• Thứ Hai, 23/01/2006 13:15 (GMT+7)

    Sở KHCN TP.HCM thành công với "tam giác liên kết"

    Thành công lớn nhất của Sở KHCN TP.HCM trong năm 2005 là bước đầu gắn kết khoa học với các cơ quan quản lý, doanh nghiệp; tạo nên “tam giác” liên kết vững chắc của thị trường công nghệ.

    Nỗ lực đưa KHCN vào ứng dụng

    Đó là một trong những mặt đạt được của Sở KHCN TP.HCM năm

    Giám đốc Sở KHCN TP.HCM Đào Văn Lượng
    2005. Tại lễ “Tổng kết hoạt động KHCN năm 2005 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2006” ngày 20/1/2006, giám đốc Sở KHCN Đào Văn Lượng cho biết thêm: “Việc phát triển thị trường KHCN và chuyển giao công nghệ ngày càng được Sở chú trọng thông qua các hoạt động: đưa sản phẩm KHCN của ngành cơ khí chế tạo máy ở TP.HCM tham dự hội chợ triển lãm Thiết Bị Quốc Tế (Intermarch 2005) tại Thái Lan và Indonesia; tổ chức chợ thiết bị - công nghệ, chuyển giao công nghệ... là các hoạt động có tính đột phát để phát huy vai trò KHCN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố”.

    Chợ KHCN và thiết bị là hoạt động đặc trưng của Sở trong nỗ lực gắn kết thị trường với các nhà nghiên cứu, sản xuất. Trong năm 2005, Sở đã tổ chức 6 kỳ chợ thiết bị - công nghệ; chợ tư vấn KHCN và quản lý; chợ Phần Mềm tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Định, Nghệ An và Lâm Đồng; ký kết trên 1000 hợp đồng, bản ghi nhớ với tổng giá trị khỏang 1700 tỷ đồng. Thị trường KHCN trên mạng do Sở xây dựng (http://techmart.cesti.gov.vn) đến nay chào bán hơn 3000 thiết bị công nghệ và sản phẩm phần mềm trong và ngoài nước, trên 1800 đơn vị tìm mua, gần 1500 giao dịch mua – bán được kết nối.

    Ngoài ra, thực hiện chương trình hành động của TP.HCM: “Hỗ trợ doanh nghiệp (DN) hiện đại hóa với chi phí thấp, nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia hội nhập quốc tế", trong năm qua Sở đã hỗ trợ 202 DN xây dựng 225 tiêu chuẩn cơ sở, bồi dưỡng nâng cao nhận thức quản lý cho 10 DN theo các tiêu chuẩn quốc tế (ISO, HACCP), hỗ trợ DN thiết kế, đăng ký và bảo hộ sở hữu trí tuệ 1000 nhãn hiệu hàng hóa, tổ chức 5 khóa “Kỹ năng khai thác thông tin trên Internet” cho 92 học viên. Được sự hỗ trợ, các thiết bị có công nghệ tiên tiến được DN sản xuất với chi phí chỉ bằng 35-70% giá nhập khẩu, tiết kiệm khoảng 250 tỷ đồng và tham gia xuất khẩu khoảng 2 triệu USD.

    Thực hiện chương trình “sản phẩm công nghiệp chủ lực” phối hợp cùng thường trực ban chỉ đạo chương trình và Viện Kinh Tế TP.HCM, Sở cũng góp phần hỗ trợ thực hiện 8 dự án triển khai ứng dụng KHCN vào sản xuất cho 5 DN.

    Các đơn vị trực thuộc Sở nhận được bằng khen của UBND TP.HCM về kết quả hoạt động năm 2005

    Với vai trò nhà nghiên cứu, trong 2005, Sở đã xây dựng chiến lược phát triển tự động hóa của TP.HCM: nghiên cứu định hướng phát triển nhanh quá trình tự động hóa sản xuất và robot công nghiệp. Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại TP.HCM.

    Năm 2006: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố

    Trong kế hoạch hoạt động KHCN TP.HCM 2006, Sở KHCN đưa ra 10 nhiệm vụ chính nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng trí tuệ KHCN, đó là:

    1. Tập trung đầu tư có trọng điểm vào 4 ngành mũi nhọn: CNTT (chú trọng phát triển các hệ thống tin học thế hệ mới, mã nguồn mở, công nghệ phần mềm nhúng...), công nghệ sinh học, vật liệu và cơ khí - tự động hóa; hướng vào mục tiêu tạo ra sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP.HCM theo hướng có giá trị gia tăng cao.

    2. Mở rộng các chương trình sản xuất thiết bị với chi phí thấp, sản phẩm công nghệp chủ lực, đặc biệt là thiết kế chế tạo robot công nghiệp

    3. Tìm giải pháp đưa nhanh sản phẩm KHCN vào đời sống như phát triển thị trường tư vấn, hình thành dự án trung tâm mua bán chuyển nhượng bằng sáng chế...

    4. Đẩy mạnh chương trình nguồn lực như đánh giá nhu cầu đào tạo trong các khu công nghệ cao, khu công nghiệp để đề xuất giải pháp, hỗ trợ dự án đào tạo ĐH có trình độ quốc tế, phối hợp với ĐH Kinh Tế TP.HCM mở rộng chương trình đào tạo và bồi dưỡng 1000 giám đốc DN và theo nhu cầu DN.

    5. Tiếp tục đổi mới cơ chế, nâng cao năng lực quản lý KHCN. Trong đó, sẽ xây dựng mạng lưới KHCN tại các quận huyện: đề nghị mỗi quận huyện có 1- 2 biên chế quản lý KHCN.

    6. Cải tiến “cơ chế liên kết tam giác”

    7. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

    8. Tăng cường nguồn lực thông tin KHCN, củng cố mạng thông tin KHCN.

    9. Thực hiện tốt hoạt động sở hữu trí tuệ, quản lý công nghệ và an toàn bức xạ, tiêu chuẩn đo lượng chất lượng.

    10. Nâng cấp các đơn vị trực thuộc: Trung Tâm Thông Tin KHCN TP.HCM thành Trung tâm Thông Tin KHCN phía Nam, hoàn thành dự án và xây dựng Viện Nghiên Cứu Công Nghệ Tính Toán...

    Năm 2005, kinh phí ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ của Sở là 35,5 triệu đồng, dự kiến năm 2006 sẽ là 42 triệu đồng.

    Huyền Sa

    ID: O0601_1