• Thứ Hai, 09/01/2006 08:28 (GMT+7)

    Gia nhập WTO: Tôn trọng bản quyền

    Theo ông Christophe Desriac - tổng giám đốc Microsoft VN, nếu trong năm 2006 VN sẽ gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) thì đó là điều đáng mừng cho nhiều công ty đa quốc gia, trong đó có Microsoft. Khi đó, chiến lược đầu tư của Microsoft tại thị trường VN vẫn không thay đổi và Microsoft vẫn tích cực hợp tác với Bộ BCVT, Bộ GD-ĐT và Phòng Thương Mại & Công Nghiệp VN (VCCI). Việc Quốc hội VN thông qua Luật Sở Hữu Trí Tuệ là một mốc quan trọng. Vấn đề là làm thế nào để thực thi các điều khoản của Luật này.

    Vậy ai sẽ là đối tượng chính phải tôn trọng bản quyền phần mềm (PM)? Thực tế đã cho thấy trước hết chính là các doanh nghiệp (DN) kinh doanh máy tính. Ông Nguyễn Phước Hải – giám đốc công ty Máy Tính CMS thì cho rằng dù họ biết như vậy là đang phạm luật, nhưng thực tế việc vi phạm này được coi là "chiêu thức cạnh tranh" giữa các DN bởi sản phẩm bán ra sẽ có giá cả cạnh tranh hơn. Vậy còn đối tượng nào nữa? Còn nhớ nhà tài trợ chính cho giải vô địch bóng đá quốc gia V-League 2004 khi bị kiểm tra đã phải chi ra ngay 2 tỷ đồng cho 100 máy tính của họ. Điều có thể thấy trước là DN có ảnh hưởng lớn trên thị trường trong nước và quốc tế chắc chắn phải là đối tượng của các vụ kiện về PM trong thời gian tới.

     

    Doanh nghiệp thắc mắc về Luật Sở Hữu Trí Tuệ tại hội thảo "Quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số", do Cục Bản Quyền Tác Giả Văn Học - Nghệ Thuật phối hợp cùng Viện Sở Hữu Trí Tuệ Thụy Sĩ tổ chức ngày 9/12/2005 tại TP.HCM

    Theo một quan chức của Bộ VHTT, quá trình thương lượng gia nhập WTO của VN đang được Microsoft sử dụng để gây sức ép buộc Chính Phủ phải sử dụng PM có bản quyền. Nếu chỉ tính riêng hệ điều hành Windows và bộ Microsoft Office thì họ có thể đòi tới khoảng 1 tỷ USD. TS Nguyễn Sĩ Dũng - phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội từng ví hệ điều hành Windows như một con gà đẻ trứng vàng cho nước Mỹ và theo ông, đó cũng chính là lý do để Mỹ đặt ra vấn đề phải sử dụng PM có bản quyền. Dẫu sao thì việc thực thi bản quyền PM cũng có tác động tích cực đến sự phát triển của nền công nghiệp PM VN như ông Christophe Desriac đã nói. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mục tiêu 500 triệu USD của công nghiệp PM VN vào năm 2005 đã được thừa nhận là không thể hoàn thành khi mới đi được nửa chặng đường.

    Liên quan đến CNTT còn có cả bản quyền nội dung số và trong dự thảo Luật CNTT vừa được Bộ BCVT trình Quốc Hội thì cần có sự tách biệt rõ ràng. Bản quyền PM thuộc về nhà sản xuất, phát triển PM; nhưng bản quyền nội dung thì phải thuộc về người đã xây dựng và phát triển những nội dung đó. Đây là điều phải làm rõ với các sản phẩm về từ điển điện tử, PM dạy học, website nhạc số... Như vậy, không chỉ có việc "Chính Phủ cần là khách hàng gương mẫu trong việc sử dụng PM" như mong muốn của một cựu quan chức Hội Tin Học VN mà có lẽ chính các DN PM cũng cần phải gương mẫu khi sử dụng các nội dung số trong sản phẩm của mình.

    Thông qua kỹ thuật số, hoạt động sao chép, cung cấp, mua bán nội dung số đã hết sức phát triển. Vấn đề bản quyền trong môi trường này đã được đặt ra với cả sản phẩm văn hóa dân gian vì nhiều website đã cho phép người sử dụng sao chép các bức tranh dân gian VN với giá 2 USD/bức nhưng dường như không ai kiện cả, trong khi vốn cổ dân gian rất cần có kinh phí để bảo tồn, tôn tạo. Một thực tế khác là hầu hết các báo điện tử tại VN đều sử dụng lại thông tin của nhiều báo khác. Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng điều quan trọng nhất là xác minh xem thông tin đó lần đầu tiên xuất hiện ở đâu và sự lan tỏa có được như vậy cũng là thành công phải ghi nhận. Ông Mai Linh – giám đốc Trung Tâm Tin Học Bộ VHTT cho rằng Luật Sở Hữu Trí Tuệ phải đi liền với công nghệ, với thanh toán điện tử, với ý thức và đạo đức công dân để tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận, mua bán, trao đổi qua môi trường kỹ thuật số.

     

    Kế hoạch "Phát triển tổng thể thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010" đã chính thức được phê duyệt theo Quyết Định 222/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ. Theo đó, 4 mục tiêu lớn cho phát triển thương mại điện tử (TMĐT) đến năm 2010 phải đạt được là: 60% DN lớn bao gồm các tập đoàn kinh tế, hệ thống các tổng công ty... ứng dụng TMĐT, chủ yếu theo hình thức giao dịch B2B (giữa DN với DN); 80% các DN nhỏ và vừa ứng dụng TMĐT theo hai hình thức B2B và B2C (DN với khách hàng); 10% số hộ gia đình tham gia các loại hình TMĐT mua bán lẻ như B2C và C2C (khách hàng với khách hàng); mục tiêu thứ 4 là đưa các loại hình dịch vụ công như khai báo hải quan, thuế, hạn ngạch... vào giao dịch điện tử. Cả 4 mục tiêu trên, không thật sự cao so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Brunei, Malaysia... nhưng để vượt qua mức này, cần có sự nỗ lực rất cao của Chính Phủ và doanh nghiệp.

     

    Tân Khoa

    ID: B0601_8