘNG TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ CỦA VNPT

     
     

    a. Triển khai mạng băng rộng xDSL:
    Đến cuối 2005 dịch vụ ADSL2+ tại địa bàn 3 tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hà Tây sẽ cung cấp dịch vụ băng rộng cho khách hàng; đối với 5 tỉnh, thành còn lại sẽ được trang bị các thiết bị mới để đảm bảo cung cấp được ADSL2+.
    b. Triển khai mạng MAN
    Trong giai đoạn 2006-2008, VNPT đã có kế hoạch triển khai mạng MAN tại các địa bàn Hà Nội và Hải Phòng có khả năng cung cấp các cổng với giao tiếp 10Mbps, 100 Mbps và 1000 Mbps cho khách hàng và cũng là mạng IP dùng để tập trung lưu lượng của mạng xDSL.
    c. Mạng không dây băng rộng
    Đồng thời với các kế hoạch triển khai mạng có dây băng rộng (wireline), VNPT cũng đã có kế hoạch triển khai mạng không dây băng rộng (Wireless) tại những nơi mạng cáp không có hoặc không thể kéo cáp tới nơi.
    d. Mạng di động
    Kế hoạch chuyển đổi lên mạng NGN mobile vào năm 2007 dựa trên phiên bản 3GPP R.5 ( tách lớp điều khiển và chuyển tải, mạng lõi all IP, phân hệ IMS).

     

    Thanh Nam

    ID: B0510_14